Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Archive for Tháng Năm, 2020

CAO BÁ NHẠ, NẠN NHÂN CHỦ NGHĨA LÍ LỊCH TRU DI

Posted by Trần Xuân An trên 29.05.2020

hidden hit counter

.
        
CAO BÁ NHẠ, NẠN NHÂN CHỦ NGHĨA LÍ LỊCH TRU DI

[Viết rõ hơn cho chú thích: (*) Cao Bá Nhạ và “Tự tình khúc” (song thất lục bát).]

Cao Bá Nhạ bị liên luỵ trong án tru di tam đại do người chú Cao Bá Quát tổ chức nổi dậy chống triều đình (1854, phù Lê Duy Cự), nhưng Cao Bá Nhạ trốn đi, rồi về sau, 1859, ông lại bị tố giác (theo một bản tấu trong Đại Nam thực lục) hay bị vu oan (theo “Tự tình khúc”), rằng bản thân ông đã tổ chức cuộc nổi dậy mới (phù Lê Duy Hoà).

Xin lưu ý đó là bản tấu về quá trình điều tra (hay tra khảo), vận động quần chúng truy bắt nghi phạm, trong một vụ án “nổi dậy” nhỏ, loại “nổi dậy” bấy giờ xảy ra khá nhiều, từ ngoài Bắc gửi vào Huế (“xa mặt trời”).

Ở đây, chỉ nói án tru di tam tộc (hay tam đại) do một người duy nhất trong gia tộc gây ra là loại hình án vi phạm nhân quyền. Qua đó, cũng phê phán cả loại tưởng thưởng phong tước, tập ấm ba đời, năm đời trong gia tộc cho người có công với triều đình phong kiến.

Về sau, nhân dân gọi đó là chủ nghĩa lí lịch.

Nói rõ hơn, ở đây chỉ nhằm phê phán chủ nghĩa lí lịch, bắt tội liên luỵ hoặc được hưởng công bằng chức quyền do các quan hệ gia tộc.

Hiến pháp và luật pháp xây dựng trên căn bản Nhân quyền của Liên hiệp quốc thì không thể có chủ nghĩa lí lịch về mặt pháp lí, hình án, về tưởng thưởng, mà chỉ nhục, vinh, trên phương diện tinh thần và chỉ trên phương diện tinh thần thuần tuý mà thôi.

“Tự tình khúc” mặc dù có những hạn chế thời đại nhất định, khi chưa có ánh sáng Nhân quyền sáng soi, là tiếng kêu đòi thống thiết về Nhân quyền.

T.X.A.
29-05-2020
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , | Leave a Comment »

NGƯỜI MẸ TRONG CHIẾN TRANH (khúc 16)

Posted by Trần Xuân An trên 27.05.2020

hidden hit counter

.
        
Bổ sung: khúc 16 (tự viết bạt)
NGƯỜI MẸ TRONG CHIẾN TRANH
Trần Xuân An

16 (khúc bạt)

lắng lòng, tôi nghiệm tôi, thuở đó
vàng, học trắng, dạy đỏ nhưng trong
hai Miền tang chế chất chồng
thắp hương riêng, còn nhẹ không, khói mờ

sống văn, sử, sống thơ, ngẩng mặt
trầm tích than, cát cắt, kết tinh
thương Cao, sai đúng, tự tình *
vẫn Nhân quyền thét rung rinh mọi triều

tàn tru di, cũng tiêu tập ấm
thưởng phạt kia đều lấm Nhân quyền
mong trung thực cả hai Miền
cả hai Khối lẫn nỗi riêng mỗi người

đau bị chém ba đời lí lịch
Cao Bá Nhạ tháo xích bằng thơ
tru di vẫn vậy, bây giờ
cả Miền Nam đều ngất ngơ rụng đầu

lí lịch trong xưa sau: gia phổ
cần cái nhìn sáng đỏ, tỏ vàng
chống hai Khối đều xâm lăng
mỗi người, tự sống nên thân phận mình

thuở chiến tranh, gia đình tôi đấy
thời hậu chiến, là vậy, thường dân
khúc ngâm đã kết còn ngân
tự dưng viết bạt như ngần ngại chi

chẳng có ai thoát li gia phổ
nào ai không Quốc tổ gia tiên
tôi sợ thơ tôi gây phiền
này “Tự tình khúc” Nhân quyền sử văn…*

mọi gia phổ người thân hai ngả
đỏ vàng lam bảy đoá chung bình *
sáu ngoại xâm nội chiến mình
viết về mẹ, lí lịch hình dung ra

viết về mẹ, gần xa quanh mẹ
nét chiến tranh, thời thế đậm mờ
lịch sử thật, nhẹ như thơ
mãi hiền lành tự bao giờ mẹ tôi.

T.X.A.
27-05 & 02-06-2020
………………

(*)a ~ Cao Bá Nhạ và “Tự tình khúc” (song thất lục bát).
Cao Bá Nhạ bị liên luỵ trong án tru di tam đại do người chú Cao Bá Quát tổ chức nổi dậy chống triều đình (1854, phù Lê Duy Cự), nhưng Cao Bá Nhạ trốn đi, rồi về sau, trong năm 1859, ông lại bị tố giác (theo một bản tấu trong Đại Nam thực lục) hay bị vu oan (theo “Tự tình khúc”), rằng bản thân ông đã tổ chức cuộc nổi dậy mới (phù Lê Duy Hoà).
Xin lưu ý đó là bản tấu về quá trình điều tra (hay tra khảo), vận động quần chúng truy bắt nghi phạm, trong một vụ án “nổi dậy” nhỏ, loại “nổi dậy” bấy giờ xảy ra khá nhiều, từ ngoài Bắc gửi vào Huế (“xa mặt trời”).
Ở đây, chỉ nói án tru di tam tộc (hay tam đại) do một người duy nhất trong gia tộc gây ra là loại hình án vi phạm nhân quyền. Qua đó, cũng phê phán cả loại tưởng thưởng phong tước, tập ấm ba đời, năm đời trong gia tộc cho người có công với triều đình phong kiến.
Về sau, nhân dân gọi đó là chủ nghĩa lí lịch.
Nói rõ hơn, ở đây chỉ nhằm phê phán chủ nghĩa lí lịch, bắt tội liên luỵ hoặc được hưởng công bằng chức quyền do các quan hệ gia tộc. Hiến pháp và luật pháp xây dựng trên căn bản Nhân quyền của Liên hiệp quốc thì không thể có chủ nghĩa lí lịch về mặt pháp lí, hình án, về tưởng thưởng, mà chỉ nhục, vinh, trên phương diện tinh thần và chỉ trên phương diện tinh thần thuần tuý mà thôi.
“Tự tình khúc” mặc dù có những hạn chế thời đại nhất định, khi chưa có ánh sáng Nhân quyền sáng soi, là tiếng kêu đòi thống thiết về Nhân quyền.
T.X.A.
( https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2607422326198369/ )

(*)b ~ Sách báo từng thể hiện cái nhìn cũ: Đỏ là tay sai, do Liên Xô đào tạo, chỉ huy, Trung Quốc điều khiển, và Vàng cũng tay sai của Pháp, Nhật, Mỹ. May ra trong cả hai phe đó có người còn tinh thần dân tộc, vậy là cũng khá rồi. Dĩ nhiên, có một bên cam làm tay sai mà có hiệu quả. Không làm tay sai, súng đạn đâu để đánh nhau! Nhưng đó là cái nhìn đen tối về mặt trái! Bảy đoá đỏ, vàng, lam chung một bình sọ trắng đất nâu mới thật là biểu tượng mặt phải giai đoạn lịch sử ấy: – Đỏ: chống Pháp, Nhật, Mỹ; – Vàng: chống Liên Xô, Trung Quốc (chống cộng); – Lam (Chùa, Đình làng…): chống chủ nghĩa vô thần và Thiên Chúa giáo Rôma…

Link khúc 16:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2605913526349249/

Link khúc 15:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2595186230755312/
.
Ảnh minh hoạ – Google search
.

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

Thông tin TRẠI CẢI TẠO SĨ QUAN VNCH. TẠI KA TUM

Posted by Trần Xuân An trên 25.05.2020

hidden hit counter

.
BỔ SUNG 4 câu vào KHÚC 14 (tổng cộng: 420 + 4 = 424 câu)

(trại Ka Tum, giặc cuồng biên giới
mù bụi đỏ, loé chói: đồng bào
gậy cùng súng, chung chiến hào
pháo tan, anh thoát cõi nào, khói hương *)

https://txawriter.wordpress.com/2020/05/14/nguoi-me-trong-chien-tranh-5-khuc-11-15/

~~~~~~~~~~
        
Thông tin TRẠI KA TUM
Thông tin về trại cải tạo sĩ quan VNCH. sau 30-04-1975 tại KA TUM, Tây Ninh.

Trích:
“… chị nhận tin anh đã được chuyển trại cải tạo đến Tống Lê Chân, thuộc Kà Tum, Sa-mát, gần với biên giới Miên…”.

“… bọn Khơ-me Đỏ có thể tấn công trại bất cứ giờ giấc nào, trại phải thay đổi chỗ ở và di chuyển liên tục…”.

“… anh ở trại cải tạo, trong một đêm Pôn-pốt tấn công vào trại, do lực lượng ít, quản giáo trại phải giao súng cho các anh để tổ chức phòng thủ. Song trước hỏa lực mạnh mẽ của Khơ-me đỏ, trại tan vỡ, mạnh ai nấy chạy thoát thân…”.

Trên đây là thông tin khách quan rất khớp với thông tin tôi nhận được từ lâu về trại Ka Tum:

1) Đây là trại cải tạo sĩ quan VNCH. sau 30-04-1975 ở gần biên giới Việt Nam – Kampuchia, thuộc tỉnh Tây Ninh;

2) Trại ấy bị KhMer Đỏ tấn kích [khoảng 1977] khiến trại bị tan vỡ.

Còn lại, các tình tiết khác trong truyện ngắn “Chị dâu” này, dĩ nhiên là chỉ thuộc về tác giả Chinh Vũ và các nhân vật của ông.

Về tác giả Chinh Vũ: tên thật Trần Vĩnh, 66 tuổi (2018), thầy giáo hưu trí, định cư tại Mỹ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, Masachusetts (MA.), Hoa Kỳ

https://vvnm.vietbao.com/a247004/chi-dau
.
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2604302106510391/
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

Người Mẹ trong chiến tranh (5 khúc 11-15)

Posted by Trần Xuân An trên 14.05.2020

hidden hit counter

.
        
NGƯỜI MẸ TRONG CHIẾN TRANH
(Tiếp theo)
Trần Xuân An

11

biển Chí Linh gần, xa tiếng sóng
nhịp thời gian vang động ruột gan
mẹ thầm hỏi vọng sông Hàn
chìm lạc biển hay yên thân về nhà?

sữa sơ sinh, tã hoa mẹ xách
xuống xà lan, thuyền tách cầu tàu
gia đình con gái đi đâu?
Vũng Tàu, mắt mẹ trũng sâu, khóc hoài

trại tạm cư, lều dài xanh bạt
màu đáy biển, đâu xác thân thương?
ra bờ, nhìn mặt sình trương
bé vâng mẹ, nhưng đại dương nghìn bờ!

nhớ cửa nhà, thẫn thờ nhớ quán
đầu tháng ba, cuối tháng tư rồi
có bom pháo nổ tả tơi?
hay Vàng bỏ cuộc này thôi tan tành?

ngoại sơ tán yên lành ngụ Đỏ
ba năm dài lút cỏ bỏ làng
sắp hồi cư, sum họp chăng
nhưng Vàng bỏ cuộc, vượt ngàn vạn ghe!

hoà bình, yên hai phe nội chiến
các ngoại cường “cai nghiện máu xương”
(mấy mươi năm phận dân thường
ghê súng đạn, ngữ văn chương rợn mình!)

trại tản cư Chí Linh nín thở
xé sóng ru xanh gió, đạn gần
lặng người, khóc bến sông Hàn
thương quê Thượng Xá, thương thân, thương đời…

(08-05-2020)

Ảnh minh hoạ nhân dân Quảng Trị tản cư và hồi cư thời chiến tranh – Google search

12

ba mẹ, em gái nuôi, còn đó
đỏ xanh ngời, gặp gỡ Sài Gòn
biển di tản, nhưng anh còn
tôi về, giã bạn, nửa hồn nhiên vui

hoà bình, nửa ngậm ngùi, đứt ruột
bao người đi, lá vượt trùng dương
thống nhất nhưng nghẹn đau thương
bốn nghìn năm, bỗng bất thường, khác xưa

ba bình thản vào chùa, hương thắp
loa quân quản rao gấp vé về
mừng lẫn lo, chờ chuyến xe
giỏ cháu ngoại, mẹ mân mê, nóng lòng

xe qua sông, qua đồng, qua phố
càng đi ra, cờ đỏ vơi xanh
ba mẹ phấp phỏng thương anh
bé lên sởi, xóc, tròng trành, sốt mê

Đà Nẵng mắt đỏ hoe, xơ xác
gặp lại chị, nước mắt mẹ cười
cháy đổ mấy chục năm rồi
người đi, chưa rõ, còn người ở nguyên

hoà bình, nghĩ không phiền, đoản hậu
mẹ hiền hoà, đau đáu hoà bình
tin bên bỏ cuộc bình minh
bên được cuộc, giũ tâm mình, sáng trong

nhớ nhà cửa, nghe lòng lửa đốt
ba mẹ ra coi sót lại gì
bé vui, ru cháu, mơ chi
hẳn mong mẹ ruột đã đi vào làng

tiễn gia đình, ngổn ngang xe khác
hoà đàm cũng tan nát vậy sao?
bước lịch sử nghiêng lệch nào
nước hoà bình, thuận lí cao sâu đời

(09-05-2020)

13

đèo Hải Vân, xe rơi, xe đổ
khải hoàn môn tre đỏ khắp nơi
chiến tranh Quảng Trị rộc người
bàng hoàng súng vẫn chĩa trời phòng không

nhà mẹ trống, gió lồng sau trước!
tủi mừng ngờ lạc nước ngoài nào
cậu dì làng ngoại chạy vào
hồi cư hai hướng, nghẹn ngào, Kẻ Diên!

Quảng Trị, nối hai miền bằng máu
nhà dân tan, tay bấu nền nhà!
xác nhà, mẹ sững lần ba
đọng rưng nước mắt nắng hoà bình ơi

làng ngoại còn cỏ bời vườn ruộng
vào giúp ba, chiều xuống cậu ra
thả râu ấm nụ cười già
bao biến động, sinh tử qua tuổi người

ba lần nát, chợ rồi đông lại
trăm dù du thay mái nhà lồng *
khổ quá nhiều, khổ như không
sạp hàng cũ ngó sanh trồng xanh xưa

từ Đà Nẵng, bé vừa ra đấy
mẹ ruột lên ôm lấy con mình
mợ ra phía Đỏ, đinh ninh
cho con nuôi, giữ nguyên tình cháu cô

mẹ nuôi, lại o cô-cậu-lại *
về Thi Ông, bé cải mới tên
bằng liệt sĩ treo đầy phên
tắt lửa đạn, sáng lửa đèn học khuya

yên hồi cư, thôi lìa Thạch Hãn
ba ra dâng mộ vắng khói hương
Trúc Lâm, thôi lấp tiếng chuông
An Cư, trầm ngát, lau vương đường vào

đình cạnh nhà, chất cao ngói vỡ
còn bàng non thay cổ thụ khô
thắp hương miếu, lạy vọng vô
nền chùa, mẹ vái, thương trơ vơ nền

trọ Bến Ngự, ra bên ba mẹ
thăm sông Nhùng tấm bé tắm hoài
hồi cư sau ba năm dài
Hiền Lương, Thạch Hãn rạn vai cậu dì

(11-05-2020)
Trần Xuân An
……………

(*) ~ Dù du: cái dù lớn, có chân đế đặt trên đất hoặc cắm vào ống tre chôn sẵn vào đất, che mưa nắng để bán hàng, có thể di chuyển. ~ O cô cậu lại: cô thuộc quan hệ cậu cô hai đời trước, mà cháu đời thứ ba gọi người chị hoặc em cậu cô với cha.

Ảnh minh hoạ nhân dân Quảng Trị tản cư và hồi cư thời chiến tranh – Google search

14

nhà Quảng Trị gỉ đi, thêm mục
lên rú rừng, cắt rút tranh mây
mười năm, hụt gạo, thiếu khoai
nhìn quanh đều đói, thở dài đói thêm

biên giới, bẻ gọng kềm Trung Quốc
máu xương, chưa nguôi được dăm ngày
Tổ quốc muôn thuở đất này
ta ở đây, mình ở đây chống Tàu

nỗi riêng, ai cũng đau, gác lại
chống Trung Quốc, mắt dại sáng ra
sáng luôn cả mắt nước Nga
chống Tàu, thống nhất Bắc và Nam chăng

xanh khoai lúa đất hoang, thơ đấy
thơ chống Tàu như mấy ngàn năm
bút ai cũng lách sai lầm
(ai khổ tâm, rời Việt Nam, đắng lòng!)

nguôi biên giới, Biển Đông gầm sóng
từ Hoàng Sa, chiếm đóng Gạc Ma!
mười năm, không gạch xây nhà
bốn năm tiếp, phế liệu là thép xây

Quảng Trị, còn tranh mây, tôn thủng
chiến trường, nay làm lụng hậu phương
thôi nội chiến chết máu xương
thì chết lí lịch, rộng đường nhà quan!

nhiều đêm, nước mắt tràn tóc bạc
con xa, con mồ lạc, hết tìm *
hoà bình, mừng sáng bừng tim
ngờ đâu hậu chiến, mẹ im lặng buồn!

(trại Ka Tum, giặc cuồng biên giới
mù bụi đỏ, loé chói: đồng bào
gậy cùng súng, chung chiến hào
pháo tan, anh thoát cõi nào, khói hương *)

………

(*) ~ Một người cùng gia đình riêng ra hải ngoại; một người bị chết vì đạn pháo kích của Kh’Mer Đỏ tại trại học tập cải tạo sĩ quan chế độ cũ ở Ka Tum, Tây Ninh. ~ Thông tin về trại cải tạo sĩ quan VNCH. sau 30-04-1975 tại Ka Tum, Tây Ninh. Trích: “… chị nhận tin anh đã được chuyển trại cải tạo đến Tống Lê Chân, thuộc Kà Tum, Sa-mát, gần với biên giới Miên…”. “… bọn Khơ-me Đỏ có thể tấn công trại bất cứ giờ giấc nào, trại phải thay đổi chỗ ở và di chuyển liên tục…”. “… anh ở trại cải tạo, trong một đêm Pôn-pốt tấn công vào trại, do lực lượng ít, quản giáo trại phải giao súng cho các anh để tổ chức phòng thủ. Song trước hỏa lực mạnh mẽ của Khơ-me Đỏ, trại tan vỡ, mạnh ai nấy chạy thoát thân…”. Trên đây là thông tin khách quan rất khớp với thông tin tôi nhận được từ lâu về trại Ka Tum: 1) Đây là trại cải tạo sĩ quan VNCH. sau 30-04-1975 ở gần biên giới Việt Nam – Kampuchia, thuộc tỉnh Tây Ninh; 2) Trại ấy bị KhMer Đỏ tấn kích [khoảng 1977] khiến trại bị tan vỡ. Còn lại, các tình tiết khác trong truyện ngắn “Chị dâu” này, dĩ nhiên là chỉ thuộc về tác giả Chinh Vũ, tên thật là Trần Vĩnh (Springfield, Masachusetts, Hoa Kỳ), và các nhân vật của ông.

https://txawriter.wordpress.com/2020/05/25/thong-tin-trai-cai-tao-si-quan-vnch-tai-ka-tum/

Ảnh minh hoạ xe khách Quảng Trị thời chiến tranh – Google search

15

chiến tranh, nỗi đau thương muôn thuở
dân tộc mình thời đó tang dày
chống ngoại xâm, cao cả thay!
nhưng quốc kì lại cờ này: Liên Xô!

nỗi nội chiến bao giờ nguôi cạn
trước 45, ngỡ bán nước rồi!
bao người về Quốc gia thôi
và Thập giá đã đoạt ngôi, phải tàn

từ Châu Âu sóng thần hai đợt *
cuốn ập vào đất nước, quê nhà
riêng cuộc “Đỏ – Vàng” chưa xa
khổ mẹ tôi, khổ ruột rà thân thương

kính nhớ mẹ, quê hương Quảng Trị
khổ rồi, thôi oan “nguỵ” chạy vô
chiến tranh, không sợ bao giờ
sợ hi sinh cho ngọn cờ ngoại bang!

như nhân dân, không vàng, không đỏ
yêu quê mình, gánh khổ nước mình
mẹ tôi mơ ước hoà bình
quên bao cháy đổ, điêu linh, nhẹ lòng

đã liền lại núi sông, mẹ ước
bên bỏ, bên được cuộc, hoà bình
cái nhìn tôi về quê mình
về nước mình, thuở chiến chinh, có phiền?

nhìn chiến tranh có nghiêng một phía?
bất công chăng? không mỉa mai chăng?
đọc bằng ánh mắt thẳng băng
đèn lương tâm sáng vĩnh hằng chiếu soi.

T.X.A.
(13 & 14-05-2020)
……………

(*) Hai đợt sóng thần từ Châu Âu: Pháp và Thiên Chúa giáo Rôma, Nga và chủ nghĩa Marx- Lénine.

Có bổ sung khúc 16

Link khúc 16:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2605913526349249/

Link khúc 15:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2595186230755312/

Link khúc 14:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2594988057441796/

Link khúc 13:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2593296374277631/

Link khúc 12:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2591804814426787/

Link khúc 11:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2591121351161800/

Link khúc 10:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2589953251278610/

Link khúc 9:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2589847697955832/

Link khúc 8:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2589326124674656/

Link khúc 7:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2588691898071412/

Link khúc 6:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2587687604838508/

Link 2 khúc 4 & 5:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2586670611606874/

Link 3 khúc 1, 2 và 3:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2583827261891209/
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Người Mẹ trong chiến tranh (3 khúc 8, 9, 10)

Posted by Trần Xuân An trên 08.05.2020

hidden hit counter

.
        
NGƯỜI MẸ TRONG CHIẾN TRANH
(Tiếp theo)
Trần Xuân An

8

vĩ tuyến tròn mãi còn đường thẳng
Hoàng Sa ơi, Thạch Hãn không chia
Hoàng Sa không thuộc ngoài kia
“da beo” Quảng Trị không lìa Hoàng Sa *

sóng Hoàng Sa vỗ oà vào trán
tâm nghiêng Đỏ, choáng váng, lại nghiêm
Bến Hải vẫn cháy nỗi niềm
gọng kìm hai Khối, que diêm sáng gì?

Tết Đà Nẵng ngóng chi phượng Huế?
ra học Huế, nhớ mẹ, trông ra
Phước Long, vỡ ảo tưởng hoà
thêm một Tết, súng tháng ba nổ rồi!

thế hệ tôi chơi vơi thế đó
ngâm “Hồ trường”, bão đỏ, lốc vàng *
đa chiều, sáng, nhưng bất an
một chiều bạo lực chấp ngàn Hoàng Sa!

đạn Tây Nguyên nháng loà Quảng Trị
bên bỏ cuộc quyết ý, ban ra
biết hoà bình chỉ còn Nga
súng mìn không mắt, chạy xa súng mìn

chạy cũng do không tin bỏ cuộc?
chạy vì lo ta buộc trói ta?
nhân dân, mười bốn tháng qua
hồi cư, lại bỏ quê nhà, giạt trôi!

(06-05-2020)

…………..

(*) ~ Hiệp định Paris 27-01-1973: ngưng bắn kiểu “da beo”, vùng đóng quân thuộc phe nào thì hai phe vẫn phải tôn trọng phạm vi ấy. Thạch Hãn không liên quan gì quần đảo Hoàng Sa. ~ Bài thơ “Hồ trường” xuất hiện trong thời bế tắc sau phong trào Đông Du, cầu ngoại viện Nhật bị tan vỡ (thậm chí sau đó nước ta bị chính Nhật xâm lược). Bài “Hồ trường” lại thịnh hành vào khoảng 1970-1975 tại Miền Nam.

Ảnh sông Thạch Hãn 1973 – Google search

9

tôi nóng ruột, ngó trời, mưa ướt
cầu An Lỗ, chặn bước, sập rồi
đi cứu trợ, trông ngược xuôi
ba ra đón mẹ, em nuôi, đang vào!

tôi vẫn nhớ năm nào mẹ nói
hoà bình, ăn hột muối, cũng mong
Quang Trung phe giữa đã không *
một phe bỏ cuộc, núi sông mới lành

cả nhà vào, nhưng anh, còn thiếu
Mai Lĩnh nổ, dân liệu đường đi
thoát Thuận An, pháo ầm ì
ba bảo tôi, phải tách li nẻo vào

xe tu viện nơi nào, tôi níu
các tu sĩ hiền dịu gật đầu
kìn kìn xe nối đuôi nhau
Hải Vân khuya, dải sao đau, Ngân hà!

trong xe, trông bao la mặt biển
có anh trên những chuyến tàu vô?
râu ba quên cạo, trắng phơ
phai tóc mẹ, em thơ, giờ nơi đâu?

(06-05-2020)

………………

(*) Thuở đó, ở Miền Nam có thành phần thứ ba (đứng giữa hai phe Hà Nội và Sài Gòn), nhưng chỉ đấu tranh nghị trường, không có thực lực quân đội.


.
Ảnh về cảnh tản cư từ Huế vào Đà Nẵng 3-1975 – Google search
.

South Vietnamese troops fill every available space on a ship evacuating them from Thuan An beach, near Hue, to Da Nang as Communist troops advanced in March, 1975. (AP Photo/Cung)


.
Ảnh tàu, xà lan chở lính VNCH. rút quân (bỏ cuộc), gần cửa biển Thuận An, Thừa Thiên, 3-1975 – AP.

10

mừng cả nhà gặp nhau, Đà Nẵng
ngoái trông ra, Huế nắng đỏ cờ?
Tam Kỳ kỉ niệm, trông vô
trời sao vàng, bạn giữ thơ giùm mình? *

vào Sài Gòn, gọi sinh viên Huế
tôi theo trường, không lẽ ở đây
cầu không vận quá cao bay
xà lan, thiếu chị non ngày nở sinh!

bỏ cuộc, còn chiến binh uất bắn
xà lan, thuyền nhỏ dẫn, gọi tàu
trại tản cư đã dựng mau
chia gia quyến, tránh kề nhau, tang chùm

Sài Gòn ơi, bạn đùm bọc bạn
bộ đội vào, đứng thẳng, cùng chào
tôi chống Mỹ, Tàu, lạ sao
tiếc từ chống Pháp ai hào quang Nga!

(07-05-2020)
T.X.A.
…………..

(*) Trân trọng và thân tình cảm ơn bạn Lê Văn Thanh (bạn thời trung học, kề nhà, tên thường gọi là Chanh) đã cất giữ giúp tôi tập thơ tôi viết tay năm 17 tuổi, “Những tình thơ mùa thu” (1973), và cảm ơn bạn Thái Quang Hồng (bạn thời sinh viên, cùng lớp) đã mang từ Tam Kỳ ra cho tôi vào năm 1977. Vô cùng biết ơn hai bạn.

Link khúc 10:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2589953251278610/

Link khúc 9:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2589847697955832/

Link khúc 8:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2589326124674656/

Link khúc 7:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2588691898071412/

Link khúc 6:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2587687604838508/

Link 2 khúc 4 & 5:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2586670611606874/

Link 3 khúc 1, 2 và 3:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2583827261891209/

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »

Người Mẹ trong chiến tranh (khúc 7)

Posted by Trần Xuân An trên 06.05.2020

hidden hit counter

.
        
NGƯỜI MẸ TRONG CHIẾN TRANH
(Tiếp theo)
Trần Xuân An

7

Tết Mậu Thân, trơ song đôi vách
ngói – xà bần, lều rách tôn bay
Hè Đỏ Lửa, miểng chém dày
ba vài sắt thủng, giạt đầy vữa vôi

mới hồi cư, che trời, căng bạt
vài sắt nhà chờ gác cột cây!
lợp tôn cứu trợ là may
phên quanh kết miếng thủng này, xé kia

giếng nhà đào, xây chia nhà cạnh
cũng vỡ thành, nước quánh, vét bùn
vá nền pháo khoét, giun đùn
còn nguyên hầm trú, đắp vun mái hầm

nhà đủ vững hằng năm mưa bão
chắn gió lào thổi rão, mỗi mùa
vẫn nhìn ra chợ bán mua
hàng tạp hoá, phố huyện vừa hồi sinh

con gái nuôi hết mình lo học
phải băng ngang, vượt dọc theo trường
chiến tranh ngắt lối, nối đường
vẫn bên mẹ, việc ngày thường, chăm ngoan

đều sống lại, huyện làng Quảng Trị
(mặc giành đất, chưa nghỉ giành dân!)
nhà là quán mẹ, bình an
cháy nhà, nhà sập, hai lần, còn chi!

đám cưới chị, mẹ đi không được
có ba lo gương lược vu quy
điện thắp thêm, chị đỗ thi
sáng phên phế liệu, kể gì neo đơn!

Trần Xuân An
(05-05-2020)

Link khúc 7:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2588691898071412/

Link khúc 6:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2587687604838508/

Xem lại 2 khúc 4 & 5:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2587687604838508/

Xem lại 3 khúc 1, 2 và 3:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2583827261891209/

Ảnh Cầu Ga cũ trên sông Thạch Hãn – Google search


.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »

Người Mẹ trong chiến tranh (khúc 6)

Posted by Trần Xuân An trên 05.05.2020

hidden hit counter

.
        
NGƯỜI MẸ TRONG CHIẾN TRANH
(Tiếp theo)
Trần Xuân An

(Tiếp theo 5 khúc 1, 2, 3, 4 & 5)
6

bàng cổ thụ cành khô chết đứng
chung nỗi đau, đình cũng tan hoang
giáo đường Chúa, cũng điêu tàn
Phật chia khổ, chùa san bằng, ngự tâm

bắc Thạch Hãn thôi ầm vang lửa
thay Hiền Lương, cắt nửa cầu Ga
bom mìn, năm rưỡi dò rà
hồi cư, còn trắng tang ma, bom mìn!

cát Kẻ Diên như phin lụa trắng
trường Nguyễn Hoàng mưa nắng vẽ lên
cư dân Hải Trí thành tên
tràm xanh trám trét mơ nên phố phường

đất ơi, quá phi thường sức sống
bài “Mười trứng”, vọng sóng thuở Gianh?
chạy vô, ngó ra không đành
đất ba huyện rưỡi, xin dành chạy ra

cát ơi, cát quê nhà Quảng Trị
Khe Nước Chè sử rỉ máu hoài
huyết ngọc, đâu phải ngọc trai
hát cho hoá ngọc nỗi ai oán này

ai oán thấu tai Thầy Địa Tạng
Quảng Trị từng lắng oán, vơi buồn
cát di tích nỡ nào suông
hồi cư, tháng chạp, nến hương, nguôi lòng

(…)

Trần Xuân An
(04-5-2020)

Link khúc 6:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2587687604838508/

Xem lại 2 khúc 4 & 5:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2587687604838508/

Xem lại 3 khúc 1, 2 và 3:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2583827261891209/

Ảnh: Google search

Posted in Không phân loại | Tagged: | Leave a Comment »

Người Mẹ trong chiến tranh (2 khúc 4, 5)

Posted by Trần Xuân An trên 05.05.2020

hidden hit counter

.
        
NGƯỜI MẸ TRONG CHIẾN TRANH
(Tiếp theo)
Trần Xuân An

(tiếp theo 3 khúc 1, 2 và 3)
4

vận nước thế, phận dân kẹt giữa
nghiêng nửa này, nghiêng nửa bờ kia
cầu Hiền Lương đã gãy lìa
như Trường Tiền gãy, sao chia ruột rà!

dân chẳng thấy sáng ra một Khối
sáng Miền nào và tối Miền nào?
đồng bào bắn giết đồng bào
dân cùng cực, ai dựa vào giặc ai?

sầu thường dân, thở dài nghẹn tiếng
cun cút cát lùi biến thân mình
đài chửi đài, dân hoảng kinh
muốn yên, lo gánh gia đình, che tai!

lũ trẻ dại sao ngoài vận nước
hồn sục sôi, gió buốt, tỉnh lòng
tôi nghe đài, tìm hừng đông
nỗi máu xương phản chiến trong mơ hồ

nhà mẹ, từ nỗi lo mưa bão
lo nắng nung khét áo gió lào
nhà mẹ – bao cát chất cao
hầm che pháo khoét bom đào, cho con

đúc bờ lô, mua tôn tích góp
cọc rào sắt ngửa ốp hàn vài
dân lo mạng sống đêm ngày
hai phe súng đạn đem cày mạng dân!

ở Quảng Trị, nhà dần xây được
trong Tam Kỳ, tôi bước vào thơ
lửa bừng bút nhóm học trò
chuông chùa cũng vọng bên bờ hương sưa

5

dân cả tỉnh sống đùa với sợ
quen chiến tranh nên ngỡ như không
lúa xanh đồng, chợ còn đông
áo chị trắng tiếp trường công Nguyễn Hoàng

nhận con nuôi, gái ngoan, bên mẹ
chị cuối tuần vào để thêm tươi
bỗng Hạ Lào, máu rựng trời
Mùa hè đỏ lửa tận nơi Cổ Thành

đưa mẹ vô, là anh, con ruột
bà con ngoại nhanh vượt đường ra
ngoảnh lui, đạn rực quê nhà
pháo “Đại lộ kinh hoàng” và Paris

trại Non Nước biển rì rào sóng
may anh trai được sống kề bên
ba cùng mẹ không nguôi quên
nhà vừa xây lại hẳn nền cũng bay

Tam Kỳ, Đà Nẵng đây, nuôi bé
anh trai chăm lo mẹ chúng mình
hồi hương, đâu đã hoà bình
Cổ Thành dù đã siêu sinh vạn hồn

nhà mẹ tan nát hơn Tết đó
kề cửa sau còn hố bom sâu
vách thành bụi, nền cỏ lau
rỗ quằn tôn, thì tìm đâu tủ giường!

ai số phận còn thương, còn đất
Quảng Trị khô nước mắt luôn rồi
cả làng ngoại cũng tả tơi
nhà năm căn rụi, không người trở vô!

(…)

Trần Xuân An
(02-05-2020)

Link 2 khúc 4 & 5:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2586670611606874/

Xem lại 3 khúc 1, 2 và 3:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2583827261891209/

Xem khúc 6:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2587687604838508/
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

NGƯỜI MẸ TRONG CHIẾN TRANH (song thất lục bát)

Posted by Trần Xuân An trên 01.05.2020

hidden hit counter

.
        
NGƯỜI MẸ TRONG CHIẾN TRANH
(15 khúc, 412 + 8 + 4 + 32 + 4 = 460 câu thơ)
Trần Xuân An

~~ viết từ chiều 25-04-2020 ~~

1

mọi sóng biển tới bờ tóc bạc
nếu giữa khơi, bạc thoắt lại xanh
thương kính người trong chiến tranh
chưa già, tóc đã trắng nhanh, đến già!

tháng bươn gần, năm xa xứ giạt
lại hai mùa miền khác tạm cư
rối lòng tin tức thật hư
ngày tránh đạn như ngày tù, dài ra

mấy lần chạy, cháy nhà, nhà sập
gạch ngói tan, tôn quắp, thành lều
vùng trắng khắp, bạc mặt đều
hồi cư, lau bạc, trắng rêu, rợn người

bao tang chế trắng trời bạc đất
lại vắng dân, dân mất, dân về
chạy Nam, chạy Bắc, sảng mê
chỉ hai phe lính xương kề vắt xương

trĩu lớp già đau thương Quảng Trị
gánh chiến tranh, buồn quỵ, gắng cười
tôi học Huế, rồi đôi nơi
thuộc thư mẹ kể suốt thời đạn bom

sâu kí ức lưu hòm thư nát
cả thơ tôi giáp mặt quê nhà
năm mươi năm rồi, hiện ra
thành ngâm khúc tím biếc hoa hoà bình

2

bên sông Nhùng khai sinh đời mẹ
vành nôi mây, chiếu chẽ nghìn xưa *
hát ru dịu nắng, ấm mưa
năm gian rầm hạ gió đùa tuổi thơ *

mẹ học trên lớp sơ học cũ
đình Hán Nôm, Pháp ngữ tập tành
giáo khoa thư Việt, mực xanh
lính Cần vương hiển linh quanh đường làng

giỏi bơi lội vượt băng giải tỉnh
đất Ba Lòng ghe lĩnh canh đầy
Hoàng Xá là Thượng Xá đây *
khúc ca tẽ bắp vui vầy Việt Minh

cô bí thư đẹp xinh nữ hội
dạy bình dân, cứu đói với làng
chạy Tây, lại vua, cờ vàng
Mỹ – xua Nhật – bảo Pháp sang cũng về

khổ tâm, thực như mê, lịch sử
thôn nữ xưa, phận nữ như xưa
người ơn Chúa Nguyễn, nghe vua
thôi Việt Minh, đã cưới đưa mẹ vào

(vàng búa liềm, vàng sao, nền đỏ
cờ ngoại cường! Máu đổ cho Nga!
ba rời, lạy ảnh Cha Già *
chống Tây, đường đó, xót xa đồng bào!)

sôi hận Tàu như trào hận Pháp
giẫm Tổ quốc lẫn đạp thân nhân
Việt Nam, chữ nhẫn, Triều – Hàn
năm năm Huế, vận nước chăng, Huế nào

Genève chém nhát đao: Bến Hải
sau Điện Biên, Pháp hãi hùng hàng
rõ hai Khối lại chia ngang!
thêm năm năm Huế, ra làng gần quê

vào An Giang, cũng về Hải Thọ
bốn năm, cùng phố chợ bán mua
Mậu Thân, đạn gấp mươi mùa
tản cư, nhà cháy, về chưa lửa tàn!

……………

(*) ~ Chiếu chẽ (chiếu chẹ): tấm chiếu nhỏ lót nôi trẻ con được đan bằng thân cỏ lác phơi khô. ~ Rầm hạ: sàn nhà đều lát gỗ, cách đất nền khoảng 50 cm. Ở đây, cả năm gian nhà rường xưa đều lát gỗ như thế. ~ Hoàng Xá, theo “Ô Châu cận lục”. Về sau, đổi tên là Thượng Xá. ~ Cha Già: Bác Hồ (Hồ Chí Minh); bấy giờ, gọi Bác Hồ là Cha Già Dân Tộc.

3

ra Phe Thượng cũng làng ngoại đó
nhà dượng dì vẫn đỏ Việt Minh
sông Nhùng kề trảng cát tinh
phù sa ngập dép học sinh, xanh đồng

dỗ dành con, nhưng lòng mưa rét
Mậu Thân này, thoát chết, trắng tay
nhà cháy rồi, oán ai đây?
chiến tranh nổ khắp nước này đạn bom!

bao hừng đông, chiều hôm trên ngói
bao mưa lùa, nắng xói quanh tường
căn lầu phố huyện thân thương
chở che, cũng chịu vô thường chiến tranh

cả cơ nghiệp có thành không lại
nỗi âu lo dài mãi bom mìn
chồng xa trong Quảng, bặt tin
con đầu sống sót? Huế nghìn xác phơi…

cháu gái mẹ sáng trời vào chợ
quét tro tàn ngói đổ, dọn nền
tối cùng du kích hiện lên
rút quân, lính Mỹ vẽ đen mặt tìm

ngôi nhà mẹ, đứng im hai vách
xô ngọn đi, tôn rách lều sau
tấm nhôm cứu trợ, lợp mau
tin yên ra, huyện không lâu, súng rền

chất bao cát, đào nền – hầm trú
hầm là nhà, hầm đủ mọi nhà
chặn sóng đỏ vào, Mỹ qua
tôi vô Huế học, như xa chiến trường

bà con ngoại nối đường tiếp tế
mẹ bán hàng, nhờ mẹ mua hàng
tôi xa mẹ, buồn mênh mang
đường nhà xưa, Huế bâng khuâng Âm Hồn *

(Huế còn buồn vì còn Thập giá
thương dân mình, thương quá nước mình!
cậu dì vẫn đỏ Việt Minh
giáo đường cải đạo, im kinh, hoang tàn! *)

(…)

T.X.A.
……………

(*) ~ Đường Âm Hồn, có Miếu Âm Hồn thờ nghĩa sĩ, nghĩa dân hi sinh trong trận Kinh đô quật khởi chống Pháp, thất thủ 05-07-1885, về sau gọi là đường Nguyễn Hiệu (Nguyễn Duy Hiệu), nay là đường Lê Thánh Tôn, thuộc thành nội, TP. Huế. ~ Trong quãng thời gian Ngô Đình Diệm cầm nắm chính quyền, ở Phe Hạ làng Thượng Xá, các linh mục tại Quảng Trị có xây một ngôi giáo đường, để truyền đạo, nhưng rồi cũng hoang phế, không có giáo dân.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2583827261891209/
.
Xem tiếp 2 khúc 4 & 5:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2586670611606874/
.

Vàng thấu hiểu Đỏ, Đỏ thấu hiểu Vàng. Thế là hoà giải dân tộc.

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , | Leave a Comment »