Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Archive for Tháng Chín, 2010

Chùm thơ 10 bài về Phú Yên

Posted by Trần Xuân An trên 15.09.2010

hidden hit counter

Cập nhật: 15-10 HB10: BÀI THỨ 10 ĐÃ ĐƯỢC BỔ SUNG 2 KHỔ THƠ VÀ 3 CHÚ THÍCH.

mừng hết lạm mù trong đáy mắt
bói trong thư ấy (8), vướng mê lầm
mõ vang khẽ thức hồn yêu nước
sử học là chuông, không quẻ xăm!

dịch biến tùy thời, mong chính trực
đâu ai tạ sự, nổ hay ngầm
Mai Xuân, án kết (9), nào sư Trứ
tuyệt mệnh thơ Người, mãi hát ngâm (10).

(Xem tiếp trọn bài 10 ở cuối khung này)

Cập nhật: 10-10 HB10 (2010): ĐÃ BỔ SUNG THÊM MỘT BÀI THỨ 10

Cập nhật: 03-10 HB10 (2010): ĐÃ ĐĂNG TRỌN VẸN 09 BÀI

CHÙM THƠ 3 BÀI KHI SẮP ĐI PHÚ YÊN

Trần Xuân An

1). Hình dung khi đến Phú Yên
2). Kính nghĩ về Lê Thành Phương (1825-1887), nghĩa tướng Cần vương (*)
3). Gành Đá Đĩa

_____________________

(*) Theo một số tài liệu gần đây cho biết, Lê Thành Phương là tác giả “Hịch Chiêu quân”. Trong đó, có câu không đúng với sự thật lịch sử. Phải chăng đó là một văn bản đáng ngờ? (Giới sử học và bản thân tôi đã làm sáng tỏ). Cũng nên nói thêm: Ngoại trừ các chi tiết bôi nhọ, xuyên tạc, chính các bản dụ, cáo thị của thực dân Pháp, nguy triều Đồng Khánh – Nguyễn Hữu Độ cũng vô hình trung ghi nhận lòng trung thành của nhân dân, phong trào Cần vương các tỉnh tả kì đối với Nguyễn Văn Tường (1824-1886), Tôn Thất Thuyết (1839-1913). Do đó, “Hịch Chiêu quân” chắc hẳn đã bị thêm bớt do người đời sau.

Lê Thành Phương không được sách sử trong Nam ngoài Bắc, từ trước đến nay đề cập đến, mặc dù đều có viết về phong trào Cần vương ở Phú, Khánh, Thuận (?). Đền thờ ông mới được người dân địa phương (?) xây dựng từ 1956, tu bổ vào năm 1971. Xin đánh 2 dấu hỏi khoa học ở 2 điểm này.

Xin xem thêm bốn (04) đầu sách của Trần Xuân An đã xuất bản và các bài khảo cứu khác của tác giả về đề tài Nguyễn Văn Tường (1824-1886).

TXA.
12 &14-9 HB10 (2010)

SẼ CÔNG BỐ SAU

—————————————–

Cả thảy 9 bài
ĐÃ NỘP (27-9 HB10):
Trưởng trại, nhà văn Đỗ Viết Nghiệm (cùng một số nhà thơ, nhà văn trại viên)
& ĐÃ GỬI ĐĂNG, PHÁT (23 & 27-9 HB10):
Nhà thơ Phan Hoàng, nhà văn Thu Trân (tạp chí Đương Thời) & các báo, đài ở Phú Yên
Nhạc sĩ Ngọc Quang (chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Yên)
Tttđt. Hội Nhà văn Việt Nam (29-9 HB10)

Cập nhật: 29-9 HB10 (2010):

Các bài thơ Trần Xuân An viết tại Đồi Thơm, Tuy Hòa, Phú Yên, trong thời gian dự Trại sáng tác do Hội Nhà văn TP.HCM. tổ chức, phối hợp với Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Phú Yên, với sự hỗ trợ của Công ti Du lịch sinh thái Sao Việt, từ 18 đến 28-9 HB10 (2010):

4). Bài toán đố về trung thu
5). Cuộc khởi binh nâu sồng 1898
6). Tùy bút ở Phú Yên
7). Từ Sông Cầu, ngắm Phú Yên như tranh sơn thủy
8). Ở Gành Đá, Huế bỗng dưng Tuy Hòa
9). Tiền Chiến và Đồng Cam

Bản đồ lớn hơn: Nguồn: khudothimoi. com

Ảnh lớn hơn

TXA. nhiếp ảnh tại Phú Yên, trong thời gian tham dự Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM., từ 18 đến 28-9 HB10 (2010)

Trần Xuân An

KÍNH NGHĨ VỀ LÊ THÀNH PHƯƠNG (1825-1887),
NGHĨA TƯỚNG CẦN VƯƠNG

Lệnh người đi – Dụ về kẻ ở (1)
chiếncần; “hòa” quyết bất đồng (2)
Ông yêu nước trách Người yêu nước?
hay cáo giặc làm ai nhiễu lòng? (3)

năm thập niên gần đây tưởng nhớ (4)
nước mắt buồn chảy ngược vào hồn
trang sử cũ giờ đây lật mở
Ông và Người chung trái tim son

Người gục chết, đảo đày – châu Mỹ (5)
bến Cây Dừa, máu đẫm vai Ông
Hịch Chiêu quân, chữ nào đã lỡ?
chú giải đành khắc giữa núi sông (6)

hay chỉ từ một chín bảy mốt
Hịch thêm vào nét nghĩa vu oan
tranh thờ Ông, cũng sai trang phục
quản hương binh, hệt tướng vua Càn! (7)

nghìn đời sau dâng hương lễ hội
trán trang nghiêm, ánh mắt trong hơn
kế li gián, giặc gieo, đã rõ
Ông và Người cùng sáng nước non.

TXA.
15:40, ngày 13-9 HB10 (2010)
và sáng sớm 14 – 9 HB10, tại TP.HCM.

(1) “Lệnh dụ thiên hạ Cần Vương” và “Dụ Nguyễn Văn Tường”, từ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị), được phát đi khắp nơi và gửi về Huế trong cùng một ngày, 13 – 7 – 1885 (02 – 6 Ất Dậu), với sách lược “kẻ ở, người đi”.

(2) Kháng chiến là cần vương (giúp vua [cứu nước]); “hòa”, nhưng quyết không cùng lòng với giặc Pháp. “Hòa” ở trường hợp Nguyễn Văn Tường, trong thời điểm sau ngày 05 – 7 – 1885, thực ra là chiến. Nguyễn Văn Tường vốn là người đứng đầu nhóm chủ chiến (xem: bản án chung thẩm trong “Đại Nam thực lục”, kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., tr. 35).

(3) “Hịch Chiêu quân” của Lê Thành Phương có câu không đúng với sự thật lịch sử. Từ lâu, giới sử học cùng bản thân tôi đã làm rõ. Cũng cần nói thêm: đồng thời với các chi tiết bôi nhọ, xuyên tạc, chính các bản dụ, cáo thị của thực dân Pháp, ngụy triều Đồng Khánh – Nguyễn Hữu Độ cũng vô hình trung ghi nhận lòng trung thành của nhân dân, phong trào Cần vương các tỉnh tả kì đối với Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), Tôn Thất Thuyết (1839 – 1813). Do đó, “Hịch Chiêu Quân” chắc hẳn đã bị thêm bớt do đời người đời sau (“hay cáo giặc làm ai nhiễu lòng?” – TXA) (*). Xin xem thêm bốn đầu sách đã xuất bản chính thức của Trần Xuân An cùng các bài khác của tác giả (trong cuốn “Bàn thêm về mấy vấn nạn sử học”) về đề tài Nguyễn Văn Tường.

(*) Năm 1971, mới công bố “Hịch Chiêu quân”. Trích dẫn từ các nguồn tài liệu:

— “Do các ông Lê Thành Thao, Lê Thành Lược, Võ Toàn Lưu, cháu nội ngoại 4 đời của Lê Thành Phương sưu tầm. Các bài này hiện còn ghi tại đền thờ Lê Thành Phương” (Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật Phú Khánh, xuân Giáp Tý, số 2 – 1984, tr. 32 – tài liệu tại Thư viện Phú Yên).

— “Bài hịch này, đọc trước ba quân tướng sĩ (*1), vào tháng 8-1885, ở núi Một, thôn Tân An, tổng Xuân Vinh, phủ Tuy An. Thân quyến Lê Thành Phương đã ghi chép và lưu giữ bản hịch này. Đến năm 1971 (đền thờ Lê Thành Phương xây dựng xong), ông Võ Toàn Lưu và ông Lê Thành Thao chép bài hịch thành văn bản để thờ tại đền thờ Lê Thành Phương” (Đặc san “Danh nhân lịch sử Lê Thành Phương”, Bảo tàng tỉnh Phú Yên xuất bản, 2-1997, tr. 17 – tài liệu của ThS. Nguyễn Quang Trung Tiến)

(*1) Lê Thành Phương chỉ là một vị chỉ huy lực lượng hương binh ở một địa phương mà thôi.

Thêm vào đó, tấm chân dung Lê Thành Phương được đặt ở bàn thờ trong đền thờ ông là một bức họa được vẽ, cho chúng ta thấy ông mặc quan phục (trang phục quan võ triều Nguyễn?). Rõ ràng đó là chi tiết phi lịch sử. Suốt đời Lê Thành Phương chưa hề làm quan (chỉ đỗ tú tài, ở nhà dạy học) và lúc khởi nghĩa Cần vương (sau 5-7-1885), chắc chắn ông không có điều kiện kịp thời để mặc quan phục võ tướng. Mặt khác, các sĩ phu lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa Cần vương chỉ chỉ huy hương binh và cung cách ăn mặc cũng theo cách của các nghĩa sĩ, nghĩa là không mặc quan phục võ tướng như thế.

(4) Lê Thành Phương không được sách sử trong Nam ngoài Bắc từ trước đến nay đề cập đến, mặc dù đều có viết về phong trào Cần vương ở Phú, Khánh, Thuận. Thậm chí, A. Laborde còn cho rằng phong trào Cần vương ở Phú Yên (1885-1887) là do người Bình Định thúc đẩy, cụ thể là Mai Xuân Thưởng (1860-1887) (bài “Tỉnh Phú Yên”, trong “Những người bạn cố đô Huế” [B.A.V.H.], tập XVI, năm 1929, Nguyễn Cửu Sà dịch, Lưu Nguyễn, Nhị Xuyên hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 2003, tr. 389-391 [tr. 382-454]). Đền thờ Lê Thành Phương mới được dựng từ 1956, tu bổ vào năm 1971. Xin đánh dấu hỏi khoa học ở điểm này.

(5) Quần đảo Tahiti, thuộc Pháp, trên Thái Bình Dương, gần châu Mỹ.

(6) Hiện nay, thực hiện yêu cầu khoa học cần thiết là chú giải vào “nguyên bản” lưu hành. Gọi là “nguyên bản” nhưng thực ra bản gốc “Hịch Chiêu quân” không còn.

(7) Khổ thơ này, tôi viết thêm sau khi từ Phú Yên về (29 – 30-9 HB10), để sát hợp với thông tin – tư liệu hơn. Xem lại bị chú của chú thích 3.

 



____________________________________________________
 
Cập nhật bổ sung (ngày 05-10 HB10 [2010]):
 
 
 



Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 101, 9+10-2010 – mục lục

Xin lưu ý trang này:



T.chí Huế Xưa và Nay, số 101, 9+10-2010 – 2 tr. cuối b. khảo cứu

 


________________________________________________

 

Ảnh lớn hơn

Các nhà văn, nhà thơ Đoàn Thạch Biền, Trần Xuân An, Trần Hữu Dũng, Ngô Liêm Khoan, trại viên Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM. tại Phú Yên, và một phóng viên, từ 18 đến 28-9 HB10 (2010) —- Nhiếp ảnh: Nguyễn Nhân (photo . net)

Ảnh lớn hơn

8 nhà thơ, nhà văn dự trại Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM. tại Phú Yên, 18 — 28-9 HB10 (Thu Trân, Trần Xuân An, Đỗ Viết Nghiệm – trại trưởng -, Đặng Hồng Quang, Phố Giang, Nguyễn Bính Hồng Cầu, Quang Chuyền, Trần Hữu Dũng), nhạc sĩ Ngọc Quang (chủ tịch HVNNT.PY.), nhà thơ Phan Hoàng (UV.BCH.HNV.TP.HCM.). Ảnh được chụp lúc đến thăm Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Phú Yên —- Nhiếp ảnh: anh Bình (tài xế Cty Sao Việt)

Xem thêm: Các bản tin của báo chí (links) về Trại sáng tác HNV.TP.HCM. tại Phú Yên.

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

Cập nhật: 03-10 HB10 (2010)
Đã đăng trọn vẹn:

Bài 1

Trần Xuân An

HÌNH DUNG KHI ĐẾN PHÚ YÊN

xe với sao mai cùng lúc tới
Phú Yên, nhụy sáng, xinh Tuy Hòa
mình, con đom đóm nhiều năm trước
gùi trăng Chiau Mạa, có lần qua

đèn đuốc thuở nào hiu hắt lắm
sáng nhau, nguồn sáng là trăng trời
sớm nay còn xám, thơ bừng thắp
tâm kết mỗi từ, trăm ngọc tươi

đâu phải Tản Đà thơ quán gió:
đa tình con mắt Phú Yên xưa
duyên hơn lửa, nắng, trăng và điện
tim ngời, sao liếc, nghe đong đưa!

lòng hòa, nốt nhạc vin dây vút
đất giàu thương mến, rất bình an (*)
ngày đầu khẽ lắng chuông trong ngực
đom đóm – ngọc trai – sao biếc ngân.

TXA.
Lúc 17giờ, 12-9 HB10 (2010)
& lúc 12 giờ, 17-9 HB10 tại TP.HCM.

(*) Phần nào theo nghĩa chữ Hán của hai địa danh Tuy Hòa, Phú Yên.

Bài này được viết
sau khi nhận được thông báo sẽ đi dự trại sáng tác Phú Yên
từ 18 đến 28-9 HB10 (2010)
& có sửa ít chữ sau cuộc họp nhóm nhà văn, nhà thơ dự trại ở cơ quan HNV.TP.HCM.

Bài 2
(xem ở bên trên)

Bài 3

Trần Xuân An

GÀNH ĐÁ ĐĨA

thơ tiên đĩa gốm huyền vàng?
kìa em, hoành tráng đã ngàn năm đây

chồng chồng đĩa nhạc say say
ngắm cao lớp lớp ảnh đầy đĩa ghi?

núi trào cảm xúc, lạ chi
tận nơi, mắt mới ngợp kì công ai

ta xây thêm nhé, tháp đài
đĩa ngời biển chữ vun hoài tượng em.

TXA.
7:10, 14 – 9 HB10
tại TP.HCM.

Bài 4

Trần Xuân An

BÀI TOÁN ĐỐ VỀ TRUNG THU

mỗi tháng một lần tròn đầy
mỗi năm một lần sáng nhất
nếu chia đều trên trái đất
mỗi người đẹp mấy đêm ngày?

bài toán đố rất thơ ngây
mãi mãi loài người nát óc
trăng bạc phai dần mái tóc
vẫn trăng nhắc nhở giữa trời

nhưng đó là trăng xa xôi!
trăng đời: chén cơm đều trắng
trăng đời: bóng đèn đều rạng
cho dù sáng – mờ, đầy – vơi

sáng và tròn trên cõi đời
lại là vượt lên hiện có
mỗi người, mấy thời vượt khó?
lời giải là ở mình thôi!

TXA.
6g – 6g45’, 20.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

Bài 5

Trần Xuân An

CUỘC KHỞI BINH NÂU SỒNG 1898

tam quan, bình phong nứt
khu bảo tháp gió lùa
chùa cổ đồi Đá Trắng
còn chăng dăm nét xưa?

am nghĩa binh Võ Trứ
vọng hoài vó ngựa khua
gạch vôi sao quá mới
dưới gốc thu trăm mùa

tìm đâu thư tịch cũ
qua lửa bão đạn mưa
kí ức rêu bụi phủ
chuyện sử đành phai thưa

rộng cửa thiền xưa đón
giúp vua lẫn không vua
duy một điều: yêu nước
là chung tấm lòng chùa

tượng bồ tát từng lấp
chuông đồng đau vết cưa
Phật nguyên nụ cười Việt
lung linh bóng nắng trưa.

TXA.
13- 16:40, 23.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM.

Bài 6

Trần Xuân An

TÙY BÚT Ở PHÚ YÊN

Đà Diễn xưa, có một nguồn Thạch Hãn (*)
Quảng Trị ơi, vào đây tự bao giờ?
thời mở cõi dẫu khuyết hao lịch sử
nhưng địa chí kia nào phải mơ hồ

chiều Sông Hinh, mưa mịt mờ
nghe một thoáng đăm chiêu áy náy
quán cà phê sớm mai, nhã nhạc dăm đời xa ngái
ca từ mỗi thời mỗi khác rồi chăng?

một nguồn Đà Rằng: mấy đời tiên tổ đã dừng chân
ở Quảng Trị của cõi miền Thuận – Quảng?
chỉ mang vào Phú Yên tên sông Thạch Hãn
vẫn giữ gốc xa xưa: Thanh Hóa, Nghệ An?

nghe cây lá gật gù, nắng bớt phân vân
và chiếc xe băng qua ban trưa ngẫu hứng
ngỡ xoay quanh núi Đá Bia sừng sững
tôi tình cờ tìm thêm một góc nhìn riêng

Đá Bia: Phượng hoàng dợm cánh bay lên!
bay lên tầm nhìn Tây Sơn – Gia Long nhất thống
bay lên tầm nhìn Vũng Rô thâm sâu lặng sóng
bay lên tầm nhìn biển bờ Mũi Điện – Trường Sa

Tháp Nhạn như cây xương rồng nâu non không già
từ Đa Đảo sóng giạt vào, mấy trăm năm còn lại
đôi mắt Phật, đôi mắt Shiva
trông ra Biển Đông thức mãi
bóng áo lam
như bay lên
trong lời khấn nguyện cuối chiều tà

đón chuyến xe về là trăng sáng giữa xanh xa
một trung thu trên Đồi Thơm, thơm ngát
giữa những ước mơ, có ước mơ:
không sai lạc
trên trang sách tuổi thơ.

TXA.
Chiều 22.9 HB10 (16.8 Canh Dần), lúc 15:00 – 17:12
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

(*) Đà Diễn: sông Đà Rằng ngày nay. Trong các nguồn, các nhánh sông Đà Rằng, có một dòng mang tên Thạch Hãn (theo Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 3, Bản dịch Viện Sử học (người dịch: Phạm Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh), Nxb. Thuận Hóa, 1992, phần viết về Phú Yên, tr. 72).

Bài 7

Trần Xuân An

TỪ SÔNG CẦU,
NGẮM PHÚ YÊN NHƯ TRANH SƠN THỦY

1
ai trên gành cát Phú Yên
quê xa, ai cũng trên triền cát xa?
– biển trời soi chiếu bóng ta
lên mây xuống cát cho xa thành gần
cũng dương liễu rất quen thân
cát muôn đời vẫn trắng ngần Miền Trung

nhưng dạt dào sóng Cửa Tùng
thiết tha Mỹ Thủy, trầm hùng Việt Yên! (1)
biển Xuân Đài lại rất thiền
Vịnh Hòa, Xuân Hải nếp phiền phẳng phiu
vuông Ô, lồng Lấm hiu hiu
nuôi bao nguồn sống dưới trìu mến xanh

2
giấc trưa Bến Ghé ngọt lành
vương chiều Gành Đỏ nhớ quanh quất nào
mướn Xiêm khẩn đất, tiễn chào (2)
đưa miền Thuận – Quảng gắn vào Phú Yên
Thành Hồ, xe chỉ lướt nghiêng
nghe An Thổ vọng tiên hiền: thần Lương (2)

3
khi không chín nhớ mười thương
bạc rồi một nhớ quê hương trong mình!
trội hơn thi sĩ đa tình
hai đèo – guốc võng, trùng trình: Phú Yên
đẹp xinh sơn thủy nên tiên
chút đa tình để chiêu hiền, thuở xưa ?

Phú Yên: mười ngón xòe thưa –
núi non – múc cát, thêu thùa Biển Đông
chỉ tay nối lại bao sông?
xe mình đi cũng trong lòng tay thiêng
bạc tình quê, bạc tình riêng
Sông Cầu một sáng còn miên man chiều…

TXA.
6:30 – 11:03, 25.9 HB10 (2010)
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn Hội Nhà văn TP.HCM. –

(1) Cửa Tùng, Mỹ Thủy, Việt Yên (Cửa Việt) ở Quảng Trị.

(2) Theo Quốc sử quán Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện”, tiền biên (tập 1), bản dịch VSH., Nxb.Thuận Hóa, 1993, tr. 89.

Bài 8

Trần Xuân An

Ở GÀNH ĐÁ, HUẾ BỖNG DƯNG TUY HÒA

cách đây ngàn năm xa
hình như lũ phù sa
tràn về gần lút núi
hay từng năm, dần dà
núi thành cụm đá gửi
trên cánh đồng Tuy Hòa

bao mùa vàng rộng ra
sóng lúa thay sóng biển
vỗ Gành Đá thơ ca
sông Ba cùng cất tiếng
trầm đục và ngân nga
trên bao la Tuy Hòa

tóc em là sông Ba
tay em, mùa vàng đó
ôm anh trong tình ca
cho Gành Đá anh thở
đừng bắt anh khuyụ đổ
trên mênh mông Tuy Hòa

tình ta ngàn năm qua
bao vun bồi, không đếm
bao lần chung môi nếm
sao ào ạt, khi xa
một mình, không chăn đệm
Huế bỗng dưng Tuy Hòa!

TXA.
14:30 – 16:19, 26.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

Bài 9

Trần Xuân An

TIỀN CHIẾN VÀ ĐỒNG CAM

rất nhiều nơi hẳn bình thường
ở nước mình sao thấy lạ
nỗi chiến tranh còn vật vã
phu phen nô lệ được thờ!

giặc Pháp thương chi đồng khô
sợ đói khiến dân nổi dậy
chúng mong thóc đầy hạt mẩy
tàu viễn chinh há họng to

nhưng ta thương bao nhà thơ
phần nào văn nô thuở đó
ép lệ tình duyên òa đổ
cũng như dòng kênh Đồng Cam!

thắp hương, cháy nỗi đau thầm
chết đập khác gì chết giấy
Tiền Chiến là Đồng Cam đấy
chừng nay tim ấm lòng no

chiến tranh đau đến bao giờ?
cách nào niềm đau chóng dứt?
người thắng khơi trong – vớt mục
lạ, nhưng bỡ ngỡ gì đâu!

TXA.
6:00 -9: 27, 9 HB10 (2010)
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV. TP.HCM. –

Đã đăng 09 bài ở Tcđttl. TranNhuongCom

Cũng có thể xem tại điểm mạng chính của TXA.

Đã đăng 02 bài ở Tcđttl. PhongDiepNet

Bài 10

Trần Xuân An

TRONG ÂM HƯỞNG SỬ PHÚ YÊN,
NHỚ TÊN TRƯỜNG CŨ TRẦN CAO VÂN Ở TAM KỲ
(thêm một bài bổ sung vào chùm thơ về Phú Yên – 10-10-10)

quân sư của Võ – truyền đơn đỏ (1)
dù cũi Phú, Bình, ngục Quảng Nam
Côn Đảo, lưu đày, lòng chẳng khác
chí ngời khởi nghĩa lắng sen Tâm (2)

học đón Duy Tân như Trị – Tĩnh (3)
đầu rơi, Cống Chém ngập hờn căm (4)
ai người Mai – Hãn tìm xương lấp
cải táng trong đêm Huế tối tăm? (5)

nhà sư mãi sáng Trung Thiên dịch
Trời với Đất thân, Người xứng tầm (6)
mấy thuở đuổi thù, bao thuở kính:
chuông chùa Đá Trắng vọng ngàn năm (7)

mừng hết lạm mù trong đáy mắt
bói trong thư ấy (8), vướng mê lầm
mõ vang khẽ thức hồn yêu nước
sử học là chuông, không quẻ xăm!

dịch biến tùy thời, mong chính trực
đâu ai tạ sự, nổ hay ngầm
Mai Xuân, án kết (9), nào sư Trứ
tuyệt mệnh thơ Người, mãi hát ngâm (10).

TXA.
10-10-10 (HB10 – 2010)

(1) Theo A. Laborde, “Tỉnh Phú Yên” (BAVH., 1929): Võ Trứ (1855? – 1900?) dán và rải truyền đơn màu đỏ với nội dung Cần vương (cũng có thể hiểu là nhân danh vua Thành Thái?).

(2) Hồ Tịnh Tâm (Huế), 1916, nơi Trần Cao Vân (1866-1916) và Thái Phiên tìm gặp vua Duy Tân.

(3) Các căn cứ của triều đình kháng chiến (1885-1888): Tân Sở (Quảng Trị), Hương Khê (Hà Tĩnh) và còn dự kiến một sơn phòng ở Thanh Hóa.

(4) Cống Chém (An Hòa, Huế).

(5) Theo vài tài liệu, bà Trương Thị Dương, người Quảng Trị — xứ non Mai sông Hãn –, đồng chí của Trần Cao Vân, đã âm thầm cải táng di cốt ông cùng Thái Phiên vào năm 1925.

(6) Tác phẩm lập thuyết của Trần Cao Vân, chỉ mới phổ biến trực tiếp bằng trò chuyện và bằng bài thơ “Vịnh Tam tài”: Thiên (tả, thượng) – Nhân (trung) – Địa (hữu, hạ), cũng cùng ý tưởng thể hiện trong bài thơ tuyệt mệnh: “Đứng giữa Trời – Đất, không dựa vào Thượng đế”, đề cao vai trò chủ thể của Con Người.

(7) Chùa Đá Trắng (Từ Quang) ở Tuy An, Phú Yên.

(8) Các loại thư từ thuộc lĩnh vực bói toán, địa lí phong thủy… Ngoài ra, còn có các văn thơ thư từ liên lạc tại Phú Yên, kí tên Chánh Minh, Chơn Diện (xem: Tô Đình Cơ, “Thân thế và sự nghiệp Trần Cao Vân (1866-1916)”, Sở VHTT. Bình Định, 1995, tr. 27). Riêng bức thư gửi vua Duy Tân, theo tác giả Trần Trúc Tâm, “Chí sĩ Trần Cao Vân (1886-1916)”, Nxb. Đà Nẵng, 1999, tr. 53-54: “Thư dài nhưng tựu trung mang 3 ý ‘Tha Mỹ quốc… chung nhược’; ‘Thiên khải… chi quyền’; ‘Phụ hoàng đế… kiến quật’…” và tất nhiên, còn có ý kiến nghị vua đứng đầu cuộc khởi nghĩa, như nhiều sách đã chép lại và diễn ý, ngoài ra không có gì khác.

(9) Bản án ngụy triều Đồng Khánh và thực dân Pháp về Mai Xuân Thưởng: “Dương vị Hàm Nghi khởi nghĩa, âm vị ngụy Nhạc phục thù” (Mặt phải, vì Hàm Nghi mà khởi nghĩa; mặt trái, vì ngụy Nhạc [Tây Sơn] mà phục thù). Bản án về Võ Trứ (1898? / 1900?) hẳn không phải vậy.

(10) TXA. mới viết thêm hai đoạn cuối (2 khổ thơ thứ 4, thứ 5), theo tinh thần bài viết về cụ Trần Cao Vân trong một đặc san từ 1974 (1995, đăng lại trong kỉ yếu Trường THPT. Trần Cao Vân, Tam Kỳ), đồng thời theo yêu cầu của nhiều người đọc, và cũng để công bằng hơn trong nhận định, tuy là nhận định bằng thi ca.

Đã đăng ở PhongDiepNet & TranNhuongCom – 11-10 HB10

http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=11275
http://trannhuong.com/… NHỚ-TÊN-TRƯỜNG-CŨ-TRẦN-CAO-VÂN-Ở-TAM-KỲ

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , | 11 Comments »

MỘT NÉT HÌNH DUNG TRƯƠNG NAM HƯƠNG QUA CHIẾC CẦU THI CA HÌNH CHỮ H

Posted by Trần Xuân An trên 10.09.2010

hidden hit counter

MỘT NÉT HÌNH DUNG TRƯƠNG NAM HƯƠNG
QUA CHIẾC CẦU THI CA HÌNH CHỮ H

Trần Xuân An

“… Do đó, gần như Trương Nam Hương giũ hầu hết những hệ luỵ chiến tranh, từ giọng điệu, cách suy cảm thi ca cho đến những gì trong đời sống thực hằng ngày. Người đọc sẽ ít tìm thấy nếu đến với thơ anh để nhìn rõ, ngẫm nghĩ về cái dữ dội của chiến tranh hay nỗi đau trầm thống của thời hậu chiến.

“Chiến tranh ủ khói trong lòng đất
Mẹ bới tìm con dọc cánh rừng
xin hóa gió ngồi lau mắt Mẹ
chết là tỉnh giấc!
Mẹ tin không!”

(“99 mini thơ”, Tỉnh giấc, tr. 17).

Chiến tranh – cõi đời như một ác mộng! Và đó là hậu chiến với bao Người Mẹ Việt Nam! Nhưng những tứ thơ loại này không nhiều trong thơ Trương Nam Hương.

Trương Nam Hương có sứ mệnh của riêng anh, vì tạng chất anh là thế. Anh bước vào thi ca với tiếng nói chan hoà, hội nhập, trước hết với bà con ruột thịt đúng nghĩa ở Miền Nam của mình. Thơ anh đạt ở độ sâu tính nhân dân theo cách của riêng anh. …”.

TXA.

Xin mời đón đọc
BÀI VIẾT ĐÃ ĐƯỢC GỬI ĐĂNG TRÊN BÁO CHÍ
(TẬP THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM, EVAN… & …)

09 & 10-9 hb10 (2010)
TXA.

Cập nhật, chiều 11-9 HB10:

Bài đã đăng: Link Tttđt. Hội Nhà văn Việt Nam

http:// hoinhavanvietnam. vn/ Details/ ly-luan-phe-binh/ truong-nam-huong -qua-cay-cau-thi-ca -hinh-chu-h/ 32/0/2515.star

MỘT NÉT HÌNH DUNG TRƯƠNG NAM HƯƠNG
QUA CHIẾC CẦU THI CA HÌNH CHỮ H

Trần Xuân An

1

Trương Nam Hương là nhà thơ được nhiều người yêu mến. Khá nhiều nguồn thông tin mách bảo với tôi như vậy, từ những năm anh chưa đi đến quãng cuối của tuổi hai mươi. Nhưng thời nào, với tác giả nào cũng thế, văn bản tác phẩm mới chính là cơ sở bảo chứng đáng tin cậy nhất. Tôi đã ít nhiều đọc anh từ độ ấy, và cũng nghĩ rằng không phải báo chí, dư luận bạn bè văn nghệ ở mọi trường hợp đều cộng thêm hoặc trừ bớt so với mức độ khách quan của giá trị thật.

Với tập thơ đầu tay, “Khúc hát người xa xứ” (1990), Trương Nam Hương bắt đầu cho người đọc có một cái nhìn khá trọn, mặc dù vẫn còn mơ hồ lắm (dè dặt lắm), về gương mặt thơ và giọng thơ anh, vì đường thơ, tuổi thi ca của anh còn quá dài. Nói đúng hơn, thật ra, ngay ở tập thơ đầu, ấn hành năm anh 27 tuổi, đã định hình, định thanh một Trương Nam Hương thi sĩ, nhưng không ai dám chắc anh còn hứa hẹn gì với tương lai ở những tập thơ khác — liệu những tập thơ khác của anh có làm mờ nhạt, loãng lênh đi “Khúc hát người xa xứ”?

Hai năm sau đó, chắc hẳn người đọc từng quen biết thơ anh đã nhận ra độ chín ở nghệ thuật thi ca của Trương Nam Hương, qua tập thơ “Cỏ, tuổi hai mươi” (1992). Và đến nay, không kể hai cuốn văn xuôi, thơ dịch, anh đã xuất bản đến 8 tập thơ. Hai tập thơ gần đây nhất (2008) là “Ra ngoài ngàn năm”“99 mini thơ”.

Mặc dù chưa đến lúc đọc và viết hết về tác phẩm của Trương Nam Hương, tôi vẫn muốn cái nhìn của tôi về thơ anh không đến nỗi phiến diện. Với ý định này, tôi đang hình dung ra thế giới Trương Nam Hương như một chiếc cầu dây văng, hai trụ cầu chính là “Cỏ, tuổi hai mươi” (1992) và “Ra ngoài ngàn năm” (2008), một áp đầu và một áp cuối; những thanh bê tông ghép (hay ván lát) mặt cầu, không là gì khác hơn 99 bài tứ tuyệt — anh gọi là “99 mini thơ” – gom góp suốt chặng đường thơ đã anh trải và chủ yếu là mới sáng tác trong quãng không xa trước năm 2008. Vâng, đó là chiếc cầu dây văng mà một mố cầu bị sương mờ tạm thời che khuất, còn mố cầu kia, thuộc về bến bờ tương lai mờ xa, ta chỉ có thể nối bờ dự cảm bằng dự cảm, chính anh cũng chưa bước tới, chưa nhìn rõ. Chiếc cầu chữ H. Nó sừng sững giữa một dòng sông – dòng thơ Trương Nam Hương.

Mỉm cười khi chợt nghĩ, tôi đã thu nhỏ chính mình lại, để làm con chim từng một lần bay đến dòng sông Trương Nam Hương, từ lúc một trụ cầu “Cỏ, tuổi hai mươi” mới được dựng nên, chân cắm sâu vào lòng sông và đầu đâm lên cao vút giữa trời. Sau đó, tôi quên bẵng dòng sông với trụ cầu ấy. Mãi cho đến mấy hôm gần đây, lại thu nhỏ làm con chim năm nào, tôi lại bay đến, và chiếc cầu dây văng chữ H kia đã hình thành như vừa miêu tả. Và lúc này, tôi đang thong dong bay lượn, đáp xuống, nhẩn nha thả bước để nhìn ngắm chiếc cầu trên thế giới Trương Nam Hương.

2

Thế giới Trương Nam Hương trước hết chính là tuổi ấu thơ và thời niên thiếu của riêng anh. Anh được sinh ra tại Hà Nội, có những ngày tháng cha mẹ mang về Bắc Ninh quê ngoại để được bà chăm nom, rồi đến tuổi mười hai, anh lại cùng gia đình vào quê nội ở Huế. Ba năm anh sống, học hành tại Huế, cũng là thời gian tôi đang học tại Đại học Sư phạm. Huế không rộng, con đường anh ngày ngày tới trường, cũng nhiều lần tôi đạp xe qua đó; có thể cũng đôi lần tôi và Trương Nam Hương đã từng gặp nhau, nhưng chưa từng biết nhau. Người ta thực sự biết trên đời này có một Trương Nam Hương tài hoa là từ lúc anh làm thơ, đăng báo, khoảng giữa những năm 80/XX, rồi anh nổi tiếng hẳn là một nhà thơ, từ khi được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (1991). Tôi cũng chỉ biết thế giới Trương Nam Hương từ thời điểm phát sáng ấy của anh.

Gia đình gồm bà ngoại, cha, mẹ, người chị và vài đứa em thôi, với một làng quê quan họ, một quãng phố Khâm Thiên, Hà Nội, với một góc cố đô Huế, nhưng với Trương Nam Hương, là cả một thế giới. Rất nhiều bài thơ anh viết trọn vẹn về những người, những cảnh thân yêu đó, và còn thấy thấp thoáng cả trong những bài thơ tình yêu đương nữa. Trương Nam Hương thuộc vào nhóm các nhà thơ hoài niệm, trung hiếu với cội nguồn – mãi mãi yêu thương, luôn luôn nghĩ đến, nhớ về thân nhân, quê hương mình, suốt cả quãng đời thơ.

“Trong tôi có chút sâu đằm
của Kinh Bắc với thâm trầm Cố Đô
sông Hồng hắt đỏ lên thơ
tôi buông lục bát xanh bờ Hương Giang

Lòng mình phải dễ đa mang
nên thương nhớ cũng ngổn ngang mấy dòng
ơi sông Hương, hỡi sông Hồng
giọng tôi lạc giữa mênh mông nỗi buồn!…”

(“Cỏ, tuổi hai mươi”, Tự bạch [1991], tr. 11)

Và điều khiến tôi nghĩ thế giới ấy là cả một dòng sông, chính là từ bài “Lời thưa”, Trương Nam Hương đã viết để “dâng cha”:

“Trong cha có một câu hò
trong câu hò có con đò sông Hương
trong sông Hương có nỗi buồn
trong thăm thẳm có vô thường thi ca

Con từ xa Huế sinh ra
nắng mưa thấm tiếng oa oa đầu đời
cha – dòng sông nhớ — con bơi
đắng cay vào giọt mồ hôi bến bờ…”

(“Ra ngoài ngàn năm”, bđd., 2008, tr. 6)

Không tự khai sinh lại tên mình bằng bút hiệu, cũng không tìm cách định nghĩa khác đi cái tên cha anh đặt cho, anh khẳng định, ngay trong bài thơ được viết sau 17 năm, kể từ bài “Tự bạch”:

“Con cùng tên với dòng Hương
thơ con trắc ẩn cánh buồm, cha ơi!”

(“Ra ngoài ngàn năm”, bđd., 2008, tr. 7)

Còn cánh buồm kia, biểu tượng ruổi rong, vời vợi nói chung hay chỉ là cảnh rời xa quê xứ, tha hương, rất cụ thể, trong cả hai bài (1991, 2008), anh đều nhắc đến như cả một nỗi niềm. Nếu lần sau này, anh chỉ còn biết cô đặc lại nỗi niềm trong hai chữ “trắc ẩn”, thì lần trước đó, anh đã ngoắt vẫy đến rã rời, đuối luội cánh tay:

“Giờ xin ngồi khóc với nguồn
đuối bàn tay trước cánh buồm hút xa…”

(“Cỏ, tuổi hai mươi”, Tự bạch [1991], tr. 11)

Tôi cảm thấy có thể lí giải, vì sao Trương Nam Hương được bầu chọn là nhà thơ có nhiều người yêu mến nhất (1992). Vâng, thơ anh được yêu mến chính vì hình tượng người cha, được anh khắc hoạ, viết đến, tuy cũng chỉ là những gì trong thời chiến tranh và cả trong thời hậu chiến, mà lại rất dân dã hay đậm chất lao động nghèo thành thị, thật gần gũi với hàng triệu, hàng triệu người cha khác. Người cha trong Nam, người bố ngoài Bắc, thời nào mà chẳng vậy! Cũng trong hai bài thơ “Tự bạch”“Lời thưa” ấy, chúng ta có thể đặt một cái nhìn đối sánh, ở dăm đoạn tiếp nối với những dòng đã trích:

“Giờ xin ngồi khóc với nguồn / đuối bàn tay trước cánh buồm hút xa / may còn dăm khúc dân ca / mấy câu hò để ngâm nga tháng ngày! // Gia tài của mẹ cha đây / tôi đem trang trải đất này quê kia / dòng sông từng hẹn tôi về / qua cầu… để rớt lời thề với em // Mẹ chờ tóc bạc theo đêm / cha thương chuốc rượu đến mềm cơn ho / em qua xuân sắc bao giờ / để chân lược nhắc chiều thưa mái đầu // Có gì sâu – rất thẳm sâu / nói ra cứ sợ làm đau cội nguồn / tôi bên gần của bờ thương / ầu ơ… ngồi dỗ nỗi buồn bờ xa” (1991)

“… cha – dòng sông nhớ — con bơi / đắng cay vào giọt mồ hôi bến bờ // Nổi nênh quá tuổi dại khờ / con thương với Huế câu thơ luỵ tình / chênh vênh quá nửa Ngự Bình / Huế thương cho cả cung đình rêu phong // Thăng trầm dạ có, thưa không / thời gian mái đẩy long đong điệu hò / hồn cha giờ hoá con đò / mênh mang đầy cả giấc mơ — suối nguồn // Con cùng tên với dòng Hương / thơ con trắc ẩn cánh buồm, cha ơi!” (2008).

Cũng là hình tượng người cha, ở một bài khác:

“Vầng trán cha ta lặng hằn tiên cảm
một câu nói chẳng bao giờ cha dám
đêm rập rình đom đóm tai ương”

và cũng nỗi đau nhức dân dã, lao động nghèo thành thị, mênh mang nghìn đời, cơ hồ trong dáng nét người cha hay ở những dải rìa tha ma hoang vắng:

“Hồn lau bạc cũng trở trời thao thức
nghe xương cốt của ngàn năm vẫn nhức
trắng im lìm như cát trắng, hư không!”

(“Ra ngoài ngàn năm”, Tạp cảm, 2008, tr. 14-15)

Người cha, người bố (người đàn ông), trong Nam, ngoài Bắc, vốn là chủ thể trong trận mạc, kể cả thời hậu chiến, một khi đã trở về với đời sống nhân dân và được viết đến một cách rất nhân dân, đời thường như thế, là đã xoá đi những giới tuyến, chiến tuyến, những địa vị cách bức. Thơ Trương Nam Hương do đó đi sâu vào tâm hồn người đọc cả hai miền Nam – Bắc. Có lẽ là như vậy chăng?

Người cha đã rất nhân dân như hàng triệu, hàng triệu người nông dân dân dã, hàng triệu, hàng triệu người lao động nghèo thành thị trên khắp đất nước, thì hình tượng người bà, mẹ, chị và em trong thơ Trương Nam Hương cũng rất gần gũi.

Người bà trong kí ức thời thơ ấu của anh, chúng ta không tìm thấy ở “Cỏ, tuổi hai mươi”, nhưng ở hai tập thơ kia, trong thơ anh, hình tượng bà ngoại cứ xuất hiện như một nỗi ngậm ngùi thương nhớ và tưởng tiếc khôn nguôi, đồng thời cũng là những gì thật ân cần, an ủi, vỗ về.

“Trĩu quang gánh một đầu xoong, đầu cháu
bà hớt hơ chạy bom đạn, khó nghèo
lấy Tiên, Bụt để dỗ dành rau cháo
chiếc đũa bà cổ tích cả nồi niêu!”

(“99 mini thơ”, Bà tôi, 2008, tr. 9)

Cũng như hình tượng người bà Miền Bắc trong chiến tranh ấy, hình như mỗi người đọc đều có lưu giữ trong kí ức mình hình tượng người bà Miền Nam, không những trong thơ mà cả trong thực tế bom đạn cùng thời. Nhưng chính những kỉ niệm về bà ngoại không nhuốm mùi bom đạn, mới thực sự sâu đằm trong Trương Nam Hương, hay ít nhất mới được anh thường viết thành thơ. Anh có những dòng thơ đượm chất tâm linh:

“Bà tựa lưng vào nguồn cội lặng thinh
gầy như khói trên trang thờ Tiên Tổ
da mặt ngoại như vỏ cây tróc lở
mắt nheo nhìn tươi mẩy những chồi non
tôi là mầm lá lon ton
nảy trong lòng mẹ vuông tròn bà mang
run trên gốc rễ cũ càng
tôi trong dáng ngoại, bóng làng chở che…”

(“Ra ngoài ngàn năm”, Thời nắng xanh — kính dâng bà ngoại, 2008, tr. 89)

Niềm tâm linh ấy lại khởi từ những gì dân dã, khốn khó nhưng tràn đầy thương yêu, chăm lo:

“Gia tài ngoại là các con các cháu
là câu hát nương che ngày gió bão
là chảo nồi, chum vại, lọ và chai…
là mắm muối, tương cà, gạo đỗ
là mụn vải vá víu ngày thương khó
cúc tần xanh nghèo ngặt
cúc tần xanh…”

(“Ra ngoài ngàn năm”, bđd., 2008, tr. 90)

Đó chính là hình tượng người bà trong tâm thức dân gian, thăm thẳm nghìn đời!

Người mẹ trong đời thật của Trương Nam Hương, có thể cũng là cán bộ, viên chức như người cha của anh (vốn là một người lính tập kết ra Bắc, và là sĩ quan quân đội), nhưng một khi đã trở thành hình tượng thi ca, người mẹ chỉ còn là người mẹ thực chất. Anh viết về mẹ khá nhiều, và đó là những bài thơ đã đánh động niềm cảm xúc thiêng liêng mà gần gũi nhất trong mỗi người. “Trong lời mẹ hát”, “Năm tháng xa quê” (“Cỏ, tuổi hai mươi”), “Khói bếp xưa” (“Ra ngoài ngàn năm”) là những bài thơ như thế.

“Mẹ giờ hoá nén hương thơm đỏ
thương lặng nhìn ta chẳng rụng tàn
con thắt se lòng lo mẹ nặng
cõi người con vít cả chân nhang!”

(“99 mini thơ”, Mẹ, tr. 5)

Bài thơ cảm động nhất về mẹ — người mẹ đã mất từ khi anh còn niên thiếu — là một bài thơ rất thật. Ít ra, với tôi, quả là vừa thật vừa thơ, vì cách đây mấy hôm, chính mắt tôi đã thấy trên bàn viết của Trương Nam Hương, trong hộp kính, di vật của mẹ anh – đôi guốc nhựa –, và tôi đã góp ý với anh, xin hãy đặt vào nơi trang trọng, thiêng liêng, có trùm che khăn ren, ở chiếc giá ngay dưới ban thờ song thân. Nhưng với người đọc, vấn đề là chi tiết thật ấy có thành thơ và thơ có tâm linh hay không. Ôi, ngôn từ, với cách cấu tứ của thể tứ tuyệt, nén chặt để vỡ tràn, cảm xúc và suy tưởng không đậm tâm linh thế nào được, khi ở tháp vãng sanh nhà chùa (hay nghĩa trang) Trương Nam Hương cải táng di cốt mẹ xong, anh bước về trong nỗi băn khoăn trĩu nặng:

“Đưa mẹ vào Tháp cốt
quay về, con bần thần
quên hoá vàng đôi guốc
lên đó Người lạnh chân!”

(“99 mini thơ”, Băn khoăn, tr. 7).

Khi anh viết về đứa em gái, người chị, người bạn gái láng giềng côi cút, thì hình ảnh người mẹ cũng hiện về: “Tuổi nhớ”, “Mùa xanh” (“Ra ngoài ngàn năm”, 2008, tr. 30, tr.40-41). Thơ anh viết về chị, có chút gì như thể thầm trách chị đã trót vô tư đến “vô duyên”, để mặc thời xuân sắc qua đi:

“Hổng hơ mùa hạ qua rồi
thu nhớm nhớm tím
khoảng trời
chị tôi
ngoài đầm hoa súng nở phơi
đám mây vảy cá
ngồi soi
bóng chiều!”

(“99 mini thơ”, Chị, tr. 17).

Nếu chỉ riêng mảng thơ viết về những người thân và làng thôn, góc phố quê sinh cùng với quê ngoại, quê nội của anh, chúng ta có thể đồng ý với nhau là Trương Nam Hương thuộc vào nhóm các nhà thơ hoài niệm, trung hiếu với cội nguồn – mãi mãi yêu thương, luôn luôn nghĩ đến, nhớ về thân nhân, quê hương mình, suốt cả quãng đời thơ. Trương Nam Hương thuộc lớp nhà thơ khởi đầu sự nghiệp thơ ca của mình lúc công cuộc Đổi mới đang bắt đầu (1985…). Vả lại, chiến tranh chỉ còn đọng lại trong kí ức tuổi thơ, một tuổi thơ trực diện với bom đạn cũng chỉ khoảng dăm bảy năm (1965-1973), thậm chí ở vùng quê sinh, quê ngoại của anh, còn ít hơn thế nữa (1972-1973). Khâm Thiên, Hà Nội lại là nơi anh rời xa, sơ tán. Mười hai tuổi, anh đã vào Huế. Mười lăm tuổi, anh đã vào Đồng Nai. Anh trải qua đại học và thành đạt ở Sài Gòn (Tp.HCM.). Mãi đến 1985, hai mươi hai tuổi, anh mới về thăm Hà Nội. Do đó, gần như Trương Nam Hương giũ hầu hết những hệ luỵ chiến tranh, từ giọng điệu, cách suy cảm thi ca cho đến những gì trong đời sống thực hằng ngày. Người đọc sẽ ít tìm thấy nếu đến với thơ anh để nhìn rõ, ngẫm nghĩ về cái dữ dội của chiến tranh hay nỗi đau trầm thống của thời hậu chiến.

“Chiến tranh ủ khói trong lòng đất
Mẹ bới tìm con dọc cánh rừng
xin hóa gió ngồi lau mắt Mẹ
chết là tỉnh giấc!
Mẹ tin không!”

(“99 mini thơ”, Tỉnh giấc, tr. 17).

Chiến tranh – cõi đời như một ác mộng! Và đó là hậu chiến với bao Người Mẹ Việt Nam! Nhưng những tứ thơ loại này không nhiều trong thơ Trương Nam Hương.

Trương Nam Hương có sứ mệnh của riêng anh, vì tạng chất anh là thế. Anh bước vào thi ca với tiếng nói chan hoà, hội nhập, trước hết với bà con ruột thịt đúng nghĩa ở Miền Nam của mình. Thơ anh đạt ở độ sâu tính nhân dân theo cách của riêng anh. Và do đó, điều đáng quý nhất ở anh là nét truyền thống, đậm bản sắc dân tộc trong đời thường, trong khi đó, những người thuộc thế hệ anh, lại nhanh chóng đánh mất bản sắc Việt, truyền thống Việt. Có thể nói như Nguyễn Đình Thi về những hình tượng thân nhân trong thơ anh: “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”; hay như Tố Hữu: “bốn ngàn năm ta lại là ta”; thậm chí cay đắng như Nguyễn Duy, đại để và khác đi ít nhiều: ngẫm cho cùng, mọi cuộc chiến tranh có màu sắc nội chiến, kẻ nào thắng, đông đảo người chân thành đều bại.

Nhưng thế giới thi ca Trương Nam Hương không chỉ như thế. Anh còn là một nhà thơ về tình yêu đương, về tình bạn, tình đồng nghiệp. Có điều, ở khía cạnh nào, anh cũng trở về với những cung bậc tự nhiên nhất, không gò ép tình cảm, cảm xúc mình (tuy có chút gì tự nhiên kiểu phồn thực trong “lẽ thật” đến hơi thái quá, ở mức độ có thể không đáng kể lắm), nên thơ anh dễ tạo được sự đồng cảm, yêu mến (và thêm một chút thân mật…). Thậm chí, đôi khi (chỉ một hai bài mà thôi, chẳng hạn như bài “Tấm ảnh”…), anh minh hoạ cho một loại phân tâm học nào đó, có lẽ cũng có một phân số người đọc “hoan nghênh” anh (!).

3

Quả thật, thế giới Trương Nam Hương còn phong phú hơn nhiều. Ngay với tên của hai tập thơ, “Cỏ, tuổi hai mươi” (cũng là tên một bài thơ, tr. 38-39) và “Ra ngoài ngàn năm” (cũng là một cụm từ trong một bài thơ, tr. 28), đều không bao gồm cả mảng đề tài trên, mặc dù số lượng bài thơ, câu thơ về đề tài ấy là không ít.

“Cỏ, tuổi hai mươi” là một bài thơ tình, đọng cảm xúc, suy nghĩ khi tìm về vạt cỏ biếc, nơi anh cùng người yêu dấu đã ngồi, với thoáng chốc nào đó rất nguyên sơ và chỉ trong một thoáng dại khờ. Điều đó chứng tỏ thơ yêu đương của anh chiếm một tỉ lệ rất lớn.

Với “Ra ngoài ngàn năm”, thực ra, Trương Nam Hương nhẹ nhàng phê phán những thứ váy thời trang quá ngắn, xa lạ với truyền thống; đồng thời, ở nét nghĩa khác, cũng là những tháng ngày anh rời khỏi địa bàn văn hoá của dân tộc để đến với nước Mỹ xa xôi, giao lưu văn chương. Nhan đề của tập thơ không ôm trọn mảng đề tài viết về thân nhân cùng các loại quê hương của anh. Nhưng nói đầy đủ hơn, cũng chính từ căn bản là mảng đề tài gia đình, dân tộc mà anh “ra ngoài ngàn năm”.

Còn “99 mini thơ”? Đó chỉ là cách nói không truyền thống lắm về 99 bài thơ thuộc thể loại tứ tuyệt cổ truyền nhưng phá cách, hiện đại; trong đó, nội dung cũng mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực.

Trên chiếc cầu chữ H, ở hai đầu đều không và chưa thấy bờ, nếu mỗi người đọc thử làm con chim bay lượn, nhẩn nha thả bước, hẳn sẽ có nhiều khám phá hơn. Trước tôi, cũng đã có nhiều người theo cách của họ để khám phá ba tập thơ ấy.

Và tưởng cũng nên nói rõ, mặc dù không sành lắm nghệ thuật tạo hình theo trường phái sắp đặt, nhưng với chiếc cầu hình chữ H kia, tôi muốn nói Trương Nam Hương chính là Huế, chứ không phải HN (Hà Nội), cũng không phải Tp.HCM., mặc dù trong anh tồn tại, chất chứa, lắng đọng cả ba, cùng với Đồng Nai (quê ở), và nhiều vùng đất khác anh đã ghé qua, có lắm kỉ niệm. Thơ Trương Nam Hương chính là Huế với ngôn từ rất đẹp, đẹp có trau chuốt nhưng hầu hết vẫn rất tự nhiên, hình ảnh mới mẻ, cách cấu tứ khá cổ kính và chỉn chu. Thơ anh chính là Huế với những mùa hương quả chín đều. Thơ anh chính là dòng sông Hương luôn luôn lóng lánh từng ngấn nước.

Trần Xuân An
Khởi viết lúc 09:07, 09-9 HB10 (2010)
Viết xong lúc 20:15, cùng ngày
Chỉnh sửa: 7:05, 10-9 HB10
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Ngày TNĐL. & Khai sinh Nước VNDCCH.: 02-9-1945 (2010)

Posted by Trần Xuân An trên 01.09.2010

hidden hit counter

 

Nghe giọng đọc của chính chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày Tuyên ngôn độc lập &
Khai sinh Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa:
02-9-1945 (2010)

XEM PHẦN BÀN LUẬN (COMMENTS) VỀ NGÀY GIỖ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Posted in Không phân loại | 14 Comments »