Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Archive for Tháng Ba, 2016

KHỦNG BỐ, THẢM SÁT — LIỆT SĨ, THƯƠNG BINH LÀ DÂN LÀNH

Posted by Trần Xuân An trên 31.03.2016

hidden hit counter

 
.
KHỦNG BỐ, THẢM SÁT,
LIỆT SĨ, THƯƠNG BINH LÀ DÂN LÀNH
Trần Xuân An

Chiến tranh là chuyện bắn giết, nhưng không chỉ giữa quân đội của hai phe! Có nhiều thường dân bị chết, bị thương do súng đạn của cả hai phe đó. Nhưng trong đó, có một số thường dân bị thương vong không phải do bắn lầm, tên bay đạn lạc. Họ là nạn nhân của khủng bố và thảm sát. Đó là tội ác man rợ, ghê tởm nhất của chiến tranh.

Khủng bố và thảm sát vì đâu? Và với mục đích gì?

Khủng bố, nguyên nghĩa là doạ nạt, làm cho sợ hãi, kinh hoàng. Thảm sát: giết chóc tàn bạo, đến thảm thương. Nói chung, hai từ này đều có chung một nội hàm là giết, và giết một cách tàn ác nhất để cho mọi người còn sống, biết đến, phải hoảng loạn, hãi hùng, đau đớn, thảm thương.

Khủng bố và thảm sát đã có từ thuở loài người có chiến tranh, nhưng trong thời cận hiện đại nó trở thành một cách thức tiến hành chiến tranh. Chiến tranh không chỉ là các cách thức như tấn công, phục kích, cận chiến, bao vây, nội gián, mà gồm cả khủng bố. Và nhất là gần đây nó được nâng lên là chủ nghĩa: chủ nghĩa khủng bố. Như thế, nghĩa là, lấy khủng bố làm cách thức chính, chủ yếu trong chiến tranh! Chưa thấy xuất hiện cụm từ “chủ nghĩa thảm sát”, nhưng thực ra, chủ nghĩa khủng bố đã bao hàm chủ nghĩa thảm sát rồi. Chúng đồng nghĩa với nhau, có thể dùng để thay thế nhau.

Khủng bố, thảm sát thường nhắm vào thường dân, hậu phương địch, nhằm mục đích gây rối loạn, tổn thất cho hậu phương địch, khiến thường dân và cả quân đội địch hãi hùng, kinh hoảng, rồi dần dần sẽ nảy sinh tâm lí sợ hãi chiến tranh, tâm lí đầu hàng, cầu an. Dĩ nhiên trước hết, sẽ nảy sinh tâm lí thù hận, căm hờn phe đã gây ra khủng bố, thảm sát, nhưng phe khủng bố, thảm sát vẫn bất chấp, vì mục đích họ nhắm tới là các “hiệu quả” kia: đối phương sợ hãi, hoảng loạn, đầu hàng…

Trong chiến tranh Việt Nam 1858-1885-1945-1954-1975: Giai đoạn đầu, thực dân Pháp đã thực hiện khủng bố, thảm sát tại các địa phương có phong trào Cần vương, và các nghĩa binh Cần vương cũng ít nhiều có thực hiện “sát tả” tại các làng có cố đạo Pháp (thuộc phe thực dân Pháp). Giai đoạn chiến tranh hai Khối, hai Miền, cũng có thảm sát, khủng bố, như phe này gài mìn đường quốc lộ, nhiều xe khách thường dân nổ tung, giật cầu, pháo kích vào thành phố, vào trường học, bắn chặn dân tản cư, phe kia bắn giết dân lành, thả bom, đốt nhà, tra tấn…

Điều đáng suy nghĩ nhất, liệu có phải khủng bố, thảm sát là một cách thức chống lại chiến tranh nhân dân hay không? Một nhóm người ăn mặc như thường dân, ném chất nổ vào một nhà hàng, một rạp hát rồi lẩn trốn vào xóm phố có hầm ẩn núp hoặc thoát ra vùng ngoại ô, làng thôn, có thể dẫn đến một vài cuộc lùng ráp, và nghiêm trọng nhất là thảm sát. Chiến tranh tại Miền Nam Việt Nam gồm chiến tranh du kích, chiến tranh đô thị, chứ không chỉ trận địa chiến… Nói cách khác, không phải chỉ quân lính hai bên dàn trận, đánh nhau trên núi rừng không có dân hoặc giữa đồng không mông quạnh, mà thường là đánh du kích rồi lẩn vào dân, giả dạng là dân thường! Phải chăng đó là nguyên nhân của khủng bố, thảm sát? Chính xác hơn, khủng bố, thảm sát dẫn đến khủng bố, thảm sát!

Lính lê-dương (légionaire) thuộc Pháp và lính Đại Hàn là tàn bạo nhất khi tiến hành khủng bố, thảm sát. Có điều, nói cho ngay, phe Cần vương ta, phe Việt cộng ta cũng chẳng vừa gì!

Tại sao con người lại độc ác đến như thế? Tại sao lại nghĩ ra một cách thức trong nhiều cách thức chiến tranh độc ác đến vậy? Không có gì độc ác hơn khi lấy việc tàn sát sinh mạng, phá hoại tài sản của dân lành làm phương tiện, nhằm mục đích để khiến đối phương sợ hãi, hoảng loạn, đầu hàng!

Hiện nay, toàn thế giới đều đồng thanh, đồng lực lên án, tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố (chủ nghĩa thảm sát).

Riêng tôi, tôi nghĩ, trong chiến tranh Việt Nam đã qua, bên nào đã lợi dụng dân lành làm “lá chắn sống”, “hầm trú ẩn sống” hoặc “phương tiện sống” khiến đối phương sợ hãi, kinh hoàng, họ phải sám hối. Những nạn nhân dân lành đó, nếu còn sống, hay thân nhân của họ, phải được đền bù xứng đáng.

Tôi cũng mong rằng, chiến tranh nếu còn có trên trái đất này, trong thế giới này, các bên đối địch sẽ văn minh hơn: Không lợi dụng dân thường, buộc họ phải hi sinh như vậy nữa!

Nếu bất đắc dĩ phải tiến hành chiến tranh nhân dân chống quân xâm lược chiếm đóng quá giàu mạnh, thì những thường dân bị hi sinh trong những trường hợp như vậy phải được xem như liệt sĩ, thương binh.

T.X.A.
30-03-2016
(viết với tinh thần hoà giải giai đoạn lịch sử đã qua
và với ý thức phê phán khủng bố, thảm sát hiện nay)

KHỦNG BỐ, THẢM SÁT,
LIỆT SĨ, THƯƠNG BINH LÀ DÂN LÀNH

—- O0O0O —-

Đã đăng ở Facebook, 30-03-2016 (HB16):

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1686891991584745

.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

NGHĨ THÊM VỀ PHAN CHÂU TRINH (1872-1905-1926), NHÀ CÁCH MẠNG QUỐC GIA CHỦ NGHĨA MỘT TRĂM NĂM TRƯỚC

Posted by Trần Xuân An trên 28.03.2016

hidden hit counter

 
.

NGHĨ THÊM VỀ PHAN CHÂU TRINH (1872-1905-1926),
NHÀ CÁCH MẠNG QUỐC GIA CHỦ NGHĨA MỘT TRĂM NĂM TRƯỚC

Trần Xuân An

Cần phải hiểu “bất bạo động” trong văn cảnh câu trích đúng với tinh thần cách mạng của Phan Châu Trinh. Bất bạo động không có nghĩa là bạo động, dĩ nhiên đã rõ. Nhưng bất bạo động cũng không phải là im lặng, cúi đầu nhẫn nhục dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh đòi giảm sưu thuế ở Quảng Nam là một minh chứng. “Thư thất điều” tố cáo vua bù nhìn Khải Định là minh chứng thứ hai. Đến khi đã mang bệnh tật, tuổi chưa cao nhưng sức đã yếu, được Pháp cho về nước, Phan Châu Trinh vẫn diễn thuyết, hô hào, vận động cho dân quyền, — minh chứng thứ ba. Đó là ba ấn tượng sâu sắc nhất về Phan Châu Trinh, trên ấn tượng tổng thể về ông là một nhà cách mạng trong khuôn khổ hợp pháp nhưng vẫn suốt đời bị tù đày, biệt xứ.

Cũng cần hiểu “bất vọng ngoại” dĩ nhiên là không nên, không thể trông mong vào sự “bảo hộ” giả dối của thực dân Pháp mà đất nước được giàu mạnh, và còn có nghĩa là không nên, không thể chỉ trông mong vào sự cứu giúp của bất kì cường quốc nào để chống thực dân Pháp. Trông mong (vọng) như thế khác nào với cái ách trên cổ ngồi chờ sung rụng! Sự trợ giúp của nước ngoài, nếu có, chỉ có tác dụng một khi ta có nội lực cách mạng, về tinh thần cũng như vật chất.

Từ đâu dân tộc chúng ta thuở đó có được tinh thần cũng như vật chất đủ để cách mạng? Phan Châu Trinh xác định: “không gì bằng học”. Học để duy tân, học theo tinh thần “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Đó là, khai mở trí óc nhân dân theo kịp với đà tiến nhân loại, trọng khoa học kĩ thuật – công nghệ, chống học tập kiểu từ chương, hư văn; hướng theo tinh thần dân quyền, dân chủ; nâng cao ý chí, nghị lực, sinh khí của dân tộc vốn bị tiêu trầm, tự ti trước nền văn minh cơ khí của thực dân Pháp và Phương Tây nói chung; nâng cao quyết tâm tiến bộ để giành độc lập, tự do dân tộc; nâng cao đời sống nhân dân, thoát khỏi cảnh nghèo, để có thực lực vật chất nhằm giành độc lập, tự do…

Chỉ với nội lực tinh thần và vật chất như thế, nhân dân ta mới có thể tự chủ và phát huy có hiệu quả nếu có sự trợ giúp của nước ngoài nào đó, mặc dù ở thời Phan Châu Trinh, chủ nghĩa thực dân Phương Tây đang hoành hành, Trung Hoa nhà Thanh vẫn hòng chia chác với Pháp đất nước ta, Nhật Bản đang nuôi mộng phát xít và trong thực tế đã và đang xâm lược bán đảo Triều Tiên (gồm cả Nam Hàn, Bắc Hàn).

Hiện nay, đất nước ta đứng trước sự xâm lược, bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông, trong đó có biển đảo thuộc chủ quyền nước ta (Hoàng Sa, Trường Sa), đồng thời Trung Quốc đang lũng đoạn nước ta về kinh tế, và dĩ nhiên không thể không gây áp lực về chính trị, trong đó có lĩnh vực nhân sự… Không những thế, Trung Quốc còn cho thấy vai trò điều tiết của Trung Quốc đối với hai dòng sông quan trọng ở Việt Nam: sông Hồng, sông Cửu Long (Mê Kông)…

Tuy vậy, nhưng Việt Nam ngày nay và thế giới ngày nay, đầu thế kỉ XXI, không phải ở thời nửa sau thế kỉ XIX và nửa đầu thế kỉ XX. Hiện nay, Việt Nam có thể tự lực, tự cường và đủ nội lực để đương đầu với Trung Quốc. Hiện nay, toàn thế giới đã bước vào thời đại bùng nổ thông tin, thời đại internet, điện thoại viễn thông toàn cầu… Thời, thế, cơ đã khác trước quá xa! Do đó, học tập và suy nghĩ về tư tưởng, cuộc đời nhà cách mạng chủ hoà, quốc gia chủ nghĩa Phan Châu Trinh (1872-1926), không có nghĩa là chúng ta không thấy được thời, thế, cơ của dân tộc ta, đất nước ta cũng như bối cảnh thế giới hiện nay. Việt Nam không thể nại lí do gì để khiếp nhược, nhẫn nhục trước Trung Quốc, không thể nại lí do gì để nhẫn nhục, chịu mất hẳn Hoàng Sa và những bãi, đá khác như Gạc Ma tại Trường Sa. Phải nhanh chóng thu hồi. Phải nhanh chóng độc lập về kinh tế, chính trị… Và liệu Việt Nam chúng ta, với trình độ chất xám và công nghệ hiện đại của mình, đã thử tìm phương án nào để chủ động về nguồn nước sông Mê-kông, sông Hồng? Hồ chứa? Đập ngăn mặn?…

Trước mắt, đưa cái tên Lê-nin và cả Mác cũng như danh tính của lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh ra khỏi Hiến pháp bằng một cuộc tu chính Hiến pháp. Đó là nhân dân ta, Đảng và Nhà nước hiện nay tự cởi trói, tự giải phóng khỏi cái ách chư hầu Nga Sô (tôn thờ lãnh tụ chính trị Nga và nước ngoài), để tăng thêm nội lực dân tộc trước hiểm hoạ bành trướng của Trung Quốc.

Học tập tinh thần Phan Châu Trinh với ý thức và quyết tâm đó, trong thời, thế, cơ hiện tại của chúng ta ngày nay. Và học tập tinh thần Hồ Chí Minh cũng với tâm thế và hiện trạng thời thế như vậy.

T.X.A.
28-03-2016 (HB16)

.

Trân trọng mời đọc thêm:

CẢM NGHĨ VỀ LỊCH SỬ VÀ NHÀ YÊU NƯỚC QUỐC GIA CHỦ NGHĨA: PHAN CHÂU TRINH
.
TÁI BÚT VỀ NGƯỜI: HỒ CHÍ MINH
Trần Xuân An

kính yêu Người từng viết
xong giặc, sống lão nhàn
sách Người không là gạch
xây tù, giam đầu dân

thư viện, rừng hoa lá
triệu chim, muôn thứ cây
Kinh Chúa bên Kinh Phật
kề Sách Người, hương bay

ai tôn Người: giáo chủ
tháo quyền lực khỏi thân
rước Người khỏi hiến pháp
chính trị không cá nhân

qua sông, lìa bè pháp
Phật cõng bè, sao đi
ôm sách Người, sao bước
nếu cần, về trích ghi

không ai là tuyệt đối
tuyệt đối là xà lim
chính trị, không giáo chủ
mạch sống không đứng im.

T.X.A.
11:25 – 15:16, 23-04-2016 (HB16)

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/03/txa_tai-but-ve-nguoi_23-03hb16.jpg

—- O0O0O —-

Đã đăng ở Facebook, 28-03-2016 (HB16):

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1685690728371538

.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , | 1 Comment »

CẢM NGHĨ VỀ LỊCH SỬ VÀ NHÀ YÊU NƯỚC QUỐC GIA CHỦ NGHĨA: PHAN CHÂU TRINH

Posted by Trần Xuân An trên 26.03.2016

hidden hit counter

 
.

CẢM NGHĨ VỀ LỊCH SỬ VÀ NHÀ YÊU NƯỚC QUỐC GIA CHỦ NGHĨA
(SAU BUỔI DỰ CUỘC HỌP MẶT CỰU HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHAN CHÂU TRINH – ĐÀ NẴNG, TẠI TP.HCM, 24-03-2016)
Trần Xuân An

I. Phương châm chiến lược của Phan Châu Trinh (1872-1926):

“Bất bạo động, bạo động giả tắc tử. Bất vọng ngoại, vọng ngoại giả tắc ngu. Dự hữu nhất ngôn dĩ cáo ngô đồng bào. Viết: Bất như học”: Đừng bạo động, bạo động thì chết. Đừng trông mong nước ngoài, trông mong nước ngoài là ngu. Sẵn có một câu để bố cáo cùng đồng bào ta. Ấy là: Không gì bằng học hỏi! (*).

Đó là chủ trương của cụ Phan Châu Trinh. Chúng ta có thể hiểu:

1) Không nên bạo động, vì bạo động như phong trào Cần vương, ta sẽ bị dìm trong biển máu, do ta kém về vũ khí, bọn Pháp lại có liên minh quân sự với các nước thực dân Phương Tây;

2) Đừng cầu viện trợ nước ngoài, vì bằng cách này hay cách nọ chúng cũng thống trị nước ta (như phát xít Nhật, như Nga Sô…);

3) Phải khuyến khích toàn dân, nhất là thanh thiếu niên học hỏi văn minh, khoa học kĩ thuật, với tinh thần thực nghiệp là kinh doanh, sản xuất, không phải hư văn (khai dân trí), và tự bồi dưỡng ý chí độc lập, tự do, rồi sẽ đuổi được Pháp (chấn dân khí), dân tộc ta sẽ ấm no, hạnh phúc, tự làm chủ vận mệnh dân tộc, chủ quyền Đất nước (hậu dân sinh)…

II. Nghĩ về lịch sử và nhà cách mạng chủ hoà nhưng kiên quyết và trong sạch:

1) Thời Pháp xâm lược nước ta (1858), triều Tự Đức ban đầu chiến đấu chống lại rất quyết liệt, nhưng rồi sau trận thắng ở Đà Nẵng, ta thua hết trận này đến trận khác, buộc phải kí hết cưỡng ước này đến cưỡng ước khác. Triều Tự Đức đành phải có chủ trương giống như Phan Châu Trinh (1872-1926) về sau. Nguyễn Trường Tộ cũng vậy, nhưng ông Tộ lại còn cộng thêm vào yếu tố Thiên Chúa giáo (dựa Vatican và Pháp, rồi dựa Anh, khi Pháp thua Đức, 1871). Thậm chí, trong phái này, có thể kể cả Phạm Quỳnh (1892-1945)… Nhưng rồi đều thất bại. Trong những người chủ trương như Phan Châu Trinh, thì chỉ Phan Châu Trinh và một vài vị như Trần Quý Cáp là không làm tay sai hay làm lợi cho Pháp (chỉ làm quan nhỏ dưới triều Thành Thái, – triều do Pháp lập nên, giai đoạn sau 1885 –, một thời gian rất ngắn), nghĩa là không hưởng lợi chút nào từ chủ trương hoà với Pháp.

2) Phái chủ chiến như Trương Định, Nguyễn Văn Tường – Tôn Thất Thuyết, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Hồ Chí Minh thì nói chung đều chủ trương đánh Pháp bằng vũ trang, nhưng mỗi nhóm trong các giai đoạn khác nhau lại có nét khác nhau. Trương Định chiến đấu trong tuyệt vọng, “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã” (thấy việc nghĩa mà không làm là không phải trai tráng…). Nguyễn Văn Tường – Tôn Thất Thuyết chiến đấu bằng cách phát động phong trào Cần vương, để làm áp lực với Pháp và Thiên Chúa giáo, nhằm mục đích có giới hạn là thực dân Pháp, các cố đạo Pháp không lấn hiếp mỗi lúc mỗi nhiều hơn, chứ cũng tự biết chưa thể toàn thắng. Phan Bội Châu dựa vào Nhật, rồi cũng bị bỏ rơi (Pháp bắt tay với Nhật). Nguyễn Thái Học cũng chiến đấu trong tuyệt vọng, “không thành công cũng thành nhân”. Hồ Chí Minh chiến đấu với sách lược Hàn Tín, Câu Tiễn (chịu nhục với Nga Sô, Trung cộng để mưu việc lớn)… Con đường của Hồ Chí Minh tuy thành công nhưng dẫn đất nước rơi vào chiến tranh Hai Khối — chiến tranh ý thức hệ — và chống ngoại xâm ngược chiều nhau: Quốc gia Việt Nam – Việt Nam cộng hoà và cả Việt Nam dân chủ cộng hoà, đối địch về ý thức hệ, đều chống ngoại xâm phía sau lưng nhau!

3) Phái chủ hoà, dựa vào Pháp để canh tân, mưu việc giành độc lập về sau, còn gọi là phái Nhu đạo cũng như phái chủ chiến, chủ trương vũ trang đánh Pháp, sát tả đạo, còn gọi là phái Cương đạo: Cả hai đều yêu nước, căm thù giặc Pháp xâm lược. Trong phái chủ hoà, cụ Phan Châu Trinh được nhân dân ca ngợi vì cụ còn có tinh thần dân chủ, dân quyền, óc duy tân, trọng khoa học kĩ thuật, chống hư văn, nhất là, – xin nhấn mạnh điều này –, cụ không hưởng lợi cá nhân từ chủ trương ấy, mà trọn đời bị tù đày, biệt xứ, làm dân đen, mặc dù cụ đã đỗ phó bảng (phó tiến sĩ).

4) Vấn đề là hiện nay, trước tình hình Biển Đông, bị Trung Quốc xâm chiếm biển đảo thuộc chủ quyền nước ta, kinh tế bị Trung Quốc lũng đoạn, khống chế, thực dân mới, ta không thể cứ mãi chịu nhục là chư hầu Nga Sô (một khi Liên Xô đã sụp đổ, 1991), thể hiện trong Hiến pháp 2013…

T.X.A.
25-03-2016
____________________________

(*) Có một dị bản như sau: “Vô bạo động, bạo động tắc tử; vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu. Dư hữu nhất ngôn dĩ cáo ngô đồng bào. Viết: Bất như học” (“Không nên bạo động, bạo động thì chết. Không nên trông người ngoài, trông người ngoài là ngu. Tôi chỉ có một lời để nói với đồng bào, không gì bằng học”).
.

Đã đăng ở Facebook, 25-03-2016 (HB16):
1)
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1684001241873820&set=a.1398271570446790.1073741831.100007918808885&type=3&theater
2)
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1684041205203157&set=a.1398271570446790.1073741831.100007918808885&type=3&theater

Trân trọng mời đọc thêm:
NGHĨ THÊM VỀ PHAN CHÂU TRINH (1872-1905-1926),
NHÀ CÁCH MẠNG QUỐC GIA CHỦ NGHĨA MỘT TRĂM NĂM TRƯỚC
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | 1 Comment »

BỐN BÀI THƠ VỀ PHẬT GIÁO VÀ CỤ HỒ VỚI ĐẢNG VIỆT NAM

Posted by Trần Xuân An trên 24.03.2016

hidden hit counter

 
.
1

LỜI THIỀN, MÔI EM
Trần Xuân An

— trao đổi với nữ sĩ Thu Nguyệt —

giọt lệ, trong sương non
lai láng, màu biển biếc
khổ đau mãi vẫn còn
và mãi còn tha thiết

lời thiền là bất diệt
bất diệt lệ môi hôn
tôi yêu đời da diết
có nơi nào yêu hơn!

mỉm cười, chính pháp môn
nghìn năm như mới biết
hạt lệ lăn nuối tiếc:
trên hàm tiếu, sương tròn.

T.X.A.
sáng và trưa 21-03-2016 (HB16)

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/03/txa_troi-dat-con-nguoi_22-03hb16.jpg

2

TRỜI ĐẤT, CON NGƯỜI
Trần Xuân An

trời xanh cao quá cao
trái tim người quá thấp
ngỡ biển muôn sông sao
triết cổ sơ: bản nháp

nhìn thế giới, nhìn nhau:
cõi cướp ngầu hiếp đáp
núi xương, triều máu ngập
xưa nay, triết thêm sâu

đến từ đâu, về đâu
lòng mẹ – hòm đất đắp
nến hương còn mãi thắp
siêu thoát, lắng kinh cầu

đường đời, chân lấm láp
nước từ bi xối khắp
sức sống mãi hồng hào
sách chín mạng không hao.

T.X.A.
07:10 – 08:30, 22-03-2016 (HB16)

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/03/txa_troi-dat-con-nguoi_22-03hb16.jpg?w=400

3

NGHĨ VỀ ĐỨC PHẬT,
TỰ DO VÀ ĐỘC LẬP CỦA TÔI
Trần Xuân An

thơ về đấng giác ngộ
người đọc chăng, tuỳ duyên
Phật không vào hiến pháp
để ép toàn dân thiền!

tự do và trí huệ
tự do thật, bình yên
hiến pháp là dân tộc
đừng ghi ai, tên riêng

nếu kinh thơ tính Phật
là dây trói, thêm phiền!
Ngài đã rời ngai báu
hoà vào dân, vạn niên!

T.X.A.
07:23 – 10:05, 23-03-2016 (HB16)

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/03/txa_tu-do-doc-lap-cua-toi_23-03hb16.jpg?w=400

4

TÁI BÚT VỀ NGƯỜI
Trần Xuân An

kính yêu Người từng viết
xong giặc, sống lão nhàn
sách Người không là gạch
xây tù, giam đầu dân

thư viện, rừng hoa lá
triệu chim, muôn thứ cây
Kinh Chúa bên Kinh Phật
kề Sách Người, hương bay

ai tôn Người: giáo chủ
tháo quyền lực khỏi thân
rước Người khỏi hiến pháp
chính trị không cá nhân

qua sông, lìa bè pháp
Phật cõng bè, sao đi
ôm sách Người, sao bước
nếu cần, về trích ghi

không ai là tuyệt đối
tuyệt đối là xà lim
chính trị, không giáo chủ
mạch sống không đứng im.

T.X.A.
11:25 – 15:16, 23-03-2016 (HB16)

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/03/txa_tai-but-ve-nguoi_23-03hb161.jpg?w=400

—- O0O0O —-

LỜI THƯA NGỎ VỀ 4 BÀI THƠ
Trần Xuân An

Thưa quý anh chị em và các bạn,

Trong chùm thơ bốn bài mới nhất của tôi (thể năm chữ), có một điều khiến tôi không thể không lo ngại: Tôi nghĩ rằng mọi tôn giáo, ý thức hệ, tư tưởng cá nhân đều có quyền tự do phô diễn và chịu sự trao đổi, góp ý của công luận; đồng thời không tôn giáo nào, ý thức hệ nào, tư tưởng cá nhân nào có quyền thống trị bằng quyền lực chính trị (ghi vào Hiến pháp) đối với các tôn giáo, ý thức hệ, tư tưởng cá nhân khác. Tất cả đều bình đẳng. Cụ thể hơn, Phật giáo (Thích Ca), Thiên Chúa giáo (Jésus) có quyền tồn tại với tư cách tôn giáo, chủ nghĩa Mác – Lê-nin (*), tư tưởng Hồ Chí Minh cũng có quyền tồn tại với tư cách là ý thức hệ (hay chủ nghĩa) và tư tưởng cá nhân của một nhân vật lịch sử. Thậm chí có thể hình thành nên một tôn giáo với giáo chủ là Hồ Chí Minh. Nói chung là đều thuộc lĩnh vực văn hóa – tư tưởng, chứ không thuộc lĩnh vực chính trị với quyền lực thống trị. Tất thảy đều có tín đồ, đạo hữu, đồng chí, cảm tình viên của mình. Theo tôi, như thế mới là tự do, độc lập, công bằng, dân chủ và văn minh.

Nói như thế, không có nghĩa là tôi không đồng ý sự lãnh đạo, quản lí của Đảng, Nhà nước cầm quyền hiện hành và không nhìn nhận Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử lớn. Tôi chỉ muốn trong Hiến pháp không nên xác định sự thống trị độc quyền của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh hay của bất kì tôn giáo nào, ý thức hệ nào, tư tưởng cá nhân nào. Gần đây, đã có nhiều người nhắc lại ý tưởng của Hồ Chí Minh vào năm 1946: Không còn là Đảng Cộng sản Mác – Lê, mà chỉ là Đảng Việt Nam, mọi công dân đều là đảng viên, ngoại trừ bọn tay sai, phản quốc, tham ô.

Chỉ đơn giản là như vậy. Đơn giản, nhưng nguy hiểm. Tôi có nên rút lại, gỡ khỏi FB. chùm thơ ấy không?

T.X.A.
23-03-2016 (HB16)
___________________________________

(*) Ở chú thích này, xin nói thật: Xin phân biệt giáo chủ tôn giáo với lãnh tụ chính trị; tôn giáo và chính trị là hai phạm trù khác nhau, nhưng dễ bị đánh đồng, ở nơi này, nơi khác! Cũng xin nói thẳng, đối với đại đa số người Việt Nam, việc đem tư tưởng, ý thức hệ của lãnh tụ, đảng chính trị ngoại quốc, đế quốc (Nga Sô) về, dùng bạo lực súng đạn, nhà tù, tiến hành chiến tranh, khủng bố để áp đặt quyền thống trị trên dân tộc Việt Nam là không thể chấp nhận được. Nói cách khác, Nga Sô (và 1949, Trung Cộng) đã xâm lược với “tay trong”! Đó là việc vô tiền khoáng hậu! Xin nói lại một lần nữa.

ĐÃ ĐĂNG TRÊN FACEBOOK:

BÀN LUẬN BÀI 1:

Bình luận Chia sẻ
39Bạn, CổThư Nguyễn, Bao Nguyen Quang và 36 người khác
Bình luận
Trần Xuân An
Trần Xuân An Quý mến trao đổi với nữ sĩ Thu Nguyệt VN
Thích · Trả lời · 21 Tháng 3 lúc 14:45
Trần Xuân An
Trần Xuân An Cảm ơn bạn Lưu Trường Giang đã đọc. Đức Phật Thích Ca luôn luôn cười mỉm (cười nụ) — nụ cười của bậc giác ngộ lẽ đời… — chứ chưa bao giờ Phật cười ha ha cả, phải không bạn?
Thích · Trả lời · 1 · 21 Tháng 3 lúc 15:00 · Đã chỉnh sửa
Trần Xuân An
Trần Xuân An Xin quý thầy Dao Phan , Hà Hùng cho ý kiến
Thích · Trả lời · 1 · 21 Tháng 3 lúc 15:02
Trần Xuân An
Trần Xuân An Cảm ơn anh Quoc Hong đã bấm LIKE
Thích · Trả lời · 1 · 21 Tháng 3 lúc 15:06
Trần Xuân An
Trần Xuân An Đức Phật Di Lặc mới cười ha ha sảng khoái thôi, nhưng ngài chưa xuất hiện, chỉ trong ước vọng, ước vọng cõi trần gian không còn khổ đau (nhưng không bao giờ hết khổ đau cả!)! Còn Đức Phật Thích Ca mới là vị Phật lịch sử, có thật, hiện thực.——————- Nguồn ảnh: tượng Phật Di Lặc tại Mỹ Tho — Wikipedia
Ảnh của Trần Xuân An.
Thích · Trả lời · 1 · 21 Tháng 3 lúc 15:59 · Đã chỉnh sửa
Dao Phan
Dao Phan Nam mô a di đà Phật.
Bỏ thích · Trả lời · 1 · 22 Tháng 3 lúc 1:39

BÀN LUẬN BÀI 2:

43 Bạn, Kim Lien, Thành Lê Văn và 40 người khác
Bình luận
Trần Xuân An
Trần Xuân An Cảm ơn hai anh Trung Quang và Hoaithu Ngo đã đọc
Thích · Trả lời · 1 · 22 Tháng 3 lúc 10:13
Trần Xuân An
Trần Xuân An Cảm ơn anh Nguyen Quoc Van và bạn Thang Pham Hong đã đọc
Thích · Trả lời · 2 · 22 Tháng 3 lúc 10:16
Trần Phương Cường
Trần Phương Cường Thơ Phật? Trái tim người quá thấp- không hiểu ở phạm trù nào đây?
Thích · Trả lời · 22 Tháng 3 lúc 11:54
Trần Xuân An
Trần Xuân An Vũ trụ quan cổ sơ với trình độ khoa học kĩ thuật của loài người thuở ấy nói chung và người Việt mình nói riêng là vậy. Sự tích bánh chưng bánh dày thể hiện nhận thức thời bấy giờ: trời tròn, đất vuông. Triết học giai đoạn con người còn mông muội, còn quá bé bỏng trước vũ trụ ấy chỉ là bản nháp trong lịch sử triết học mà thôi. — Đó là điều mình muốn thể hiện ở khổ thơ thứ nhất. Ở ba khổ thơ sau, chủ yếu là nhân sinh quan (quan niệm, nhận thức của loài người về con người, cõi đời). Nhận thức về kiếp sống, cái ngã siêu linh, linh hồn, kể cả nghi thức tang lễ, kinh cầu vốn thuộc siêu hình học, nhưng mình cũng gộp vào nhân sinh quan, chứ không xem đó là biểu hiện của vũ trụ quan như nhiều người khác. Đặc biệt, ở khổ thơ cuối, đó là tinh thần khoan dung, độ lượng đối với những lấm láp do vấp ngã trên đường đời bùn bụi, thậm chí là chông gai, và đó còn là ước vọng về sự trung thực, không gian tà, bởi cộng với từ bi, thì trung chính điều kiện của tự do, lành mạnh…—- Sơ lược vậy đó, chưa nói hết, bạn Trần Phương Cường à
Thích · Trả lời · 3 · 22 Tháng 3 lúc 14:57 · Đã chỉnh sửa
Quoc Hong
Quoc Hong Cái hữu hạn đối diện với sự vô cùng
Kiếp nhân sinh là mấy thì còn ham chi mùi tục luỵ hãy để nước từ bi dội sạch những oan khiên
Bỏ thích · Trả lời · 1 · 22 Tháng 3 lúc 15:08
Trần Xuân An
Trần Xuân An Nỗi đau của loài người trên thế gian thì trập trùng, hằng hà sa số
Thích · Trả lời · 22 Tháng 3 lúc 15:43
Trần Xuân An
Trần Xuân An “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều” (Kiều – Nguyễn Du)
Thích · Trả lời · 22 Tháng 3 lúc 15:59
Trần Xuân An
Trần Xuân An Bạn Trần Phương Cường à, Đức Phật không nói gì về Thượng Đế. Đó là điều quan trọng thứ nhất. Điều quan trọng thứ hai: Đức Phật vẫn cho rằng con người có thân tứ đại (đất, nước, lửa, khí); có thể hiểu rằng con người và vũ trụ hình thành từ bốn nguyên tố ấy. —- Bạn hỏi bài thơ này có phải là được viết theo tinh thần của Đức Phật Thích Ca không? Mình trả lời: Đúng vậy, nhưng theo cách của riêng mình.
Thích · Trả lời · Hôm qua lúc 8:24

BÀN LUẬN BÀI 3:

32 Bạn, phương tấn, Khaly Cham và 29 người khác
Bình luận
Trần Xuân An
Trần Xuân An Cảm ơn hai anh Khanh Thuy Luu và Tranvansi Sivantran đã đọc duyệt
Thích · Trả lời · 23 giờ
Lephuocsinh Lephuocsinh
Lephuocsinh Lephuocsinh ‘Người đã rời ngai báu / hòa vào dân,vạn niên!” (“Ta là Phật đã Thành,Các Con là Phật sẽ Thành”)
Thích · Trả lời · 19 giờ · Đã chỉnh sửa
Trần Xuân An
Trần Xuân An Bạn Lephuocsinh Lephuocsinh ơi, ý mình muốn nói, Đức Phật từ bỏ quyền lực (Tất Đạt Đa là thái tử, sắp làm vua), đi tìm đạo, thành đạo, và cũng đưa con trai của mình đi tu luôn; điều đó chứng tỏ Đức Phật nhất quán tư tưởng chối từ quyền lực, và ngài chỉ mong cứu độ chúng sinh bằng Phật pháp, chủ yếu là diệt khổ. Phật giáo tồn tại mãi mãi cho dù mọi triều đại hưng thịnh hay cáo chung, vì Phật giáo sống trong dân, là dân, chứ không phải là chính quyền. Chính quyền có khi sụp đổ, chứ dân thì vạn đại. —- Có nhiều tôn giáo dựa vào quyền lực để phát triển, nhưng thường là bị dân oán ghét, nên “bạo phát, bạo tàn” (phát triển mạnh, tàn lụi nhanh)
Thích · Trả lời · 1 · 15 giờ

BÀN LUẬN BÀI 4:

29Bạn, Vương Tôn Hoàng, Mỹ Thuần Hồ Thị và 26 người khác
Bình luận
Trần Xuân An
Trần Xuân An Chưa thấy ai duyệt giúp bài này….
Thích · Trả lời · 19 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Xin vui lòng duyệt giúp bài này
Thích · Trả lời · 19 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Vô cùng cảm ơn anh Cao Uy Le đã đọc duyệt giúp
Thích · Trả lời · 18 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Cảm ơn bạn Nguyễn Vân Thiên đã đọc
Thích · Trả lời · 18 giờ
Huong Tranngoc
Huong Tranngoc Ai ?
Thích · Trả lời · 18 giờ
Huong Tranngoc
Huong Tranngoc Có thiệt không?
Thích · Trả lời · 18 giờ
Dao Minh Tuan
Dao Minh Tuan Tuyệt! :
“Tuyệt đối là xà lim”
Bỏ thích · Trả lời · 1 · 18 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.
(Trả lời các nhà báo nước ngoài”, trích “Hồ Chí Minh: Toàn tập”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 161-162.)
Thích · Trả lời · 18 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Cảm ơn anh Dao Minh Tuan, tôi đã sửa lại từ “tuyệt đối”, bị gõ phím sai rồi
Thích · Trả lời · 1 · 17 giờ
Tranvansi Sivantran
Tranvansi Sivantran Xã hội bây giờ dân chủ hơn rồi không đến nỗi “Tuyệt đối là xà lim”. bác Trần Xuân An ạ!
Thích · Trả lời · 15 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Anh Tranvansi Sivantran ơi, tôi muốn nói, nếu chúng ta đánh giá và tôn vinh tư tưởng, nhân cách của ai đó là tuyệt đối, thì có nghĩa là chúng ta không dám nghĩ khác đi, nghĩ mới hơn, phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội, của thế giới hơn, tức là chúng ta tự giam tù chúng ta. Đúng vậy, như thế là chúng ta tự nhốt chúng ta trong tư tưởng của tiền bối; nói cách khác, tư tưởng của tiền bối là xà lim nhốt chúng ta
Bỏ thích · Trả lời · 2 · 15 giờ
Tranvansi Sivantran
Tranvansi Sivantran Sùng bái cá nhân ạ!
Bỏ thích · Trả lời · 1 · 15 giờ
Trần Phương Cường
Trần Phương Cường Tớ thì tớ chẳng đông quan điểm. Ghét nhất những kẻ nói một đường làm một nẻo. Thơ Tố Hữu ah?
Thích · Trả lời · 15 giờ
Tranvansi Sivantran
Tranvansi Sivantran Tuỳ từng thời! Mỗi người có một cách làm! Có thể do thể chế xã hội!
Thích · Trả lời · 15 giờ

BÀN LUẬN BÀI LỜI THƯA NGỎ

Như Lạc, Do To Nhu và 15 người khác
Bình luận
Trần Xuân An
Trần Xuân An Cảm ơn bạn Ngô Vưu đã đọc
Thích · Trả lời · 11 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Bổ sung: (*) Ở chú thích này, xin nói thật: Xin phân biệt giáo chủ tôn giáo với lãnh tụ chính trị; tôn giáo và chính trị là hai phạm trù khác nhau, nhưng dễ bị đánh đồng, ở nơi này, nơi khác! Cũng xin nói thẳng, đối với đại đa số người Việt Nam, việc đem tư tưởng, ý thức hệ của lãnh tụ, đảng chính trị ngoại quốc, đế quốc (Nga Sô) về, áp đặt quyền thống trị trên dân tộc Việt Nam là không thể chấp nhận được. Đó là việc vô tiền khoáng hậu! Xin nói lại một lần nữa.
Bỏ thích · Trả lời · 2 · 10 giờ
Trung Quang
Trung Quang Vấn đề trở nên mâu thuẫn. Ý tưởng của tác giả trong những bài thơ và chủ đề của status này. Tư tưởng dấn thân và chủ trương trùm chăn hoặc do dự, mâu thuẫn nhau kịch liệt. Dù dấn thân không tích cực, màu sắc cải cách, vẫn khác nội hàm của status. Tai sao đơn giản nhưng nguy hiểm. Rút hay không, là biểu hiện việc chọn lựa thái độ nào. Không ai nhận định được bằng anh, chủ nhân của cả hai vấn đề. Mình nghĩ thế.
Bỏ thích · Trả lời · 3 · 9 giờ · Đã chỉnh sửa
Huong Tranngoc
Huong Tranngoc Đưa ý kiến ra nhưng vẫn sợ dù biết là đúng. Khổ là vậy!
Bỏ thích · Trả lời · 4 · 6 giờ
Huong Tranngoc
Huong Tranngoc Kinh nghiệm sống từ sau 75 là biểu gì làm nấy trừ biểu …, kể cả suy nghĩ cảm xúc là vô cùng an toàn luôn!
Bỏ thích · Trả lời · 2 · 5 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Robot !… Ngoai tru phong vu bieu (antene…) … Dzui .Cảm ơn anh
Thích · Trả lời · 1 · 3 giờ · Đã chỉnh sửa
Trần Xuân An
Trần Xuân An Tôi đã sửa lại cho rõ ý hơn rồi, anh Trung Quang à. Xin cảm ơn anh.
Thích · Trả lời · 1 · 3 giờ
Trung Quang
Trung Quang Rất quý anh, cả thông cảm nữa. Kẻ sĩ thời nay, vừa tồn tại, vừa giữ được khí tiết, rất khó. Được như anh, đã quá ok. Chúc anh ngày mới an bình.
Thích · Trả lời · 3 giờ
Trần Xuân An

Viết trả lời…

Chọn tệp
Trần Xuân An
Trần Xuân An Anh nói vậy, tôi cảm thấy thật không xứng đáng. Kẻ sĩ thời nào cũng rụt rè, hèn nhát, hiếm hoi lắm mới có Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thân Văn Nhiếp, và Nhân văn – Giai phẩm
Thích · Trả lời · 1 · 3 giờ
Trung Quang
Trung Quang Giữ được tính mạng, bảo toàn được khí tiết. Dù không làm được gì cho ai, nhưng không ạ dua làm tổn hại đồng bào, là tạm đủ anh ạ. Làm anh hùng thật, không dễ.
Bỏ thích · Trả lời · 1 · 3 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Bổ sung dẫn chứng: “Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài” (báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946; Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, năm 2000, trang 267-268).
Thích · Trả lời · 2 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Anh Trung Quang à, tôi và anh cũng như nhiều người khác không muốn làm anh hùng. Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Than Văn Nhiếp, nhóm Nhân văn – Giai phẩm có muốn làm anh hùng đâu! Họ vẫn mềm mỏng đấu tranh với tinh thần xây dựng đó chứ. Mềm mỏng nhưng vẫn giữ chính kiến, anh à
Thích · Trả lời · 1 · 2 giờ
Emma Vo
Emma Vo Em hỏi nghệ thuật là chi. Là đui , là điếc , là câm .
Thích · Trả lời · 2 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An Cười ra nước mắt
Thích · Trả lời · 2 giờ
Trung Quang
Trung Quang Ok, rất ok với anh.
Thích · Trả lời · 1 giờ
Trần Xuân An
Trần Xuân An (*) Ở chú thích này, xin nói thật: Xin phân biệt giáo chủ tôn giáo với lãnh tụ chính trị; tôn giáo và chính trị là hai phạm trù khác nhau, nhưng dễ bị đánh đồng, ở nơi này, nơi khác! Cũng xin nói thẳng, đối với đại đa số người Việt Nam, việc đem tư tưởng, ý thức hệ của lãnh tụ, đảng chính trị ngoại quốc, đế quốc (Nga Sô) về, dùng bạo lực súng đạn, nhà tù, tiến hành chiến tranh, khủng bố để áp đặt quyền thống trị trên dân tộc Việt Nam là không thể chấp nhận được. Nói cách khác, Nga Sô (và 1949, Trung Cộng) đã xâm lược với “tay trong”! Đó là việc vô tiền khoáng hậu! Xin nói lại một lần nữa.
Thích · Trả lời · 2 · 1 giờ
Trung Quang
Trung Quang Đã rất rõ ràng. Quân tử. Like mạnh. Khác Trịnh Công Sơn, thò lò hai mặt.
Thích · Trả lời · 1 giờ · Đã chỉnh sửa
Trần Xuân An
Trần Xuân An So sánh khác, phương diện khác: Mặt trái, mặt phải của tấm vải, sự thật của lịch sử là như vậy!
Thích · Trả lời · 58 phút

.
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »

HAI ĐẦU SÁCH THỨ 35 & 36 CỦA TRẦN XUÂN AN (CÔNG BỐ: 2014-2015-2016)

Posted by Trần Xuân An trên 19.03.2016

hidden hit counter

 
.
HAI ĐẦU SÁCH THỨ 35 & 36 CỦA TRẦN XUÂN AN (CÔNG BỐ: 2014-2015-2016)

Trần Xuân An – ĐỂ LÒNG NGƯỜI THÔI TRẦM UẤT (tập thơ)
https://docs.google.com/viewer?a=v&pid=sites&srcid=ZGVmYXVsdGRvbWFpbnx0cmFueHVhbmFud3JpdGVyfGd4OjRhN2ExNTdmYTY1NWZjMjY

Trần Xuân An – SÁNG ĐỀU HAI NỬA GƯƠNG MẶT (truyện vừa, gồm 6 truyện ngắn)
https://docs.google.com/viewer?a=v&pid=sites&srcid=ZGVmYXVsdGRvbWFpbnx0cmFueHVhbmFud3JpdGVyfGd4OjU2ZTFmYzY5OGVlM2Y1OTg

.

TRÂN TRỌNG MỜI TẢI TỆP PDF XUỐNG & IN THÀNH SÁCH GIẤY

ĐÃ ĐĂNG TRÊN FACEBOOK:

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1680692928871318&set=…..
.
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: | Leave a Comment »

BỐN CÂY NHANG TỨ HƯỚNG MỘ ANH

Posted by Trần Xuân An trên 16.03.2016

hidden hit counter

 
.

BỐN CÂY NHANG TỨ HƯỚNG MỘ ANH
Trần Xuân An

— tưởng nhớ anh Võ Thìn —

thấm những nhà thơ thân: tình bạn
ít viết, anh sống thơ suốt đời
thơ về anh, nắng sông Thạch Hãn
anh dễ thương như thơ đất trời.

T.X.A.
06:25 – 07:30, 16-03-2016 (HB16)
.

.

ĐÃ ĐĂNG TRÊN FACEBOOK:

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1679251875682090&set=….
.
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »

THỬ TRẢ LỜI BÀI BÁO CỦA NHÀ BÁO KÌ CỰU PHAN QUANG

Posted by Trần Xuân An trên 13.03.2016

hidden hit counter

 
.
.
Bài đã được gửi đăng trên báo chí
THỬ TRẢ LỜI BÀI BÁO CỦA NHÀ BÁO KÌ CỰU PHAN QUANG
(Vua Hàm Nghi nghỉ lại nhà ai trên đường từ Huế ra Tân Sở năm thất thủ kinh đô 1885?)
Trần Xuân An

I. BĂN KHOĂN TỪ LỜI KỂ ĐẾN SÁCH SỬ

Trong một bài báo, đăng trên tạp chí Sông Hương năm 1989 (1), nhà báo Phan Quang nêu ra một băn khoăn từ thời tấm bé, liên quan đến lộ trình vua Hàm Nghi từ Huế bôn tẩu ra Tân Sở, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, sau cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ năm Ất Dậu (1885). Điều đó khiến ông không nguôi trăn trở, thắc mắc. Trong nhiều năm qua, bài báo ấy ông đã cho đăng ở nhiều báo khác và cũng in trong một cuốn sách ông viết về quê hương Quảng Trị. Mới nhất, ngày 05-3-2016, ông cho đăng lại trên báo Lao Động cuối tuần, với những bổ sung mới liên quan đến nghi vấn ấy, nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm. Ông viết: “Cha tôi thường kể: “Vườn mình xưa kia rộng lắm, nó trải từ bờ sông ra đến gần sát đường quan, cách đường có một dải ruộng rộc. Vì cảnh nhà sa sút, khoảnh vườn phải chia bốn xẻ ba, còn lại có thế này”. Cha lại kể: “Nhà mình xưa kia giàu lắm”. “Vì sao nhà mình nghèo đi?”. Cha thì thầm: “Vì vua đến rồi vua đi. Bất kỳ nhà ai, hễ vua ghé rồi vua đi thì không về nhà đó sẽ sa sút” (2). “Vua nào vậy?”. Trẻ thơ bao giờ cũng tò mò. Cha ghé sát vào tai tôi, tiếng thì thầm càng nhỏ hơn: “Đức Hàm Nghi” (3). Nhưng cả bài viết và phần bổ sung vẫn đọng lại ở một câu hỏi!

Như thế, băn khoăn, thắc mắc ấy vẫn còn đó, và ông chưa tìm ra lời giải đáp.

Điều người đọc nhận ra trước tiên, câu hỏi Phan Quang nêu ra, không phải khởi xuất từ sách vở, mà do chính chuyện thân phụ ông thầm thì kể lại cho ông. Người chị ruột của ông cũng như nhà báo Lê Bân, người gọi ông bằng cậu, cũng được nghe kể lại như vậy. Theo Phan Quang, sau này, khi ông lớn lên, có dịp đọc “Việt Nam sử lược” của học giả Trần Trọng Kim, câu hỏi ấy càng lớn dần trong ông. Phan Quang trích dẫn:

“… Lúc bấy giờ, vương tôn công tử, người đi ngựa, kẻ đi chân, dân gian thì trẻ cõng già, đàn bà dắt trẻ con, ai nấy chạy hốt hoảng tìm đường tránh cho khỏi chỗ binh đao.

Xa giá đến Trường Thi (*) vào nghỉ được một lát, thì Tôn Thất Thuyết lại giục lên đường, nói rằng quân Pháp đã sắp đuổi tới. Tối ngày 23 tháng 5, xa giá vào nghỉ nhà một người bá hộ, sáng ngày 24 ra đi, đến tối mới tới thành Quảng Trị. Quan tuần phủ Trương Quang Đản ra rước xa giá vào Hành cung và đặt quân lính để phòng giữ…” (4).

Do đó, nhà báo Phan Quang viết tiếp: “Tôi hằng trăn trở: “Người bá hộ” ấy có đúng là cụ Phan Duy Tân ông nội mình?” (3).

Và về sau nữa, trải qua mấy chục năm, mãi đến năm 2014, Phan Quang bắt gặp được một tư liệu khác, tuy không phải là sử kí hay nghiên cứu sử học, mà chỉ là hồi kí của một cá nhân: “Khúc tiêu đồng” của Hà Ngại. Viên quan triều Nguyễn ấy, làm quan sau thời 1885 khá xa, nên mức độ khả tín của cuốn sách cũng hạn chế. Dẫu vậy, Phan Quang trích dẫn:

“Vua và Thái hậu xa giá vừa đến Cửa Hữu, Nguyễn Văn Tường chực sẵn để xin hộ giá. Có chỉ truyền: “Tường nên ở lại lo việc nước”. Xa giá đến chùa Thiên Mụ, Tôn Thất Thuyết đến xin vua nghỉ một chút rồi tiếp tục đi ra Quảng Trị. Đêm ấy nghỉ tại nhà một bá hộ. Chiều ngày 24 đến Quảng Trị, quan Tuần vũ Trương Quang Đản rước vào Hành cung, tuần phòng cẩn mật…” (5).

Xem ra, riêng đoạn trích này, Hà Ngại (HN.) viết hầu như không khác gì Trần Trọng Kim (TTK.), như thể tác giả “Khúc tiêu đồng” đã chép lại của tác giả “Việt Nam sử lược”:

1) Vua Hàm Nghi cùng Ba Cung (thái hoàng thái hậu Từ Dụ, hai hoàng thái phi – vợ của tiên đế Tự Đức) và đoàn tuỳ tùng có nghỉ lại trong đêm 23-5 năm Ất Dậu (tức đêm 05-7-1885) tại nhà một bá hộ trên đường từ Huế ra đến hành cung tại Thành Quảng Trị;

2) Sáng 24 (tức 06-7-1885), vua Hàm Nghi cùng Ba Cung và đoàn lại đi tiếp, đến tối (theo TTK.) hoặc chiều (theo HN.) mới tới Thành Quảng Trị.

Chính Trần Trọng Kim (sách xuất bản lần thứ nhất, 1921) và Hà Ngại (sách xuất bản năm 2014) đã củng cố thêm, để lời kể thì thầm từ cha ruột trong thời tuổi nhỏ của Phan Quang trở thành như là một sự thật được xác nhận: Vua Hàm Nghi có nghỉ đêm tại nhà một bá hộ thật. Nhưng bá hộ ấy có phải là ông nội của Phan Quang, tức là cử nhân Phan Duy Tân, làm quan đến chưởng ấn (6), vì nhiều lần can vua, nhưng không hợp, nên bị huyền chức (theo gia phả), hay không, như thân phụ ông đã kể?

Riêng bản thân tôi (Trần Xuân An), tôi cũng đã nhiều lần từng nghe đọc lịch sử làng Diên Sanh, mỗi khi vào dịp tế lễ tại đình làng (7) trong những năm tôi có mặt tại làng ấy, và mới đây cũng đọc được một văn bản có nhan đề là “Sơ lược lịch sử làng Diên Sanh”, do ông Nguyễn Tín Thừa chấp bút ngày 20-02 Quý Tị (31-02-2013). Cả hai nguồn này, trong đó đều có thông tin: Đình làng Diên Sanh là nơi vua Hàm Nghi nghỉ lại, trên đường từ Huế ra Quảng Trị, sau khi kinh đô thất thủ (05-7-1885, tức ngày 23-5 Ất Dậu), tuy không xác định thời gian dừng chân, nghỉ lại là giờ nào, bao lâu.

Như vậy, đâu là sự thật? Vâng, đâu là sự thật, mặc dù phải nói thẳng rằng đây không phải là một tình tiết lịch sử cực kì quan trọng đối với sử học mà, đúng ra, nó vô cùng quan trọng đối với nhà báo lão thành Phan Quang chỉ vì liên quan đến kỉ niệm gia đình, quê hương và tuổi thơ ông, đặc biệt là đối với ngày giỗ chung của nhiều gia đình trong họ, trong làng, vì đã có người ra đi theo vua Hàm Nghi, từ sáng hôm sau của đêm hôm ấy, và mãi mãi không về nữa?

Dẫu sao, tôi không thể không mạn phép truy vấn vào vấn đề, vì Ngày Giỗ chung ấy ở Thượng Xá đã tác động vào tôi, một đứa cháu ngoại của làng quê đó (mẹ tôi thuộc họ Phan nhánh Văn).

Tôi ngẫm nghĩ, và thấy có hai điểm cần nêu ra từ bài viết trên của Phan Quang:

1) Theo thông tin trong bài viết ấy, thì người bá hộ có thể là thân sinh của cử nhân, chưởng ấn Phan Duy Tân, tức là ông cố nội (cụ nội) của Phan Quang, cũng là người gọi chưởng vệ, thống chế Phan Bân (8) là anh ruột, chứ không nhất thiết là ông Phan Duy Tân. Vị cố nội này, một người giàu có, nhưng không làm quan, nên gọi là bá hộ, hẳn hợp lí hơn.

2) Nếu vua Hàm Nghi cùng Ba Cung và đoàn tuỳ tùng nghỉ đêm tại nhà em ruột thống chế Phan Bân ở làng Thượng Xá, Hải Thượng, Hải Lăng, tức nhà của gia tiên ông Phan Quang, thì không được hợp lí lắm, nếu theo trích đoạn từ sách Trần Trọng Kim, sách Hà Ngại. Bởi lẽ, từ làng của Phan Quang ra đến Thành Quảng Trị (nay thường gọi là Thành Cổ hay Cổ Thành) chỉ khoảng 5 km đường bộ, không có sông giữa quãng đường ấy, mà phải đi từ sáng đến chiều hoặc đến tối mới tới sao? Vua và Ba Cung cùng tuỳ tùng đang chạy giặc, để tìm cách khôi phục kinh đô, nghĩa là trong tình huống cực kì khẩn cấp, chứ đâu phải nhẩn nha du ngoạn! Vì vậy, có thể đặt giả thiết: Vua Hàm Nghi và đoàn nghỉ đêm tại Văn Xá. Tuy nhiên, Văn Xá là nơi có nhà cửa ruộng vườn của gia tộc thân mẫu vua Minh Mạng và có đền thờ bên ngoại của tiên đế (ngoại từ nhà Nguyễn), sao Trần Trọng Kim, Hà Ngại lại gọi là nhà một người bá hộ, một từ dùng để phong cho nhà giàu thường dân (bá hộ, thiên hộ)?

Tôi phải tra cứu từ tư liệu chuẩn cứ là “Đại Nam thực lục”.

II. TRA CỨU TƯ LIỆU CHUẨN CỨ

Quốc sử quán triều Nguyễn viết trong “Đại Nam thực lục” như sau:

“(Khi đó, [đoàn] tùy [tùng và xa] giá, chỉ có xe loan [:xe vua Hàm Nghi, xe Tam Cung] và lính biền binh lẻ tẻ chầu chực, trên dưới ước một trăm (100) người. Còn dư [:số còn lại là] các dinh vệ, sau khi thua trận, đều [lập] tức tìm đường tản về quê quán).

Giờ ngọ [11 – 13 giờ], [đoàn tuỳ tùng, xa giá] mới đến xã Văn Xá [gần Huế]. Nghỉ một chút, [phụ chính Tôn Thất] Thuyết tức thì kèm vâng mệnh vua, [tường thuật] đêm qua, tình hình vua phải ra đi, thông báo cho thiên hạ cần vương (9). [Ông sai phái lính trạm] lần lượt [thông] tư cho Nam Bắc tuân làm.

Ngày bính thìn [hai mươi tư tháng năm (06.07.1885)], vua cùng với xa giá Ba Cung [Tam Cung] đến tỉnh Quảng Trị; dừng nghỉ ở hành cung” (10) (11).

Trước đoạn trích này, “Đại Nam thực lục” còn cho biết: “Giờ thìn [07 – 09 giờ sáng] hôm ấy, [xa giá vua Hàm Nghi và xa giá Tam Cung] bắt đầu từ cửa Tây Nam ra”; “[Nguyễn] Văn Tường vâng ý chỉ của Từ Dụ thái hoàng thái hậu và lưu lại giảng hòa” (12); “[Phụ chính Tôn Thất] Thuyết ra sau, gặp [xa] giá, bèn một mình hộ chuyển [xa giá] đến Trường Thi (ở xã La Chử). Nhân [thế, ông] kèm [xa giá] đi ra ngoài [phía] bắc (10).

Theo đó, mặc dù Trần Trọng Kim và Hà Ngại đều viết gần y hệt như vậy, chỉ khác là hai ông này có thêm chi tiết vua Hàm Nghi và đoàn nghỉ đêm 23-5 Ất Dậu tại một nhà bá hộ, còn “Đại Nam thực lục” không viết rõ nghỉ đêm tại nhà ai cả, cũng không phải tại đình làng nào.

Rút gọn và rõ hơn, theo “Đại Nam thực lục” về lộ trình:

1) Từ khoảng 7 đến 9 giờ, sáng ngày 23-5 Ất Dậu, vua Hàm Nghi và Ba Cung, với khoảng một trăm quan lính, từ Cửa Tây Nam Thành Nội ra khỏi thành, lên chùa Thiên Mụ, ra Trường Thi ở La Chử;

2) Từ khoảng 11 giờ trưa đến 13 giờ trưa mới đến Văn Xá;

3) Ngày hôm sau, 24-3 Ất Dậu (06-7-1885), mới đến Hành cung tại tỉnh Quảng Trị (tức là tại Thành Quảng Trị) (11).

Thử làm một phép tính, khi biết quãng đường từ kinh thành Huế đến thành tỉnh Quảng Trị là khoảng 54 km (tạm theo cách tính sau này), trong đó có các đoạn đường:

Từ kinh thành Huế ra đến Văn Xá, quãng cách là khoảng 13 km;

Văn Xá – Thượng Xá = khoảng 36 km;

Thượng Xá – thành tỉnh Quảng Trị = khoảng 5 km;

Mỗi giờ đi bộ được cỡ 5 km, theo cách tính thông thường;

5 km x 7 giờ = cỡ 35 km (cho tương đương 36 km)

Từ Văn Xá ra đến Thượng Xá có quãng cách là 36 km, phải đi trong khoảng 7 giờ đồng hồ. Vậy, nếu khởi hành từ Văn Xá lúc 12 giờ trưa, vua Hàm Nghi và đoàn đến Thượng Xá vào thời điểm sớm nhất là từ 18 giờ chiều đến 19 giờ tối, muộn nhất là 20 giờ tối (thời điểm đường đi tối tăm, không thể dùng đuốc, đèn lồng, vì sợ lộ, dễ trở thành mục tiêu). Có thể tính thêm vào đó quãng thời gian dừng chân uống nước tại đình làng Diên Sanh.

Nhưng điểm bất cập vẫn còn đó, nếu theo Trần Trọng Kim, Hà Ngại: Tại sao từ Thượng Xá đến thành tỉnh Quảng Trị chỉ 5 km mà vua Hàm Nghi và đoàn lại đi suốt cả ngày 24-3 Ất Dậu, đến chiều hay tối 24 ấy mới tới? Phải chăng nên viết là: mờ sáng tinh sương 24-3 Ất Dậu, lại đi tiếp, tới lúc trời còn tối đã đến thành Quảng Trị?

Chính Quốc sử quán triều Nguyễn, trong “Đại Nam thực lục”, không viết tới nơi vào giờ nào cả: “Ngày bính thìn [hai mươi tư tháng năm (06.07.1885)], vua cùng với xa giá Ba Cung [Tam Cung] đến tỉnh Quảng Trị; dừng nghỉ ở hành cung” (10). Theo đó, có thể vua Hàm Nghi và đoàn đã tới thành tỉnh Quảng Trị vào buổi sáng sớm 24-3 Ất Dậu, vì quãng đường 5 km, chỉ cần đi một giờ đồng hồ là tới rồi.

Như vậy, cho đến dòng chữ này, chúng ta thấy về thời gian đi đường có thể xem như là hợp lí, còn câu hỏi Phan Quang nêu ra: vua Hàm Nghi và Ba Cung cùng đoàn tuỳ tùng nghỉ đêm ở nhà bá hộ nào, thì cũng chưa chắc là nhà bá hộ, vì “Đại Nam thực lục” không xác nhận, còn bá hộ ấy tên gì, thì cả hai nguồn tư liệu Trần Trọng Kim và Hà Ngại đều không ghi, và dĩ nhiên “Đại Nam thực lục” đã không ghi nghỉ đêm tại nhà bá hộ hay tại đâu, thì cũng chẳng ghi tên chủ nhà có được hân hạnh đó. Chỉ còn mỗi một gia đình và những người cùng họ tộc của nhà báo Phan Quang có người ra đi cùng vua Hàm Nghi, vĩnh viễn không về, nên có chung Ngày Giỗ 23-5 Ất Dậu, là còn ghi nhớ.

Thật ra, với bài viết này, ngoài việc tôi góp phần vào việc phân tích, nhận xét, đánh giá tính hợp lí về lộ trình – thời gian của vua Hàm Nghi và đoàn, nếu Thượng Xá, Hải Thượng là nơi vua và đoàn ghé nghỉ đêm, tôi cũng đồng thời góp phần củng cố thêm “lời-thì-thầm-cha-kể” mà Phan Quang không bao giờ quên, bằng cách viết rõ hơn về nhân thân, hành trạng và tiết tháo của chưởng vệ (được truy phong thống chế) Phan Bân, để thấy rằng Tôn Thất Thuyết đã tin cậy khi chọn nhà của em ruột Phan Bân, kề nhà vợ con Phan Bân, làm chỗ nghỉ đêm cho vua và tam cung cùng tuỳ tùng: tính hợp lí về nơi nghỉ đêm. Thêm vào đó, ở đây, tôi bổ sung thêm một chi tiết: Thượng Xá là nơi có nhà trạm thuộc hệ thống bưu chính, liên lạc của nhà nước thời đó (13). Do đó, càng củng cố thêm về tính hợp lí trong việc vua Hàm Nghi và đoàn dừng chân, nghỉ ngơi tại đây.

Vả lại, có người đọc sẽ thắc mắc, vì sao không có vật chứng nào, như kỉ vật áo bào, thanh kiếm vua Hàm Nghi đã trao tặng như đã thưởng công cho những gia chủ các nhà vua ghé lại ở Cam Lộ, Hướng Hoá, Quảng Trị hay ở Hương Sơn, Hà Tĩnh? Lời đáp chỉ là thế này: Khi dừng chân nghỉ đêm tại Thượng Xá, Hải Thượng, vua Hàm Nghi và đoàn còn nhiều hi vọng trở về Huế, không nghĩ là ra đi biền biệt, không hẹn ngày về, nên cũng không vội trao kỉ vật như một cách tưởng thưởng, mà nghĩ rằng sẽ hậu thưởng về sau; còn khi trao kỉ vật tại Cam Lộ, Hướng Hoá, Hương Sơn là khi lòng vua và đoàn nhận thấy khó có dịp trở về Huế để hậu thưởng cho họ được nữa.

Tuy vậy, một khi “Đại Nam thực lục”, vốn là tư liệu chuẩn cứ, không ghi nhận, cả đến những tư liệu tham khảo khác cũng không ghi nhận, thì đó chỉ là gia sử, hương sử, dã sử. Như đã nói, có những vụ việc cực kì quan trọng đối với một gia tộc, đối với một số người, đặc biệt quan trọng đối với tuổi thơ một cá nhân như tuổi thơ nhà báo lão thành Phan Quang, nhưng đối với lịch sử dân tộc thì không phải là sự kiện trọng đại cần ghi chép.

III. THỬ ĐƯA RA LỜI GIẢI KHẢ TÍN

Cuối cùng, để tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi mà nhà báo Phan Quang nêu ra, tôi xin viết vắn tắt như sau: Trên đường từ Tử cấm thành – Đại nội (trong kinh thành thuộc kinh đô) tại Huế ra đến tỉnh thành Quảng Trị (thành gạch tại phường Thạch Hãn, nay gọi là Thành Cổ, chứ chưa phải là Tân Sở, thuộc huyện Cam Lộ, Quảng Trị), vua Hàm Nghi và Ba Cung cùng đoàn tuỳ tùng đã dừng chân tại nhiều nơi, như Trường Thi (La Chử), Văn Xá, và chắc thêm vài nơi khác nữa trên đường đi, trước khi ra Diên Sanh, Thượng Xá (hai điểm dừng chân cuối cùng trên lộ trình này), rồi mới tới tỉnh thành Quảng Trị. Chúng ta chỉ nói là vua và đoàn có dừng chân, nghỉ ngơi, chứ đừng xác quyết có nghỉ đêm. Vả lại, trên đường chạy giặc, không thể không lo giặc Pháp sẽ truy kích, mặc dù đã phân công Nguyễn Văn Tường chịu hi sinh ở lại Huế để cản hậu giặc bằng ngoại giao, thì việc vua và đoàn nghỉ đêm là đáng ngờ! Do đó, việc các tộc phả tại Diên Sanh có ghi chép và việc nhà báo Phan Quang có nghe thân phụ kể đều đúng, đúng là vua và đoàn có ghé lại, nghỉ chân.

Với thông tin từ “Đại Nam thực lục” (không nói việc nghỉ đêm), chúng ta có thể lí giải như vậy. Lời giải này cũng khớp với thông tin truyền lại từ thuở đó đến bây giờ tại Diên Sanh và khớp với điều nhà báo Phan Quang nghe kể từ thân phụ ông (“Vua Hàm Nghi ghé làng tôi”, tôi nhấn mạnh từ “ghé”).

Kết luận này không vượt ra khỏi “Đại Nam thực lục”, cho nên mức độ khả tín là rất cao.

Tuy vậy, nếu đẩy vấn đề đến tận cùng, chúng ta cũng có thể hình dung ra, cho dù không thể đoan chắc, rằng: Nhóm chủ chiến triều đình Huế đã lường trước lộ trình nhà vua, Tam Cung sẽ chạy ra thành tỉnh Quảng Trị, lên thành Tân Sở, nên có thể có khả năng là họ đã tổ chức các điểm phục kích chặn đường quân Pháp truy kích, họ cũng đã tổ chức dàn cảnh nghi binh, đánh lừa giặc Pháp, chẳng hạn như xa giá và tuỳ tùng (giả) dừng chân ở điểm X, nhưng thực ra xa giá, tuỳ tùng (thật) đã ở điểm Y.

IV. ĐỀ XUẤT THÊM

Riêng tôi, tôi xin tỏ bày lòng trân trọng và quý mến một trang gia sử của nhà báo Phan Quang, một kỉ niệm đầy ấn tượng từ lời-thì-thầm-cha-kể của tuổi thơ ông. Và đối với tôi, tôi cũng xin cảm ơn bài báo của ông, trong đó có những chi tiết về một nhân vật lịch sử mà tôi vô cùng ngưỡng mộ, đã viết thành một đoạn truyện kí lịch sử và thành một bài thơ. Đó là chưởng vệ, thống chế Phan Bân (Phan Thanh Bân), ông cụ nội thúc bá (ông cố bác), tức là anh ruột của cụ nội nhà báo Phan Quang:

1
PHAN BÂN (? – 1869), QUAN CHƯỞNG VỆ ANH HÙNG,
TỬ TIẾT TRÊN MẶT TRẬN CHỐNG PHỈ “GIẶC CỜ” Ở BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

“… Ngoài những trận đánh tán tương Nguyễn Văn Tường trực tiếp xung trận, ông còn thu thập, nghiên cứu nhiều trận đánh tiễu trừ bọn phỉ ở các quân thứ khác trên khắp núi rừng biên giới phía Bắc. Trận quân Thanh phối hợp với thảo nghịch tả tướng quân Nguyễn Hiên ở Kỳ Lừa, Chu Quyển, Đồng Đăng cũng rất đáng nhớ. Đáng nhớ nhất là bọn phỉ Thái bình thiên quốc đã chia rẽ nhau đến mức trầm kha. Phỉ Cờ vàng do Hoàng Sùng Anh (Hoàng Anh) làm đầu sỏ đang quyết đánh với phỉ Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc. Giữa chúng với nhau đã nhiều phen máu đổ thịt rơi. Lưu Vĩnh Phúc từng toan chiếm cứ Cao Bằng, giết chóc dân ta ở biên giới không ít, nhưng nay chừng như muốn quy thuận quan quân ta. Hắn quyết đánh Hoàng Sùng Anh để lập công chuộc tội. Hắn không dám về nước Thanh, sợ sẽ bị xử tử hình! Tuy nhiên, có lẽ không việc nào gây xúc động cho ba quân, và chắc hẳn không bao giờ phai nhạt trong trí nhớ Nguyễn Văn Tường, trong kí ức quan binh như cái chết tử tiết dũng cảm của đề đốc quân thứ Thái Nguyên Phan Bân. Phan Bân người huyện Hải Lăng, thuộc tỉnh Quảng Trị. Vị tướng này vốn là quan chưởng vệ, lãnh đạo một vệ quân lớn ở Hải Dương – Quảng Yên. Dân làng quê ông thường gọi là Ông Chưởng. Tướng Phan Bân, trước đây sung làm đề đốc quân thứ Lạng – Bằng, sau đó được điều chuyển qua quân thứ Thái Nguyên để truy kích tên tướng phỉ Ngô Côn. Năm ngoái, Phan Bân bị giặc bắt sống được, khi ông dẫn quân đánh đồn Chợ Mới. Vua Tự Đức rất buồn khi được tin, liền chuẩn cho các quan quân thứ tìm cách đòi về cho bằng được. Nhưng, cảm phục thay người đã giữ tiết tháo! Phan Bân đã không chịu khuất phục bọn phỉ Tàu, quyết tự tử để khỏi chịu nhục. May là các quan quân đã tìm được hài cốt mang về. Vua Tự Đức thương tiếc, truy phong hàm thống chế…” (14).

2
TÌM MỘ ÔNG CHƯỞNG PHAN BÂN (?-1869)

mộ Người tìm ở nơi đâu
để dân hương khói, nghìn sau vẫn còn

phỉ Tàu thuở quấy nước non
nghe Phan Bân đã lạnh hồn trốn xa
máu tử tiết mãi chói loà
người Hải Lăng, phút trót sa bẫy thù

đọc ngàn vạn sách vẫn mù
một hôm sáng mắt tuổi ngu ngơ nào
phải đâu huyền thoại trời cao
đất quê là sử, trót xao lãng lòng!

bỗng thèm học tại nguồn sông
mạch khe chóp núi cánh đồng quê xa
(15).

(19: – 21:07, 27-10 HB10)

Việc dựng tượng đá, tượng đồng vị tướng anh hùng Phan Bân trong khu vườn của ông (nay của hậu duệ ông), nơi vua Hàm Nghi và Tam Cung ghé lại, nghỉ chân trên đường chạy giặc, khởi đầu phong trào Cần vương là thể hiện sự phối hợp thực lục chính sử với kí ức gia sử, vừa chân thật tuyệt đối vừa lung linh tương đối. Tính chân thực lịch sử về nhân vật lịch sử Phan Bân là rất đỗi minh xác. Còn chuyện vua Hàm Nghi và đoàn ghé lại, nghỉ chân vẫn còn lung linh, lung linh đẹp vì sự tồn tại của mẩu chuyện này chỉ có ý nghĩa, tác dụng tốt, không gây hại gì, tổn thương đến ai.

T.X.A.
13:10 – 23:05, 06-3-2016 & 07-3-2016 (HB16)
_________________________________

(1) Phan Quang, “Vua Hàm Nghi ghé làng tôi”, hồi kí, Tạp chí Sông Hương, số 37, tháng 05 & tháng 06-1989.

(2) Lỗi gõ phím. Có lẽ nguyên văn đúng là thế này: “Bất kỳ nhà ai, hễ vua ghé, rồi vua đi, không về, nhà đó sẽ sa sút”. Theo bản trên tạp chí Sông Hương, số 37, tháng 05 & tháng 06-1989: “Bất kỳ nhà ai, hễ vua ghé rồi vua ra đi thì nhà đó sẽ sa sút”.

(3) Báo điện tử Lao động: Lao Động cuối tuần, mục văn hoá – xã hội, đăng lúc 10:5 AM, 05/03/2016:
http://laodong.com.vn/lao-dong-cuoi-tuan/vua-ham-nghi-nghi-lai-nha-ai-tren-duong-tu-hue-ra-tan-so-nam-that-thu-kinh-do-1885-524812.bld
Xem thêm ở chú thích (6).

(4) Trần Trọng Kim, “Việt Nam sử lược”, bản in lần thứ 7, Nxb. Tân Việt, 1964, tr.552. Chú thích của Trần Trọng Kim: Trường thi thuở bấy giờ ở làng La Chử (in sai: Đa Chử), cách kinh thành Huế 10 cây số.

(5) Hà Ngại, “Khúc tiêu đồng – Hồi ký của một vị quan triều Nguyễn”, Nxb. Trẻ TP.HCM., 2014, tr.5-14.

(6) Cao Xuân Dục và Quốc sử quán triều Nguyễn, “Quốc triều hương khoa lục”, bản dịch, Nxb. TP.HCM., 1993, tr.402: cử nhân số 2768, khoa Canh Ngọ 1870, triều Tự Đức, trường thi Thừa Thiên, vị thứ 17: “Phan Duy Tân, người Thượng Xá, huyện Hải Lăng, làm quan đến chức chưởng ấn”.

(7) Xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, ở phía nam và cách làng Thượng Xá, xã Hải Thượng, cùng huyện, của ông Phan Quang, khoảng 5 km.

(8) Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục, chính biên” (ĐNTL.CB.), tập 32, Nxb. KHXH., 1975, tr. 11; Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện” (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 395 – 396.

(9) Đây là thông báo cần vương, chưa phải là “Dụ Cần vương” phát đi vào ngày mồng 02 tháng 6 Ất Dậu (13.7.1885), từ Tân Sở, cùng lúc, cùng điểm xuất phát với “Dụ Nguyễn Văn Tường”.

(10) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 221. Các chữ trong dấu móc vuông [ ], tôi chua thêm.

(11) Thành tỉnh Quảng Trị (có thời gian cấp tỉnh đổi thành cấp đạo, rồi trả lại cấp tỉnh), theo Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 1, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr.117: “đầu đời Gia Long, thành ở địa phận phường Tiền Kiên, huyện Đăng Xương”, sau đó, “dời đắp ở xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng”. Đó là Thành Cổ trước 1972, hiện nay chỉ còn là di tích.

(12) Tác dụng quan trọng và trước hết của việc Nguyễn Văn Tường nhận sự phân công của Nhóm Chủ chiến, mà ông là một trong hai người đứng đầu, và nhận lệnh Thái hậu Từ Dũ (hay Từ Dụ, cùng nghĩa, khác âm đọc) ở lại là bằng các động tác ngoại giao, ông đã CẢN HẬU (tôi nhấn mạnh: cản hậu) thành công đối với De Courcy, ngăn chận sự truy kích của tên tướng giặc Pháp này và quân lính của y đối với vua Hàm Nghi và đoàn trên lộ trình ra tỉnh thành Quảng Trị, kinh đô kháng chiến Tân Sở.

(13) Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 1, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 180, ghi rõ: “Trạm Trị Xá: ở xã Thượng Xá, huyện Hải Lăng…”.

(14) Trích nguyên văn từ bộ sách “Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824-1886)” của Trần Xuân An, Nxb. Văn Nghệ, 2005, tr.200-201.

(15) Trích từ tập thơ “Thơ sử và những bài thơ khác” của Trần Xuân An, Nxb. Thanh Niên, 2011, tr. 47.

——- 0o0o0o0o0o0 ——-

XEM THÊM:
TRẦN XUÂN AN,
bài “NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824-1886)
VỚI NHIỆM VỤ LỊCH SỬ
SAU CUỘC KINH ĐÔ QUẬT KHỞI (05 THÁNG 7. 1885)”
, trong đầu sách “Nguyễn Văn Tường (1824-1886), một người trung nghĩa”, Nxb. Thanh Niên, 2007
http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/nvt-mot-nguoi-trung-nghia/tep-1b1

.

ĐÃ ĐĂNG TRÊN FACEBOOK:

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1677660015841276?pnref=story

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1675761956031082&set=a.1398271570446790.1073741831.100007918808885&type=3&theater
.
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

HỒN XƯA QUÊ MẠ

Posted by Trần Xuân An trên 08.03.2016

hidden hit counter

 
.
.

HỒN XƯA QUÊ MẠ
Trần Xuân An

nghe tự thuở nằm nôi
Đàng Ngoài, lưu hồn phả

vào châu Ô dăm đời
gốc Phan làng Hoàng Xá
trổ năm nhánh xanh ngời:
Văn, Đình, Thanh, Khắc, Hữu
giữa hai gốc Lê tươi
rồi làng thành Thượng Xá
sông Nhùng mãi xanh trời

nhánh Văn sinh ra Mạ
làng thành quê ngoại tôi.

T.X.A.
09:15 – 11:38, 08-3-2016 (HB16)
_________________________

Có tham khảo, đối chiếu thông tin có tính tư liệu trong một bài báo của nhà báo lão thành Phan Quang (đăng trên báo Lao Động cuối tuần, số 10/2016 & bản điện tử, 10:5 AM, 05/03/2016).

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/03/txa_hon-xua-que-ma_08-3hb161.jpg?w=400

THOÁNG XƯA
Trần Xuân An

nhớ dòng sông Nhùng quê ngoại
(Thượng Xá, Hải Thượng, Hải Lăng, Quảng Trị)

tôi trở về đây sông ơi
bước trên lối cỏ một thời ấu thơ

ơ kìa chú bé ngây ngô
mải theo chiếc bướm thoắt chờ thoắt bay
dù áo đầy bông cỏ may
súng vang, tiếng mẹ khô gầy tìm con!
vẫn thơm nắng gió say hồn
vời trông cánh nhỏ chập chờn dần xa

sông ơi bao năm trôi qua
thoáng xưa gặp lại ướt nhoà mắt tôi.

T.X.A.
1990

(trích từ tập thơ “Hát chiêu hồn mình” và tuyển thơ “Tưởng niêm Mẹ” đã xuất bản, 1992 & 2010)

ĐÃ ĐĂNG TRÊN FACEBOOK:
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1677554292518515&set=a.1398271570446790.1073741831.100007918808885&type=3&theater
.
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

VÀI DÒNG TỰ BẠCH VỚI BẠN BÈ

Posted by Trần Xuân An trên 05.03.2016

hidden hit counter

 
.
.
VÀI DÒNG TỰ BẠCH VỚI BẠN BÈ

Trần Xuân An thuộc loại cải lương chủ nghĩa thôi! Chỉ hoà giải và kêu gọi cải cách thôi!

Vâng, đúng là như vậy.

Trần Xuân An không chống Đảng và Nhà nước cầm quyền hiện hành, cũng chẳng chống tôn giáo nào, cường quốc nào hiện nay (ngoại trừ Trung Quốc đang xâm chiếm biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa).

Trần Xuân An chỉ phân tích, chứng minh, phản biện để có cái nhìn công bằng đối với giai đoạn lịch sử 1858-1885-1945-1954-1975-1989, nhằm mục đích hoà giải dân tộc và cùng nhau hướng tới tương lai.

Nếu đọc sách của Trần Xuân An, sách giấy và sách PDF, thì rõ.

Trân trọng vá cảm ơn.

T.X.A.
03-03-2016 (HB16)

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/03/txa_tu-bach_03-03hb16.jpg

null

ĐÃ ĐĂNG TRÊN FACEBOOK: 29-2 — 03-03-2016 (HB16)


.
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Ý NGHĨ NGÀY 29 THÁNG 2 (2016 / HB16)

Posted by Trần Xuân An trên 04.03.2016

hidden hit counter

 
.
.
1

Ý NGHĨ NGÀY 29 THÁNG 2 (2016 / HB16)

Sáng nay, gỡ tờ lịch ngày hôm qua, 28-02-2016, cứ ngỡ là đã sang tháng 03, nào ngờ năm nay tháng 02 có thêm ngày 29 của năm dương lịch nhuận. Và tôi đọc được một câu danh ngôn của Voltaire: “NẾU MUỐN THÀNH CÔNG Ở ĐỜI, NGOÀI VIỆC PHẢI NGU XUẨN, BẠN CÒN PHẢI BIẾT XỬ THẾ NỮA”! (Nguyên văn bản dịch: “Để thành công trong thế giới này, chỉ ngu xuẩn là không đủ, anh cũng phải biết xử thế”).

Voltaire là một nhà văn kiêm triết gia vốn có lối viết khá mỉa mai, châm biếm!

Ờ, phải rồi, muốn thành công trên đường đời, phải biết GIẢ NGU (nếu không ngu xuẩn thật!), và phải biết giao thiệp với mọi người thế nào đó cho đẹp lòng họ (tức là NỊNH HÓT hay MUA CHUỘC à?). Nếu cứ sắc sảo, thông minh, sâu sắc, nhất là có tinh thần PHẢN BIỆN quá mạnh, ý thức DÂN CHỦ, khát vọng CÔNG BẰNG quá rõ, thì chỉ thảm bại! (Có phải ý sâu kín trong danh ngôn ấy là rứa?).

Đó là một chút suy nghĩ dôi ra của ngày 29 tháng 02.

T.X.A.
10:25, 29-02 HB16 (2016)

Ý KIẾN BÀN LUẬN Ở FACEBOOK:

Mong anh Binh Nguyen lưu ý giúp những điểm sau đây:

I. Về phía Việt Nam:

1) Bảo Đại không phải là ông vua kiên quyết chống Pháp. Ông ta còn bị chi phối bởi bà Nam Phương (tín đồ Thiên Chúa giáo). Nhưng ông ấy vẫn còn có thể được tôn trọng vì tính chính danh của các đời chúa Nguyễn, vua Nguyễn. Người làm quốc sự bấy giờ chỉ cần có một “ngọn cờ” chính danh để tôn phù (như trước đó, “phù Lê”…).

2) Địa chính trị: Việt Nam có chung biên giới với Trung Hoa. Trong hàng ngũ các người lãnh đạo Việt Minh, có người thân Trung Quốc, như Hoàng Văn Hoan chẳng hạn.

3) Trong các lực lượng chống Pháp, Việt Minh là mạnh hơn cả, có tổ chức và phương pháp đấu tranh chủ yếu là bạo lực vũ trang, nên nhân dân thấy rõ Việt Minh thật tâm chống Pháp (đồng thời cũng thấy Việt Minh là “phiên bản” của Liên Xô, Trung Cộng!).

4) Thiên Chúa giáo Việt Nam không đơn thuần là tôn giáo, mà họ hoạt động chính trị thân Pháp, họ tranh thủ được Mỹ. Sai lầm của Mỹ là ủng hộ Thiên Chúa giáo. Phật giáo có tinh thần dân tộc, nhưng không có chỗ dựa và cũng không chủ trương đấu tranh vũ trang. Nho giáo và dân lương theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tuy cũng sẵn sàng đấu tranh vũ trang nhưng không có chỗ dựa, trợ giúp vũ khí.

5) Tham vọng phục hồi thuộc địa của Pháp sau Đệ nhị Thế chiến (1939-1945) rõ rệt hơn hẳn các nước thực dân cũ khác, lại được viện trợ của Mỹ (Mỹ viện trợ cho Quốc gia của Bảo Đại thông qua Pháp!).

II. Về phía Indonesia:

1) Indonesia có đặc điểm nổi bật là nhân dân tuyệt đại đa số đều là tín đồ Hồi giáo. Hồi giáo là một tôn giáo, nên nó chống cộng sản vô thần.

2) Về địa chính trị: Indonesia cách xa Trung Quốc (Trung cộng), không chịu ảnh hưởng Trung Hoa ngày xưa cũng như Trung cộng bấy giờ (trừ Đảng Cộng sản Indonesia).

3) Hà Lan không phải là một nước thực dân cũ mạnh mẽ.

NHƯNG DẪU SAO THÌ LỊCH SỬ CŨNG LÀ NHỮNG GÌ ĐÃ XẢY RA.
CHÚNG TA NHẬN THỨC ĐÚNG VÀ ĐỦ, ĐÁNH GIÁ CÔNG BẰNG VÀ HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI.

t.x.a.
02-03-2016 (hb16)

2

PHẢI CHĂNG “BÊN NÀO THẮNG, NHÂN DÂN ĐỀU BẠI”?
XIN TRẢ LỜI ANH BINH NGUYEN ( Binh Nguyen )

Mai sau, các thế hệ ít nhiều nếm trải chiến tranh chống ngoại xâm xen lẫn chiến tranh Hai Khối, hai Miền với 2 ý thức hệ đối địch, ít nhiều còn vướng vất hận thù sẽ qua đi, lớp hậu sinh sẽ nhận định về giai đoạn lịch sử ấy (1945-1954-1975) như tôi thử nhận định, đề xuất: tôn vinh lòng yêu nước, chống ngoại xâm của quân dân Việt Nam dân chủ cộng hoà: chống Nhật, chống Pháp, chống Mỹ; và tôn vinh lòng yêu nước, chống ngoại xâm của quân dân Việt Nam cộng hoà: chống Trung Cộng, chống Liên Xô (Quốc gia, VNCH., ngoài bộ phận chống Pháp, chống Nhật ôn hoà, mềm dẻo, cũng có bộ phận chống Pháp, chống Nhật quyết liệt bằng vũ trang). Nói chung là cả dân tộc đều chống Pháp, Nhật, Mỹ, Liên Xô, Trung Cộng. Nếu bớt đề cao, sùng bái cá nhân lãnh tụ, mà đề cao tinh thần dân tộc, ý chí chống các thứ ngoại xâm của dân tộc, của nhân dân như đã liệt kê, thì dân tộc ta, nhân dân ta được hưởng niềm tự hào đó, sau khi đã tổn thất quá nhiều xương máu của các thế hệ trước.

Xét cho cùng, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn đã được hưởng quyền lực, hưởng sự tôn vinh khi đang còn sống đến mức quá cao rồi, và đều chết bệnh, chết già! Đề cao làm chi nữa!

Hãy đề cao, tôn vinh quân dân VNDCCH. và quân dân VNCH. và cho nhân dân được hưởng tự do, dân chủ, công bằng.

T.X.A.
01-03-2016 (HB16)

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/03/txa_phai-chang-ben-nao-thang-nhan-dan-deu-bai_01-3hb16.jpg

NHẤN MẠNH:

Tôn vinh lòng yêu nước, chống ngoại xâm của quân dân Việt Nam dân chủ cộng hoà: chống Nhật, chống Pháp, chống Mỹ; và tôn vinh lòng yêu nước, chống ngoại xâm của quân dân Việt Nam cộng hoà: chống Trung Cộng, chống Liên Xô (Quốc gia, VNCH., ngoài bộ phận chống Pháp, chống Nhật ôn hoà, mềm dẻo, cũng có bộ phận chống Pháp, chống Nhật quyết liệt bằng vũ trang). Nói chung là cả dân tộc đều chống Pháp, Nhật, Mỹ, Liên Xô, Trung Cộng.

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/03/txa_tu-bach_03-03hb16.jpg

ĐÃ ĐĂNG TRÊN FACEBOOK: 29-2 — 03-03-2016 (HB16)

.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: | Leave a Comment »