Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

PHÓ BẢNG NGUYỄN SINH SẮC CÓ PHẢI LÀ CON RƠI CỦA CỬ NHÂN HỒ SĨ TẠO?

Posted by Trần Xuân An on 25.02.2016

hidden hit counter

 
.
.
PHÓ BẢNG NGUYỄN SINH SẮC CÓ PHẢI LÀ CON RƠI CỦA CỬ NHÂN HỒ SĨ TẠO?

CHUYỆN THÂN PHỤ CỦA NHÂN VẬT LỊCH SỬ HỒ CHÍ MINH (CỤ NGUYỄN SINH SẮC) CÓ PHẢI LÀ CON RƠI CỦA ÔNG HỒ SĨ TẠO HAY KHÔNG, KHÔNG QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI LỊCH SỬ NƯỚC TA, NHƯNG LẠI TẠO RA NHỮNG BÀN LUẬN CỦA HẬU THẾ RẤT KÌ LẠ, THẬM CHÍ BIA ĐÁ CỦA HỌ HỒ LÀNG QUỲNH ĐÔI LẠI KHẮC TÊN TUỔI HỒ CHÍ MINH VÀO DANH SÁCH HẬU DUỆ. ĐÓ CHỈ LÀ CHUYỆN SUY DIỄN, THẾ MÀ CŨNG TRỞ THÀNH CHÍNH DANH KIỂU ẤY, THÌ THẬT LÀ ĐÁNG NGỜ…

TÔI XIN MẠN PHÉP ĐĂNG LẠI HAI TƯ LIỆU DƯỚI ĐÂY VÀ CÓ NHÂN XÉT CỦA RIÊNG CÁ NHÂN TÔI VỀ HAI TƯ LIỆU ĐÓ Ở PHẦN CUỐI (PHẦN 3).

Đây là bìa cuốn tiểu thuyết “Búp sen xanh”, ấn bản 1984 (tái bản), tôi mua vào năm đó — T.X.A.

1
Tư liệu 1:
NHÂN VẬT HỒ SĨ TẠO TRONG 5 TRÍCH ĐOẠN TỪ “BÚP SEN XANH”,
TIỂU THUYẾT VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ, CỦA SƠN TÙNG (*)

1) “Hà Thị Hy là con gái một nghệ nhân nổi tiếng về ngón đàn đáy, đàn bầu. Nhà giàu có, thuộc loại nhiều ruộng nhất của làng Sài. Ông ham học chữ “thánh hiền”, nhưng không màng chuyện thi cử. Trong nhà luôn luôn nuôi thầy dạy học. Năm ông đã hai thứ tóc còn nuôi cử nhân Hồ Sĩ Tạo dạy cho các con cháu và ông học thêm. Ông còn nhóm lên trong nhà mình một “phường hát ả đào”. “Phường hát ả đào” của ông chỉ để làm vui trong gia đình, trong họ hàng và những bà con có đám cưới, đám ăn mừng thượng thọ”.

2) “Khi ông Nguyễn Sinh Nhậm từ làng Sen đánh liều sang xin ăn hỏi cô Đèn, trai làng Sài họp lại bàn luận… Họ xót xa cho cô Đèn: Một người con gái tài hoa, nhan sắc nhất làng mà phải chịu cái “án treo” quá lứa, lỡ duyên, nay phải đi làm vợ kế của một người làng khác! Chúng ta không nên ngăn cản nữa. Đọ gươm khi còn trên yên, đừng chém theo lúc người đã ngã ngựa!

Trai làng Sài đã dựng một cổng chào ở đầu làng trên con đường đi sang làng Sen. Họ còn nhờ cử nhân Hồ Sĩ Tạo làm cho một bài văn chúc. Lúc đám rước dâu tới cổng chào, trai làng Sài bận quần trắng, áo dài, đội khăn, đứng thành hai hàng. Một người có giọng bình văn hay bước ra đọc bài chúc. Họ nhà trai đã đáp lễ mười quan tiền đồng, một vò rượu tăm và một cái thủ lợn.

Cô Hy về làm bạn với ông Nguyễn Sinh Nhậm được ít lâu thì năm Quý Hợi (1863) sinh con trai. Ông Nhậm đặt tên cho con là Nguyễn Sinh Sắc. Cuộc sống của gia đình rất êm ấm. Nhưng niềm hạnh phúc của mẹ con cô Đèn đã tắt phụt như ngọn đèn trước gió: Nguyễn Sinh Sắc mới lên ba thì ông Nguyễn Sinh Nhậm chết. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, ông Nhậm gọi cả hai người con trai, người con dâu đến bên giường và căn dặn vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết: “Cha phải hai lần xây dựng bạn trăm năm mà cũng chỉ được có hai mụn con trai. Cha những mong có đôi ba lần sinh nữa cho đông anh đông em, cũng như rừng nhiều cây bão tố không xô ngã được. Không ngờ cha phải sớm từ giã các con. Tội nhất là em Sắc của các con còn quá bé bỏng. Mẹ kế của các con thì tuổi trẻ chưa qua! Cho nên vợ chồng con phải thay cha giúp mẹ kế của các con nuôi em Sắc nó nên người, mà điều hệ trọng là làm sao cho bé Sắc có năm ba chữ thánh hiền. Điều mong muốn cuối cùng của cha là : Dầu cha đã khuất, các con phải kính trọng người mẹ kế của các con như lúc cha đang tại đường. (Ý nói như lúc còn sống)”.”

3) “Anh cử Sắc phân trần:

– Quốc vận lạc vong nan hiệu lý (Chú thích: Việc nước đang suy thì khó mà xoay xở). Cho nên, tôi đã tính việc học thêm ở Quốc tử giám để rồi lại thi Hội khoa Mậu Tuất (1898).

– Nhưng – anh cử Quý hỏi – loại học trò nghèo như cánh mình làm sao vô nổi cái trường của “hoàng gia, quý tộc ấy”?

– Tôi đã được ông Hồ Sĩ Tạo gửi gắm cho quan thượng Cao nhận là người thân thích. Trường Quốc tử giám đã nhận tôi vào và coi như một “ấm sinh” vậy”

4) “Người con gái đầu, cô Nguyễn Thị Thanh của quan phó bảng Sắc đã tới tuổi mười tám, ông giao cả việc nhà và chăm sóc bà ngoại cho cô. Ông đưa hai con trai đi thăm bạn bè và viếng cảnh đẹp trong tỉnh. Những nơi hợp cảnh hợp người, ông thường ở lại lâu, vừa dạy học vừa thù tạc với bạn, ngoạn cảnh núi sông, đền đài.

Chuyến đi xa nhà đầu tiên, quan phó bảng Sắc dẫn hai con ra Diễn Châu thăm một người bạn ở làng Vạn Phần (Võ Tất Đắc) mới từ quan trở về dạy học, và ông đến làng Quỳnh Đôi để tạ ơn ông Hồ Sĩ Tạo, người đã giúp đỡ ông vào học trường Quốc tử giám”.

NHƯ VẬY CÓ ĐỦ DỮ LIỆU ĐỂ KẾT LUẬN… KHÔNG?

Xem thêm trích đoạn 6:

6) “Một buổi chiều sau tết Nguyên đán. Mưa xuân lâm thâm. Gió se se lạnh. Nguyễn Sinh Sắc đội nón mê, khoác tơi lá nằm tùm hum trên lưng trâu ở cánh đồng Dăm Quan. Con trâu mải miết gặm cỏ. Sắc mê say học bài. Sợ bụi mưa thấm vào trang sách, Sắc nghiêng nghiêng mái nón che phía gió thổi.

Con trâu đang gặm cỏ bỗng nghênh đầu lên nhìn về phía có người lạ đi tới. Nhưng Sắc mải dán mắt vào trang sách không biết có người đang đứng bên con trâu để ý việc học bài của mình.

– Cháu chăm chỉ quá? Hiếu học là một đức tính đáng quý.

Sắc giật mình hơi bối rối ngước nhìn : Một ông trông hiền từ, dáng vẻ một thầy đồ, tay che ô, đầu đội khăn nhiễu khoác áo dài kép, chân đi guốc to bàn cuốn mỏ, quai mây hình đuôi én. Sắc nhảy từ lưng trâu xuống đất, đứng lễ phép bên ông.

– Cháu là con nhà ai?

– Thưa ông cháu là con ông Nhậm ạ.

– À ra… cháu là con trai ông Nhậm, con cô Đèn! Thảo nào. Cháu sớm có chí học. Cháu giữ bền được cái chí học thì ắt sẽ làm nên đó.

Ông nhìn tập vở trong tay Sắc, hỏi:

– Cháu đã học đến sách gì?

– Thưa ông, cháu đang học sách “Sơ học vấn tân” ạ”.

________________________________

(*) Tác giả : Sơn Tùng
tiểu thuyết
Nhà Xuất bản Kim Đồng, xuất bản lần thứ nhất, 1981
Bản vi tính trên theo ấn bản của Nhà Xuất bản Văn học, 2007
Khổ 13.5 x 20.5. Số trang: 331
Nguồn: e-thuvien.com/forums/showthread.php?t=15062

2
Tư liệu 2:
LỜI TRUYỀN MIỆNG DÂN GIAN VỀ MỘT VÀI SỐ PHẬN BI KỊCH…
Trần Quốc Vượng

“Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia”

“… câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết. Chỉ là lời truyền miệng dân gian …phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.…”

… Đến đây tôi sẽ khép (lại) bài kể lể đã khá dài dòng của mình bằng câu chuyện một người tuy có tên tuổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn cả là đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người có tên tuổi (nhưng từ đầu đến cuối câu chuyện của tôi đều nói về các nhà Nho, các vị thái học sinh, tiến sĩ, bảng nhãn hay là phó bảng cả).

Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.

Phó bảng là một học vị dưới tiến sĩ, chĩ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1830-31).

Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gởi Bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã khéo dịch tên học vị của phụ thân mình là sous docteur [1] như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.

Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên Nôm là làng Sen huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu phó bảng rồi cụ đã làm Thừa biện Bộ Lễ ở Huế rồi Tri huyện Bình Khê (Bình Định). Rồi bỏ quan (hay bị mất chức quan), cụ phiêu dạt về Sài Gòn, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu… Lại phiêu lãng nữa, tới miền Tây Nam bộ, và cuối cùng mất ở Cao Lãnh (Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Mộ cụ phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam.

Người ta làm như thế vì cụ Hồ. Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ phó bảng và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được dời xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng vì cụ Hồ. Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lòng Ba Đình, Hà Nội, đều hiện hữu ngoài ý thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Hồ vốn được xem là người giản dị, khiêm nhường…

Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.

Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa … Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.

Sợ động chạm đến cụ Hồ. Một cái sợ vô nghĩa nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn truyện bằng tiếng Anh Life and Death in Shanghai, [2] đã được dịch ra tiếng Việt: Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là “bí mật quốc gia”.

Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ, cụ Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.

Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của dòng họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo.

Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu về lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thai Mai, người một thời làm Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ của cụ Hồ 45-46 rồi làm Viện trưởng Viện trưởng Viện Văn học, là Hồ Thị Loan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có “phường hát ả đào”.

Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc. Như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc ngâm chinh phụ: “Hồng nhan đa truân” (Gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên). Hay như Nguyễn Du than thở giùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, “Rằng hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”).

Vả ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo, lấy tứ dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng (“xướng ca vô loài”).

Cô Đèn, Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân – tài tử – giai nhân. “Trai tài gái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái “chửa hoang”, hạng “gian phu dâm phụ”. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính…

Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai là Nguyễn Sinh Thuyết, và người con trai này cũng đã có vợ).

Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này, như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ, mong ém nhém việc cô gái đã “to bụng”.

Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)”. “Miệng tiếng thế gian xì xầm”, ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời “nói ra, nói vào”, lời chì chiết của nàng dâu vợ anh Thuyết, vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.

Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng “tiếng bấc, tiếng chì” hơn trước, vì ngoài việc bố chồng “rước của tội, của nợ”, “lấy đĩ làm vợ” thì nay còn nỗi lo”: Người con trai này – được ông nhận làm con, lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).

Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là “cùng cha khác mẹ” mà thật ra là “khác cả cha lẫn mẹ”, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng “em hờ” của chồng này đi cho “rảnh nợ”.

Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.

May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ăn ở riêng.

Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ, làng Chùa, hơn là với làng Sơn “quê nội”, quê cha “hờ”. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi là ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê mẹ hay là quê ngoại. Khi cụ Tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.

Qua giỗ đầu cụ Tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng “học điền”, ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm – chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.

Nhờ sự vận động gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo, người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc, với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô. (Ai cũng biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực, gọi là “danh gia tử đệ”. Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.

Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngày sau) trở thành con trai út.

Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc giùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được “vinh quy bái tổ” về làng. Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội, dù là quê nội danh nghĩa, tức là làng Sen – Kim Liên. Hội đồng hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.

Thế là buộc lòng ông phải về “quê nội”. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh ngày sau) về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì “đích thực” và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.

Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô nhận chức quan (1904) ở Bộ Lễ, đem theo hai con trai vô Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi Tri huyện Bình Khê … Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sài Gòn rồi Lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa…

Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.

Người ta bảo lúc sau, khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.

Còn Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành – có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gặn làng Sen! Hay là sau đó nữa chả lẽ không khi nào cụ phó bảng Huy hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không kể với ông về “bí mật” của gốc tích thân phụ mình?

Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – biết hay không biết chuyện này… Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa. Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam, từ trí thức đến người dân quê, lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi “về với Các Mác, Lê-nin” năm 1969.

Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ, tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ, đã trở thành “huyền thoại”. Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần gụi cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi) về sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp Cách mạng tháng Tám. Và sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý không ưa gì cụ Hồ… Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.

Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.

Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh, tỉnh lỵ Nghệ An, cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen “quê nội”! [3]

Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?

Tôi không muốn có bất cứ kết luận “khoa học” gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê. [4]

Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện: “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”. (Viết không [bao giờ] hết lời nói, Lời nói không [bao giờ] hết ý!)

Tháng 1.1991
Trần Quốc Vượng

(trích: Trong cõi. Nxb Trăm Hoa, California, 1993, tr. 252-259)

[1]Xem phụ bản bức thư này công bố trong: G. Boudarel, La Bureaucratie au Vietnam, par L’ Harmattan, 1983
[2]Cheng Nien: Life and Death in Shanghai, Globe Crafton Books, 1986 – (Trịnh Niệm: Sống và chết ở Thượng Hải, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 1989)
[3]Xem “Le Nghe Tinh, province natale de Ho Chi Minh”, Études Vietnamiennes, Hanoi, No 59, 1979
[4]Về những cách nhìn khác, chính thống hơn, lịch sử hơn, xin xem: “Les lettres devant l’histoire”, Études Vietnamiennes, Hanoi, 1979. Riêng về Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, xin xem: O. W. Wolters, “Two Essays on Đại Việt in the Fourteenth Century”, The Lạc Việt, No 9, 1979; “A Stranger in His Own Land: Nguyễn Trãi’s Sins”; “Vietnamese Poems, Written during the Ming Occupation”, The Vietnam Forum, No 8, 1986

Thông Luận, 19/05/2006
http://www.thongluan.co/vn/modules.php…

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1671435649797046&set…

3
NHẬN XÉT CỦA RIÊNG CÁ NHÂN TRẦN XUÂN AN:

1) Nhận xét về hai tư liệu trên:

1a) Tiểu thuyết là thể loại có tính hư cấu. Tiểu thuyết về nhân vật lịch sử nếu đúng nghĩa thì phải tôn trọng tuyệt đối thông tin cơ bản, mặc dù vẫn chấp nhận hư cấu những tình tiết không quan trọng. Đây là tiểu thuyết về nhân vật lịch sử số một, người khai sinh ra chế độ hiện hành, nên đã được cấp cao nhất của chế độ đọc duyệt. Chúng ta có thể lọc ra những thông tin cơ bản nhất mà chúng ta có thể nhận thấy là tác giả không thể hư cấu.

1b) GS. Trần Quốc Vượng viết bài này ở Mỹ, và xuất bản thành sách cũng ở Mỹ. Ông đã viết rõ: “Tôi không muốn có bất cứ kết luận “khoa học” gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian…”.

Như vậy, cả hai tư liệu trên đều chưa phải là tư liệu chuẩn cứ. Tuy vậy, nếu theo “tư liệu Sơn Tùng”, thì ông Hồ Sĩ Tạo chỉ là gia sư và có ân nghĩa thông thường với thân phụ của bà Hà Thị Hy cũng như với bà Hà Thị Hy, nên về sau có giúp đỡ ông Nguyễn Sinh Sắc theo lẽ xử sự giữa những người có mối quan hệ quen biết lâu năm với ông ngoại và mẹ đẻ của ông Sắc, và ông Sắc cũng biết ơn ông Hồ Sĩ Tạo về sự giúp đỡ đó mà thôi. Ông Sắc vẫn là con đẻ của ông Nguyễn Sinh Nhậm. Còn bài viết của GS. Trần Quốc Vượng khiến người đọc nghĩ là ông Hồ Sĩ Tạo mới là người tạo ra đứa con rơi Nguyễn Sinh Sắc! Tuy nhiên, GS. Trần Quốc Vượng khẳng định đó không phải là luận văn khoa học, mà chỉ là “ghi lại một số lời truyền miệng dân gian…”, nghĩa là không có cơ sở khoa học nào cả. GS. Vượng chỉ đi điền dã để ghi chép, chứ không phải làm công tác điều tra khoa học với các phương tiện khoa học kĩ thuật thực nghiệm hiện đại.

2) Thông thường, những vụ con rơi này được giải quyết như thế nào? Và trong trường hợp cụ thể về Cụ Nguyễn Sinh Sắc?

2a) Thứ nhất, NHỮNG NGƯỜI TRONG CUỘC NÓI RÕ VÀ NHÌN NHẬN CON RƠI. Những người trong cuộc ở trường hợp này là bà Hà Thị Hy, ông Hồ Sĩ Tạo và ông Nguyễn Sinh Nhậm. Trường hợp cụ thể này, có cả ông Nhậm, vì bà Hy có bầu trước, “ôm bụng bầu” về làm vợ ông Nhậm (*), nên ông Nhậm biết rõ; biết rõ nhưng chấp nhận. Khi ông Nhậm chết, không lâu sau đó bà Hy cũng chết, sao ông Tạo ngại gì mà không nói rõ sự thật với ông Sắc rằng ông Sắc chính là con ruột ông Tạo? Cách chắc chắn hơn, ông Tạo để lại một bức thư với thủ bút để làm bằng với điều kiện, bức thư ấy có người làm chứng trước sự hiện diện của bà Hy. Bà Hy có điểm chỉ (lăn tay). Như vậy thì đạt yêu cầu nhất. Và rồi, ông Sắc sẽ nói lại, đồng thời đưa bức thư ấy cho đàn con của mình. Nếu thế, 3 người con đã biết rõ. Đằng này, ông Nguyễn Sinh Khiêm, bà Nguyễn Thị Thanh và ông Hồ Chí Minh (Nguyễn Sinh Cung) không nói gì về chuyện đó cả, nên hẳn là họ không biết!

2b) Thứ hai, NGƯỜI NGOÀI CUỘC NHẬN THẤY CHA RUỘT VÀ ĐỨA CON RƠI GIỐNG NHAU. Ông Sắc còn ảnh chân dung, nhưng liệu ông Tạo có ảnh chân dung không? Có thể đối chiếu xem thử họ có giống nhau không, mặc dù sự thật chưa chắc cha con thật đều giống nhau? Thế thì cơ sở ở đâu để kết luận!

Nói tóm lại, những người trong cuộc không nói gì cả về chuyện ông Sắc là con rơi, cũng không có bằng chứng cụ thể khả tín (đáng tin cậy), thì đành chịu, ngoại trừ biện pháp thứ ba, cũng là biện pháp cuối cùng:

2c) Thứ ba, XÁC MINH BẰNG PHƯƠNG TIỆN KHOA HỌC THỰC NGHIỆM. XÉT NGHIỆM ADN, LẤY MẪU TỪ HÀI CỐT, DI THỂ.

3) Tạm kết luận: Một khi không có cơ sở chứng cớ nào có giá trị, thì vấn nạn phải được xem như là vấn nạn giả, phải xem như không có vấn nạn ấy, nghĩa là ông Sắc vẫn là con đẻ ông Nhậm và bà Hy. Nếu thấy cần thiết, thì có thể tiến hành xét nghiệm ADN, lấy mẫu từ di cốt, di thể các đối tượng liên quan (ông Tạo, ông Nhậm, ông Sắc, bà Hy…). Nhưng nếu không thể xét nghiệm được, vì xương cốt đã phân huỷ, thì vấn nạn cũng xem như là vấn nạn giả mà thôi, chứ không thể lấy tin đồn, lời truyền miệng dân gian làm sự thật được. Việc ghi tên tuổi cố chủ tich Hồ Chí Minh vào danh sách hậu duệ của họ Hồ làng Quỳnh Đôi, khắc vào bia đá, là hoàn toàn vô lí, vô căn cứ.

T.X.A.
24 & 25-02-2016 (HB16)

______________________________________

(*) Chi tiết này cũng bị suy diễn: bà Hy có bầu trước, “ôm bụng bầu” về làm vợ ông Nhậm! (xem lại bài của GS. Trần Quốc Vượng)

.
.
null

TRÍCH NGUYÊN VĂN:
GS. ĐẶNG XUÂN KỲ (TỔNG CHỦ BIÊN),
“HỒ CHÍ MINH – BIÊN NIÊN TIỂU SỬ”,
TẬP 1 (1890 – 1929),
(Xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung),
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA,
HÀ NỘI – 2005
http:// hochiminh. Vn /news /pages / news.aspx? CateID=14 &ItemID=193

“Năm 1890, tháng 5, ngày 19
Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời niên thiếu tên là Nguyễn Sinh Cung, ra đời tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Trùa), xã Chung Cự , tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

[…]

Thân phụ của Người là Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862 (2) quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen) cùng thuộc xã Chung Cự, cách Hoàng Trù 2km (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

Ông Sắc vốn xuất thân từ gia đình nông dân, mồ côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó làm lụng và ham học. Vì vậy ông được cụ Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về nuôi. Ông vừa lao động vừa tiếp tục học tập. Khi trưởng thành, ông thành hôn với người con gái đầu của cụ. Cho đến năm 1890, ông Sắc chưa thi cử và đỗ đạt gì.

Thân mẫu của Người là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868. Bà là một phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng thương yêu và chăm lo cho chồng con ăn học.

Lúc này ông Sắc, bà Loan đã có ba người con.

Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba trong gia đình.

Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884 .

Anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888 .

Gia đình Nguyễn Sinh Cung sống trong một căn nhà nhỏ ba gian lợp tranh, trên đất vườn của ông bà ngoại tại làng Hoàng Trù.

[…]

Bà ngoại là Nguyễn Thị Kép, cũng là con một gia đình có truyền thống Nho học, làm ruộng để nuôi gia đình”.

+++ Ghi chú tài liệu tham khảo về đoạn này:

Gia phả họ Nguyễn Sinh ở làng Kim Liên. Tài liệu lưu tại Khu di tích Kim Liên – Nghệ An.

– Trần Dân Tiên: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” , Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.10.

– Biên bản “Hội thảo về thời niên thiếu của Bác Hồ” tại Nghệ An năm 1970. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bài viết “Xã Nam Liên và làng Kim Liên, quê hương của Hồ Chủ tịch” . Tạp chí Nghiên cứu lịch sử , số tháng 5-1965, tr.7 – 8.

+++ Chú thích số 2: Qua nhiều nguồn hồi ký cho biết: ông Nguyễn Sinh Sắc lên 3 tuổi (tuổi âm lịch) thì bố là Nguyễn Sinh Vượng (*) mất (7-1864). Từ đó chúng tôi cho rằng ông Sắc sinh năm 1862.

——————

+++ Chú thích ngoài sách: (*) Nguyễn Sinh Nhậm, nhưng có lẽ vì vua Tự Đức tên Nhậm (Hồng Nhậm), nên đổi thành Nguyễn Sinh Vượng.

Trong “Hồ Chí Minh – biên niên tiểu sử”, không thấy họ tên của bà nội là Hà Thị Hy, và hoàn toàn không nhắc đến cử nhân Hồ Sĩ Tạo. Đó là lí do tôi (T.X.A.) không sử dụng tư liệu này trong vấn nạn: ai là thân phụ của Cụ Nguyễn Sinh Sắc, mặc dù biết rằng đây là tư liệu chính thức nhất.

(chú thích ngoài sách của T.X.A.).

ĐÃ ĐĂNG TRÊN FACEBOOK:

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1671752509765360

XEM THÊM:

NGHĨ VỀ TÀI NĂNG HỌ HỒ QUỲNH ĐÔI
https://txawriter.wordpress.com/2016/02/17/txa-nghi-ve-tai-nang-ho-ho-quynh-doi/

HAI BÀI THƠ VỀ HỒ HƯNG DẬT – HỒ QUÝ LY
https://txawriter.wordpress.com/2016/02/15/hai-bai-tho-ve-ho-hung-dat-ho-quy-ly/
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: