Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Archive for Tháng Bảy, 2011

HÁT MỘC VỀ LÔ-GIC LỊCH SỬ (thơ, bản B)

Posted by Trần Xuân An on 27.07.2011

hidden hit counter

HÁT MỘC VỀ LÔ-GIC LỊCH SỬ
– thơ Trần Xuân An
(bản B)

Lời ngỏ: Tác giả (TXA.) chỉ muốn thể hiện cái lô-gic vận động và phát triển khách quan, tự nhiên nhi nhiên của lịch sử trong giai đoạn vừa qua cho đến nay. Cái “lô-gic lịch sử” ấy đã vô hình trung (mặc nhiên) hòa giải dân tộc (Bắc – Nam) để cùng nhau đoàn kết, đại đoàn kết trong công cuộc đấu tranh giành lại Hoàng Sanhững đảo thuộc Trường Sa, cũng như chặn lại sự xâm lược, độc chiếm của Trung Quốc đối với Biển Đông. Quá trình mặc nhiên hòa giải dân tộc ấy đã diễn ra cách đây vài ba thập niên và trong những tháng ngày nóng bỏng này. — TXA. —

bờ sóng xanh dài yêu thương
Lòng Mẹ thẳm sâu lai láng
chiến tranh, những mong gấp lại bao chương dĩ vãng
nhưng vẫn còn nỗi đau biên cương…
hải đảo, biển khơi… Trang chữ Biển Đông cồn lên căm giận
và trớ trêu xen lẫn ưu phiền
giặc Tàu, Đại Hán
hiện hình y nguyên!

“Bị vong lục” (*)
ghi đầy đủ những gì đã mất, đừng quên!
“Sách trắng” (*)
chuỗi hận biên niên:
chống Pháp, luỵ Tàu! Non sông biển bờ chia cắt…
chống Mỹ, Tàu hòng sai xác
những xác sống vô hồn u u minh minh
chúng hòng biến Việt Nam thành trận mạc
trận mạc “âm binh”
nhưng cuồng vọng Tàu, vỡ tan thành bụi cát!

hơn ba mươi năm chiến chinh
ta nghẹn nhìn
đất biên giới, đảo khơi, Tàu cướp đoạt
biết rằng giành lại chỉ bằng lí, bằng lời
cũng thừa thôi!
(cưỡng ước hay không, Tàu vẫn khăng khăng như Pháp, Mỹ
ta giành lại, cũng phải bằng máu lửa ngút trời)

hai tập sách trắng còn kia, rành rành cho mãi mãi
Đại Hán tự phụ là rốn đời!
tiểu nhân, chúng lấn dần, phì đại!…
(để chặn Tàu, đã nghìn năm máu chảy)

thế đó, lịch sử mặc nhiên hoà giải
nỗi đau người Việt, Miền Bắc – Miền Nam
(mấy mươi năm gần đây và hiện tại
cho cả mai sau nghìn năm)
hởi lòng, Biển Đông sóng gầm!

biển như Lòng Mẹ, tình thâm
chống Hán, các nước láng giềng chung tay cùng Việt
cơ chi hôm nay sử viết
Trung Quốc lặng lẽ rút lui
Biển Đông hát mãi niềm vui.

11:55 & 14:51, ngày 23-7 HB11
& buổi sáng ngày 27-7 HB11
TXA.

(*) Hai tài liệu quan trọng, có giá trị lịch sử do Bộ Ngoại giao công bố, Nxb. Sự Thật, 4 & 10-1979.

VIDEO MINH HỌA: LINK


VUI LÒNG XEM BẢN A BÀI THƠ NÀY (đã đăng tải trên báo chí điện tử, các điểm mạng) VÀ HAI VĂN KIỆN QUAN TRỌNG (ghi ở phần chú thích bên trên) TẠI:
https://txawriter.wordpress.com/2011/07/23/txa-hat-moc-ve-logic-lich-su/

Posted in Chưa được phân loại | Tagged: , | 2 Comments »

HÁT MỘC VỀ LÔ-GIC LỊCH SỬ – thơ

Posted by Trần Xuân An on 23.07.2011

hidden hit counter


HÁT MỘC VỀ LÔ-GIC LỊCH SỬ
– thơ Trần Xuân An
(bản A)

Một hòn đảo trong quần đảo
Trường Sa sau Ngày Thống nhất — Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ online

Lời ngỏ: Tác giả (TXA.) chỉ muốn thể hiện cái lô-gic vận động và phát triển khách quan, tự nhiên nhi nhiên của lịch sử trong giai đoạn vừa qua cho đến nay. Cái “lô-gic lịch sử” ấy đã vô hình trung (mặc nhiên) hòa giải dân tộc (Bắc – Nam) để cùng nhau đoàn kết, đại đoàn kết trong công cuộc đấu tranh giành lại Hoàng Sa và những đảo thuộc Trường Sa, cũng như chặn lại sự xâm lược, độc chiếm của Trung Quốc đối với Biển Đông. Quá trình mặc nhiên hòa giải dân tộc ấy đã diễn ra cách đây đã vài ba thập niên và trong những tháng ngày nóng bỏng này. — TXA. —

bờ sóng xanh dài yêu thương
Lòng Mẹ thẳm sâu lai láng
chiến tranh ngỡ thành dĩ vãng
vẫn còn đảo – khơi, căm phiền
giặc Tàu, Đại Hán hiện nguyên!

“Bị vong lục” (*), hận biên niên (**)
chống Pháp, luỵ Tàu! Chia cắt…
chống Mỹ, Tàu hòng sai xác
ta nghẹn biên giới, đảo khơi
giành lại, lời lẽ, thừa thôi!

“Sách trắng” (**): Đại Hán – rốn đời!
tiểu nhân lấn dần, phì đại!…
lịch sử mặc nhiên hoà giải
nỗi đau người Việt, Bắc – Nam
hởi lòng, Biển Đông sóng gầm

biển như Lòng Mẹ, tình thâm
chống Hán, láng giềng cùng Việt
cơ chi hôm nay sử viết
Trung Quốc lặng lẽ rút lui
Biển Đông hát mãi niềm vui.

11:55 & 14:51, ngày 23-7 HB11
TXA.


(*) & (**) Hai tài liệu quan trọng, có giá trị lịch sử do Bộ Ngoại giao công bố, Nxb. Sự Thật, 4 & 10-1979.

Đã đăng ở Tạp chí Sông Hương online, PhongDiepNet, TranNhuongCom, sáng 24 & 25-7 HB11

http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=13244

http://trannhuong.com/…/HÁT-MỘC-VỀ-LÔ-GIC-LỊCH-SỬ

http://tapchisonghuong.com.vn/index…=Hat-moc-ve-lo-gic-lich-su

VIDEO: HÌNH ẢNH MINH HỌA

Xem bản B bài thơ này:
https://txawriter.wordpress.com/2011/07/27/hat-moc-ve-logic-lich-su_ban-b/

 

 

 


SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRONG 30 NĂM QUA (Bản WORD)


(văn kiện quan trọng của Bộ Ngoại giao Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công bố ngày 4 tháng 10 năm 1979 tại Hà Nội), NXB. SỰ THẬT, 10-1979



Xem thêm:


VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC (bản WORD)


(nhan đề chính thức là “Bị vong lục của Bộ Ngoại giao Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lấn lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”, công bố ngày 15-03-1979 tại Hà Nội), NXB. SỰ THẬT, 4-1979


 

 


______________________________________

 

Posted in Chưa được phân loại | Tagged: , , , , | 2 Comments »

Chùm thơ: CÙNG TA, CÓ ĐNA. & CẢ LOÀI NGƯỜI

Posted by Trần Xuân An on 16.07.2011

hidden hit counter

Tượng đài Tuần đội Hoàng Sa & Tuần đội Bắc Hải thời Nguyễn, được dựng ở đảo Lý Sơn (Cù lao Ré, Quảng Ngãi) — Nguồn ảnh: Báo Tuổi Trẻ, Google search

 


Trần Xuân An

NHỮNG BIỂN TÔI QUA

1. Tạ ơn những ngư dân, lính biển

muối đậm cả những tuần chay
rong khơi ngọt mát bao ngày chát rau
chén cơm nào vắng biển đâu
nỗi trùng dương lại quặn đau lúc này
niềm Bến Hải sau Nhật, Tây
chua xót Mỹ! Tàu ngoạm gầy Hoàng Sa!…
lính hai miền một thịt da
dân cùng đắng nỗi ruột rà, tận nay (+)

2. Hoàng Sa

vời trông, Mỹ Thuỷ mắt cay
Thuận An thét gió Chân Mây sóng rền
Lăng Cô đẹp, chẳng lòng yên
Mỹ Khê thốc cát nghiêng Tiên Sa chiều
hang đá Bàn Than vọng kêu
đăm đăm đôi mắt đoán triều Hoàng Sa
Lý Sơn chờ gió dong ra
thắt đau Tàu chiếm đã ba bảy mùa!

3. Trường Sa

Xuân Đài ngân gợn chuông chùa
cùng Mũi Điện đau trận thua đảo chìm
nỗi Trường Sa sao lặng im?
Cam Ranh, Cà Ná gượng kìm xót xa
sóng Phan Thiết vỗ, vỡ oà
Vũng Tàu đỏ nhớ ruột rà, nghẹn xanh
đước Cần Giờ tím lá cành
Tàu còn chiếm đảo, hận đành dồn cao!

4. Và tuần đội Bắc Hải (*)

biển bờ của những tuổi nào
làm sao không chất chứa bao năm dài
sóng xanh có còn nhớ ai
biển in sâu mãi sáng hoài mắt trông
Bắc Hải (Biển Mẹ) mênh mông
bao la vạn lí hừng đông mãi còn
mặn mòi mỗi chén cơm ngon
chưa từng vắng biển, thiếu hồn thiên thu.

20:30, tối 14-7 HB11
TXA.


(*) Tên một đội tuần tra, coi sóc và khai thác Hoàng Sa, Trường Sa của triều Nguyễn và trước đó. Chữ “Bắc” ở đây được dùng theo điển cố. Bắc Hải là Biển Mẹ, cũng như Bắc Đường là Nhà Mẹ, Người Mẹ.

_______________

(+) Khúc thơ thứ nhất, nguyên chỉ gồm hai câu lục bát:
chén cơm nào vắng biển đâu
nỗi trùng khơi lại quặn đau lúc này

Chiều ngày 01-12 HB11, tôi đã viết thêm sáu câu.

Bài trên, đã đăng ở Tạp chí Sông Hương, 20-7 HB11:
http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=0&catid=99&ID=8528&shname=Nhu-ng-bie-n-toi-qua

(link ngày 15-7 HB11)
http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=0&catid=99&ID=8554&shname=Nhu-ng-bie-n-toi-qua


CÙNG TA, CÓ LÁNG GIỀNG ĐÔNG NAM Á

VÀ CẢ LOÀI NGƯỜI

dưới chân rừng xanh, bên bờ biển xanh
sóng đất trâu cày, thuyền cày sóng nước
đứng đỉnh Trường Sơn, lòng ôm đảo xa
Trường Sa ngó về, trùng khơi mắt ướt

từ ngàn xưa… Đến trăm nay, Tổ Quốc!
cảng biển thuyền lặn, cảng trời máy bay
bỗng giật mình, nếu một hôm biển mất
biển mất, thì bờ khô, rừng héo gầy!

biển mất, cả dân tộc bị hãm vây!
con cháu Lạc Long không còn nguồn sống!
đảo Chim Lạc, khơi Vua Rồng, băng đóng
cái lưỡi Bắc Kinh thè lạnh, lè tham

đường quốc tế giữa Biển Đông phương Nam
chống cả loài người sao, Đại Hán quốc?
toàn thế giới nã Bắc Kinh bạch tuộc
nhẹ tay chăng với dân Hoa lam làm?

còn ta, đánh ruộng rừng, như sông biển
máu Yết Kiêu, Dã Tượng đỏ vạn năm
thơ đuổi giặc, giờ đây, nung chất lửa
lo gượng trấn yên, dũng khí tiêu trầm.

14: – 17: 10, chiều 14-7 HB11
TXA.

 

Ảnh chụp tấm lịch 3-7-2011 — Nguồn: WebTXA.

 


TỪ MỘT NGÃ TƯ KHÔNG BIỂN CẤM

người đàn ông lặng nhìn, bỗng chụp nhanh tứ ảnh:
hai luồng người xe vạch chéo nơi này
như gạch chéo cảnh trớ trêu thời cuộc
công an mình gác canh “Toà Khâm sứ” nào đây?

thẻ nhớ chưa kịp ghi hình: xe bít bùng, lá chắn
(những người biểu tình bị chặn từ xa)
nhưng một chàng pop-rap lại buộc được ông vào phòng kín
chìa khoá xe trong túi quần, bị móc bởi tay ma!

dăm tấm ảnh, bị chép lưu và xoá sạch
túi xách cũng sắp bị xáo tung, bỗng bật đỏ lá cờ
(tránh “chụp mũ”, nên có đây,
    cờ đỏ sao vàng: cờ Nước Việt)
thêm một cảnh trớ trêu, ảnh nào ghi nhận bây giờ?

ông bị đưa lên xe màu lính, có hụ còi, có quyền ngược tuyến
hai công an kèm chặt hai bên
khảo cung, trả lời và xác quyết:
“tôi là nhà văn, chỉ ghi hình cho lịch sử không quên”

sau hai hôm, thêm một buổi chiều như thế
lại “không, tôi đâu có đi biểu tình”, vượt phép các anh
“nhà văn chỉ ghi hình cho nghìn sau lịch sử
nơi không có biển cấm nào”
, chỉ người xe gạch chéo cảnh gác canh…

người đàn ông đọc lại 1979
“Bị vong lục” sôi trào còn kia, sao vắng ngắt hôm nay
ông lặng lẽ soi mặt mình vào màn hình điểm mạng
những cuốn sách từ trái tim ông lặng lẽ giãi bày…

Viết để ghi nhớ ngày 03 & 05 tháng 7 – 2011
11:11, sáng 15-7 HB11
Trần Xuân An

Ghi chú: Mặc dù không có văn bản chính thức từ chính quyền, nhưng qua vụ việc trên tại TP.HCM., trong ngày 03-7-2011 và sau đó, cũng tương tự như sự tạm giữ những phóng viên các hãng tin, báo chí nước ngoài, cả nhà báo Phi Khanh (báo Người Cao Tuổi) vào ngày 10-7-2011 vừa qua, tại Hà Nội, mọi người có thể đoán biết một điều cấm bất thành văn: Không được chụp ảnh những nơi được xem là “nhạy cảm về chính trị”, và muốn chụp ảnh, phải xin phép cơ quan chức năng! – TXA. (16-7 HB11).

Chùm thơ (cả 3 bài), đã đăng ở TranNhuongCom, PhongDiepNet, 16-7 HB11:
http://trannhuong.com/news_detail/10123/CHÙM-THƠ-TRẦN-XUÂN-AN

http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=13191

Posted in Chưa được phân loại | Tagged: , , , , , , | Leave a Comment »

Tạp chí SÔNG HƯƠNG trên mạng toàn cầu: HẢI BẰNG…

Posted by Trần Xuân An on 05.07.2011

hidden hit counter

Tạp chí SÔNG HƯƠNG (in giấy, số 268, 6-2011)
trên mạng toàn cầu:
HẢI BẰNG, NHÀ THƠ VỚI NHỮNG TÂM THẾ ĐỘC HÀNH
— bài viết của Trần Xuân An —

Bấm vào đây để xem

 

1

Bài thơ cuối cùng của cuộc đời mình, nhà thơ Hải Bằng viết trong căn phòng hồi sức của bệnh viện, trước khi mãi mãi đi vào cõi miên viễn chỉ năm hôm:

Tôi thở bằng hai bờ sinh nhật sông Hương
Hôm nay tôi sẽ chuyền lại hơi thở mình cho mẹ tôi
chưa sinh tôi ngày ấy
Cảm ơn con đò sẽ chở tim tôi về cùng bến mới.
(02-7-1998) (1)

Sinh nhật nào vậy trong những giờ phút hấp hối, ông đã thực sự giáp mặt với cái chết? Hẳn trước khi viết bài thơ cô đọng đó, trong tiềm thức chập chờn ông đã có những diễn tiến của liên tưởng. Phải chăng, ban đầu, đôi bờ sông Hương thân thương đã trở thành đôi bờ sinh – tử? Dây truyền dưỡng khí là cuống nhau? Kế đó, theo mạch liên tưởng, bấy giờ, ông đang sắp trả lại cho người mẹ đã sinh ra ông hơi thở sự sống trong bào thai, chín tháng trước khi ông có thật một sinh nhật – ngày lọt lòng mẹ, chào đời – để sống trên đời suốt 68 năm. Và thấm thoắt thôi, đã đến lúc ông đã sang bờ bến mới: bờ tử, với con đò đưa linh, con đò sẽ khai sinh lại ông trong một sinh nhật khác, trong một cõi khác. Chết kiếp này để sống lại kiếp mới. Với ông, đó là ý nghĩ lạc quan trong giờ phút lâm chung. Nói cách khác, với Hải Bằng, ông không muốn có ngày chết. Ngày sinh thật là sinh nhật, ngày chết thật cũng là sinh nhật khác.

Trưởng ca thơ “Độc hành” (2) được Hải Bằng viết về cả cuộc đời 68 năm ấy…

2

Thật ra, Hải Bằng, tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh Tôn, còn có một sinh nhật khác nữa, giữa hai sinh nhật kia. Đó là ngày ông tự sinh nở ra chính mình, hay đúng hơn, Mùa thu Tháng Tám đã sinh nở ra một thiếu sinh quân Văn Tôn, năm ông mới 14 tuổi. Đây mới chính là sinh nhật thật sự của một thiếu niên kháng chiến, một nhà thơ tương lai, đồng thời là cột mốc để đến mười hai năm cuối đời (1986-1996-1998), Hải Bằng trầm tĩnh chiêm nghiệm lại cả cuộc đời mình, nhận ra mình là kẻ độc hành. Trường ca thơ “Độc hành” được viết ra suốt mười hai năm ấy.

Nhưng sẽ có người thắc mắc, giã nhà ra đi kháng chiến mà lại độc hành sao? Quả thật là ông đã đơn độc ra đi:

Khi chân đi / con mắt / mãi nhìn // Nơi Tháng Tám có gì gửi lại // Vua nộp kiếm vàng / cờ đỏ bay lên // Nơi 14 tuổi thơ // Tôi làm người lính mới // Gửi sân trường cho em // Gửi ngày xanh tóc chị // Gửi nước mắt thấm lên mồ mẹ // Khi bóng cha tôi / giữa sóng bập bềnh // Lý tưởng rụng mòn tóc bạc // Chẳng bao giờ hiểu nổi bước tôi đi // Chẳng lẽ cha tôi // Tiếc một thời vua? // Vì thuở Người mặc áo rộng xanh ngưỡng mộ // Đứng trước triều đình / ngai vua / bệ chúa // Khi chú Cuội trên trăng mờ cũng gục bóng trầm tư // Cây đa tự héo bao giờ // Trâu chạy rông không tìm ra lúa // Khi bến ngoại ô ngừng đò giang gạo chợ // Cơn đói đè đầu những năm 44, 45 (sđd., ĐH., tr. 335).

Khác hẳn với người cha hoàng tộc quan lại nhà Nguyễn, Hải Bằng đã đi theo lực lượng cách mạng, đánh đổ triều Nguyễn, và đó cũng chính là lực lượng kháng chiến chống Pháp. Nếu đặt trong phạm vi gia đình, Hải Bằng đã độc hành, một mình đi.

Nhưng “độc hành” không chỉ có nghĩa giản đơn như vậy, cũng không thô thiển với ý nghĩa ông là một thành viên hoàng tộc Nguyễn lẻ loi trong đoàn quân áo vải (*). “Độc hành” trong trường ca thơ của Hải Bằng phải chăng là tâm thế, tâm trạng riêng tư đi đến với những cảnh huống yêu đương riêng tư, là cái nhìn riêng tư trong khung cảnh chung, người người lớp lớp đông đảo; phải chăng là lao động riêng tư trên con đường sáng tạo nghệ thuật thi ca và tạo hình, vốn không thể chung chạ được?

Trường ca thơ “Độc hành”, tác giả cấu trúc với tám chương khúc mà ông khiêm tốn gọi là tám đoạn thơ, với tám tiêu đề: 1) Chia tay từ ấy; 2) Đi đến tình yêu; 3) Đường rừng; 4) Trước biển; 5) Góp ngày sáng tạo; 6) Em là của thơ; 7) Quê hương; 8 ) Hát với mình. Thấp thoáng trong tám tiêu đề ấy, cơ hồ ta thấy cả một hành trình cuộc đời của Hải Bằng. Khởi đầu, chú bé Vĩnh Tôn chia tay Huế, “từ ấy” (tên một bài thơ của Tố Hữu). Kết thúc trường ca thơ là trở về với quê hương, để chiêm nghiệm trong tuổi xế chiều của đời người và khẽ hát một mình, với một góc nhìn riêng, về những tâm thế, tâm trạng và lao động rất riêng, những cảm nghĩ rất riêng về quê hương, về người yêu cũng là người vợ với “nhan sắc mùa thu” (sđd., ĐH., tr. 341). Công cuộc cách mạng và kháng chiến suốt ba mươi năm chỉ là bối cảnh với những nét mờ, bởi ông đã tự đặt ra cho mình một góc nhìn riêng về những gì rất riêng trong bối cảnh chung như thế. Cả đời thơ, ông đã giấu đi cái riêng tư sâu kín để làm thơ, để tạo hình nghệ thuật bằng rễ cây và vẽ tranh về cái chung, hướng ngoại, thì đây là những tháng năm ông phải khác với tác phẩm của mình trước đó, để toàn bộ tác phẩm của ông không phiến diện.

“Chia tay, từ ấy” là khúc dạo đầu của bản trường ca. Hải Bằng đã tỏ bày về ngày xa Huế, lên đường kháng chiến ấy. Đó là ngày Pháp tái chiếm kinh đô Huế: “Giặc Pháp đến // Tôi ra đi // Đội lá trên đầu // Lá che chở / hành quân gấp rút”. Và cho dù ông bảo, “Năm tháng chiến khu / hiểu nhiều về ngọn lửa // Lửa mùa đông / đốt cháy / buồn riêng”, với một nghị lực mới: “Những cơn sốt / niệm rừng / đứng dậy” (sđd., ĐH., tr. 305-306), hay cho dù lúc đã cùng đoàn quân kháng chiến sang Lào, thì những gì ông nếm trải trong chiến đấu, trong vòng tay lớn nối vào nhau của đồng đội, ông không nhắc lại nữa, mà chỉ thể hiện những cảm nhận riêng trước thiên nhiên hoang sơ, nào là những loài chim rừng với nhiều tiếng hót khác nhau, nào là hương nấm mối, mùi sắn nướng, nào là ánh trăng mười sáu, đặc biệt là chút gì như thể tình yêu với “cô gái Lào // bên khung cửi mùa xuân” như ở “cườm tay / vòng chỉ buộc vào // Rất mong manh mà không thể dứt // Sợi tơ rừng / trói lại / lòng nhau…” (sđd., ĐH., tr. 307-308). Hoàn toàn không có súng nổ, máu rơi và lửa bùng tàn phá.

Hải Bằng có một loại tình cảm không phải trong mọi người đều sâu đậm như thế, đó là lòng thương mến các loài vật. Chính đoạn trường ca thứ hai (sđd., ĐH., tr. 308-313) đã soi sáng cho khúc dạo đầu về rừng, khi ta đọc được những dòng thơ thể hiện niềm lưu luyến với con chim sáo ngà, còn dế mèn và chú chó “màu trắng nâu lốm đốm” ở thành phố quê nhà. Nhưng cũng ở “đoạn hai” này, chủ yếu là cái riêng tư yêu đương, được ông chú tâm thể hiện như một sự giãi bày trong mạch hồi tưởng. Những cô gái nào đã in dấu vào trái tim chàng trai Văn Tôn – Hải Bằng thuở ấy, ngoài cô gái Lào kia? Đó là một nữ cứu thương, một nữ sinh ở vùng kháng chiến, là “cô gái làng chài // Cầm mác lào canh bờ biển thâu đêm” và một cô gái khác nữa, “thiếu nữ Hồ Gươm”. Cũng không nhắc lại những gì thuộc về chiến tranh, súng đạn và máu lửa, mặc dù đó là bối cảnh hiện thực của những mối tình Hải Bằng không thể nào quên. Quả là vậy, ngay với những cô gái không phải thuộc về trường học, thành phố thủ đô, mà chính bản thân họ đã là hiện thân của cuộc kháng chiến, như nữ cứu thương hay nữ du kích làng chài, Hải Bằng đã chú tâm khắc đậm những nét thuộc về tình yêu muôn thuở, như “viết tên nhau trong nhật ký đầu tiên”, “trước mạch thuỷ triều / Tôi gọi biển là em”… Tuy vậy, ẩn vào sâu bên trong, là chất tích cực của kháng chiến và cách mạng, thể hiện trong quan niệm về tình yêu đương.

Đoạn trường ca “Đường rừng” cũng chỉ là hiện thực thiên nhiên hoang sơ với góc nhìn riêng tư ấy, nhưng không phải lặp lại “đoạn một”, mà tinh tế hơn, trong biểu hiện tâm cảm cũng như ngoại cảnh. Ông không giấu giếm chút cảm quan lãng tử, giang hồ thường thấy ở thành phần thị dân thuộc thế hệ ông, khi họ đi vào kháng chiến, sát cánh với công – nông:

Ngẩng đầu
Im lặng
Ai hỏi nhà
Tôi chỉ xuống chân

(sđd., ĐH., tr. 314)

Lạ một điều là ở “Đoạn bốn: Trước biển”! Nếu có tìm hiểu đôi nét về cuộc đời thật của nhà thơ, sẽ biết đây là khúc trường ca Hải Bằng viết về những năm tháng ông bị “biếm trích”, “đày ải” sau vụ Nhân văn – Giai phẩm. Tuy quả thật là vậy, nhưng mãi đến khi công cuộc Đổi mới đã mở ra (1986), và suốt mười hai năm sau (đến 1998), Văn Tôn – Hải Bằng vẫn không nói gì trong trường ca thơ “Độc hành” này về những khổ đau, thậm chí là oan nhục ông phải gánh chịu trong thời gian đó. Tôi không nghĩ rằng ông xem như quãng đời bị “biếm trích”, “đày ải” là một ân huệ để ông thêm một lần nữa lột xác, “vô sản hoá”. Hải Bằng cố quên đi oan uổng để tập tành vui vẻ, tôi luyện bản lĩnh sống đó thôi. Duy một đoạn ngắn khoảng hai mươi dòng thơ, Hải Bằng có thể hiện cảm xúc và suy nghĩ cùng những trải nghiệm làm dân chài của mình qua niềm tâm cảm tác phẩm “Ngư ông và biển cả” của Ernest Hemmingway. Đó là câu chuyện về một lão ngư dân, kiên cường, gan góc, quyết săn cho được một con cá dữ và bị nó lôi đi ra khơi xa, nhưng ngư ông vẫn kiên quyết không buông bỏ, đến nỗi khi vào được bờ, con cá dữ kia cũng chỉ còn là bộ xương vì bị những loài cá khác rúc rỉa hết thịt. Đó là câu chuyện thể hiện quan niệm sống tích cực, dũng cảm, không chịu đầu hàng gian khó, cho dù thành quả thu nhặt được chỉ là con số không như bộ xương cá kia! Và với Hải Bằng, những dòng thơ ấy chính là nỗi niềm cay đắng của đời ông đó chăng? Thật ra, Hải Bằng cũng không đào sâu và viết hẳn ra như thế.

Với “Đoạn năm: Góp ngày sáng tạo” (sđd., ĐH., tr. 324-328) và “Đoạn sáu: Em là của thơ” (sđd., ĐH., tr. 328-332), tôi băn khoăn tự hỏi, không hiểu sao nhà thơ lại lại làm một phép đảo ở đây. Thơ ca với Hải Bằng vốn là nghiệp dĩ suốt cả đời ông. Nghệ thuật tạo hình bằng rễ cây thực ra ông chỉ mới bắt đầu từ 1975, sau Ngày Thống nhất, và đó cũng chỉ là biến tướng của thi ca: thay vì và song song bằng chữ, ông làm thơ bằng rễ cây. Theo trình tự bình thường, ông phải nói về thơ trước khi nói về nghệ thuật tạo hình, nhưng Hải Bằng vẫn đặt những cảm nghĩ về lao động nghệ thuật tạo hình này lên trước thơ ca. Cũng có thể, nhà thơ làm phép đảo trình tự thời gian (và cả trọng lượng) để dồn hết sức nặng của độ dài tháng năm, của sự nghiệp chính vào đoạn sau chứ không phải đoạn trước, theo thủ pháp tăng cấp. Cũng có thể, ông muốn nhấn mạnh đến sự đóng góp về thể loại tạo hình? Quả là trước ông cũng như sau ông, hình như chưa có nghệ sĩ tạo hình nào dành nhiều tâm sức với chất liệu rễ cây. Có lẽ đó là đóng góp độc đáo của riêng ông.

Dẫu sao, đây là những gì nhiều người đọc và bạn bè văn nghệ đương thời đã viết về ông, bởi lẽ, Hải Bằng tồn tại ở đời này chính bằng những tác phẩm tạo hình rễ cây và thơ ca. Tôi lại muốn nhìn theo hướng khác, xem rễ cây như một ẩn dụ, chứ không chỉ là chất liệu.

Phải chăng tự thời nào đã lâu lắm rồi, có thể sau khi đã đi vào kháng chiến được ít năm, Hải Bằng có một niềm đau cội rễ. Là một hoàng tôn công tử của một hoàng tộc – hoàng tộc Nguyễn với nền quân chủ “cát cứ” và chính thống trong sự nhất thống toàn quốc, đã qua thời mở cõi, độc lập, sa vào và trượt vào tình cảnh bị biến thành nguỵ triều dưới ách xâm lược thực dân Pháp rồi phát xít Nhật, nên bị cả dân tộc và cách mạng đánh đổ –, ông thường xuyên chịu đựng sự lên án đến mức “phủ nhận sách trơn”, bất công quá đáng của một thời ở Miền Bắc. Có thể ý niệm trong ẩn dụ “niềm đau cội rễ” đã đến với ông từ độ ấy, nhưng mãi đến sau Ngày Thống nhất (1975), ông mới bất giác (hay có ý thức) biến ẩn dụ thành chất liệu. Phải chăng, trong nhiều đêm thao thức, Hải Bằng đã lặng thầm tự hỏi, cội rễ của ông là gì, và phải được thăng hoa thành nghệ thuật ra sao? Ông đã trả lời bằng chính tác phẩm tạo hình rễ cây của mình: Cội rễ của ông chính là thiên nhiên, tạo vật (chim muông, núi sông, trời biển) đã thăng hoa, là danh nhân dân tộc, lãnh tụ cách mạng, là chiến sĩ kháng chiến, là nhân dân anh hùng đã và phải trở thành hình tượng nghệ thuật. Tiếc là ông không được sống cho đến ngày các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã được đánh giá lại, công bằng hơn trước (3), để ông có thể yên tâm tạo thêm những Nguyễn Hoàng, những Minh Mạng trong loạt tác phẩm rễ cây của ông về các danh nhân dân tộc, thậm chí ông cũng có thể tạo hình về một ít các nhân vật phản diện trong dòng họ mình, như mọi hoàng tộc Lý, Trần, Lê đều có và đều thế.

Tôi muốn nhìn khác một chút nữa. Phải chăng, loại hình tranh vân gỗ của nhà thơ Hải Bằng cũng là một biểu hiện của cảm thức về những vòng thời gian (tháng ngày và lịch sử)? (**)

Riêng về thơ, như đã nói, ở trường ca “Độc hành” này, ông có chủ định nhìn nhận thơ với góc nhìn riêng: “Em là của thơ”, “Tôi, tất cả của thơ vì em là của thơ tất cả…” (sđd., ĐH., tr. 332).

Liệu có cần thiết phải trải bày ra hết ở bài viết này những gì tôi cảm nhận từ chương khúc “Quê hương” trong trường ca “Độc hành” của Hải Bằng không? Tâm trạng, nỗi niềm chính của Hải Bằng ở đây là của người con xứ Huế, từ năm 14 tuổi đã thoát li, lên rừng, sang Lào, ra Bắc, suốt ba mươi năm, mới trở về quê hương, sống gắn bó với quê hương Huế thêm mười năm hậu chiến nữa, để rồi đắm vào quãng dài thời gian cuối đời chiêm nghiệm. Tâm trạng, nỗi niềm ấy hẳn là sâu nặng, thấm thía biết bao. Trong đó, có một vài điểm rất ấn tượng, mà ngay ở phần mở đầu bài viết này, tôi không thể không đề cập đến. Và một điểm khác, có lẽ chỉ cần đọc thơ và im lặng ngẫm nghĩ:

“Sau ba mươi năm // Tôi trở về // Tóc đã pha sương // Con đường cũ gặp tôi thầm kể // Gió gặp tôi / ngừng thổi / qua cầu // Cây cổ thụ gặp tôi / cành rủ lo âu // Em gặp tôi như khách lạ…” […]
“Tôi nói chuyện với quê hương // Bằng mắt đăm chiêu…” […]
“Sắc trời / ủ bóng / cây im // Tôi chẳng trách chi em // Hỡi cô gái bên đường // Gặp tôi rồi quay mặt…” (sđd., ĐH., tr. 337-338)

Đó là hiện thực hậu chiến và tâm trạng rất thật. Trong cảnh huống đó, nhà thơ vẫn tự nhủ lòng: “Tôi biết làm gì để em đi giữa ngày mới nhất // Bước chân / hy vọng / lâu dài…” (sđd., ĐH., tr. 338).

Cuối trường ca thơ “Độc hành”, nhà thơ Hải Bằng tự bảo, sau khi chiến tranh đã chấm dứt, đã đến lúc “tôi đi về phía của lòng tôi”, dẫu suốt đời ông đã “buồn vui tự túc // Năm mươi năm qua // Suốt đường độc đạo…” (sđd., ĐH., tr. 339). Sức nặng của từ “độc đạo” thuở nào là rất khủng khiếp! Độc đạo là con đường duy nhất và không có ngã ba, ngã tư để chọn lựa. Ở nước ta, đó là con đường do bối cảnh lịch sử quốc tế quy định: Không còn con đường nào khác! Nhưng về phía chủ quan trong nội bộ đất nước, cũng không phải là không “tả” khuynh đến mức nghiệt ngã. Ở một ý nghĩa khác trên bình diện khác, với riêng ông, ông cũng tự định đoạt cho mình con đường riêng độc đạo, không chọn lựa nào khác. Đó là con đường đã tạo nên một con người với số phận không êm đềm và tính cách không mềm yếu mà nhà thơ Đỗ Hoàng tôn vinh là “Nhà thơ Hải Bằng, một lòng trung trinh với đất nước” (sđd., phần Vĩ thanh, tr. 537-542).

3

Nhìn trên tổng thể, có lẽ đã có nhiều người cho rằng dung lượng hiện thực trong trường ca thơ “Độc hành” không thật phong phú và sinh động vì chính nhà thơ đã chủ tâm lược giảm, tinh giản để nói nhiều hơn về những tâm thế, tâm trạng và cảnh huống riêng tư bằng những hình ảnh không nhuốm mùi chiến tranh và thế sự, máu lửa súng đạn và bụi bặm cõi đời. Nhưng tôi vẫn yêu trường ca thơ này, vì ở đó, những góc khuất, những nghịch cảnh riêng tư nào đó trong cuộc đời nhà thơ, nghệ sĩ tạo hình Hải Bằng đã hé mở và như sẵn sàng chia sẻ với cả người cùng thời lẫn hậu thế.

Tôi cũng không có ý định viết hết những cảm nhận của mình về trường ca thơ “Độc hành”. Ở đây, chỉ là dăm trang chữ ghi lại những ấn tượng đậm nhất.

Hải Bằng viết với nhiều thể thơ và ở thể thơ nào ông cũng có bài hay. Đặc biệt, những năm khởi động Đổi mới rồi thực sự Đổi mới, ông đã có sự trẻ lại trong thơ và viết với một sức lực sung mãn hơn bao giờ hết. Với trường ca thơ “Độc hành”, Hải Bằng không chỉ đạt được sự đồng cảm của nhiều người đọc mà có thể còn hơn thế nữa.

Sinh thời, trong bối cảnh mà “Nhân văn – Giai phẩm” trở thành một định kiến khó chịu, ít ai dám thân gần với những tác giả đã vướng vào, nên nhà thơ, hoạ sĩ Hải Bằng vừa cam chịu vừa tự vệ. Vì thế, có chút gì đó hơi góc cạnh một cách đau xót ở ông. Và chính nét tính cách góc cạnh, vốn là hệ quả của định kiến khó chịu kia, lại khiến ông càng khó thân gần! Nhưng thực chất, con người ông với cả cuộc đời hầu như đã thể hiện rõ qua trường ca “Độc hành”. Và tôi tin chắc trong tâm của mỗi người đều rất thương mến, quý trọng Hải Bằng. Phần “Trong lòng thi hữu” cuối cuốn sách do Hải Trung biên soạn đã thể hiện rõ điều đó.

Trần Xuân An
10-02 HB11 – 19:44, 13-02 HB11
– 14:38, 14-02 HB11
________________________

(1) Hải Trung (biên soạn), “Hải Bằng, thơ, tác phẩm & dư luận, nghệ thuật tạo hình, tự sự & đối thoại, vĩ thanh”, Nxb. Thuận Hoá, 2009, tr. 342.

(2) Sđd., “Độc hành”, trong phần Thơ dài và trường ca, tr. 305-342.

(3) Hội thảo khoa học lịch sử tại Thanh Hoá, 18 – 19-10-2008.

(*) Về câu này: Theo Nguyễn Phước Hải Trung, có 5 người thuộc hoàng tộc đi theo cách mạng, kháng chiến, vào 8-1945 (nhưng có thể ở đơn vị khác), chứ không chỉ một mình Hải Bằng. Vả lại, trong bài viết này, đây chỉ là một cách “nói vòng”, đưa ra giả định để phủ định nhằm đi đến việc làm rõ ý nghĩa nhan đề “độc hành” của tác giả Hải Bằng.

(**) Tranh vân gỗ cũng được xếp vào loại nghệ thuật tạo hình của nhà thơ, họa sĩ Hải Bằng.

BÀI ĐÃ ĐĂNG:
Tttđt. Hội Nhà văn Việt Nam, Tttđt. Hội Nhà văn TP.HCM., Tcđttl. PhongDiepNet:
http://vanvn.net/news/11/583-hai-bang—nha-tho-voi-nhung-tam-the-doc-hanh.html
http://www.nhavantphcm.com.vn/chan-dung-phong-van/hai-bang-voi-tam-the-doc-hanh.html
http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=13131

Posted in Chưa được phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »