Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Archive for Tháng Ba, 2021

NHÁNH TRẦN XUÂN TỘC TRÚC LÂM Ở NHĨ TRUNG, CÙNG HUYỆN

Posted by Trần Xuân An trên 28.03.2021

hidden hit counter

.

NHÁNH TRẦN XUÂN TỘC TRÚC LÂM
Ở NHĨ TRUNG, CÙNG HUYỆN
Trần Xuân An

làng Rừng Trúc, triều Lý xưa *1
nam Ma Linh cũ, vua đưa lính vào
mấy trăm năm tiếp, dài sao
“Ô châu cận lục” ghi bao người hiền *2

Dụ vua Nguyễn lùng Tây phiên *3
thua Sơn Chà, Pháp xô nghiêng Sài Gòn
Ngài đọc sách cầm kiếm côn *4
sau “Nhâm tuất” rời Trúc thôn, lánh mình

từ Nhĩ Hà đất cổ kinh *5
thành Nhĩ Trung ở Gio Linh, biển gần
quê vợ, Ngài được dung thân
nhà ngoài làng, kề tiếng chân liên làng *6

nhánh Trúc Lâm xanh cồn hoang
bên sông Cánh, mươi mùa vàng bến ghe *7
Trúc Lâm, quê gốc, Ngài về
đời con, đời cháu sống quê Nhĩ này *8

đời chắt, huyết thống đổi thay
sông Cánh Hòm tình đong đầy An Cư *9
thời Bến Hải đạn lửa mù
Nhĩ Trung, mồ mả hoang vu… Dời về…

về Rừng Trúc, đồi vắng hoe
“Ô châu cận lục”: vọng nghe người hiền
nghìn xưa còn đó, tương liên
vọng Nhĩ Trung lối ngàn liền nẻo khơi

Trần Xuân tộc không bỏ rơi
ông vô sinh vẫn nối đời khói hương *10
khác huyết thống, sống nhiều phương
con cháu nuôi vẫn bình thường Trần Xuân

ơn vô tận, nặng vô ngần
ba đời giỗ, việc họ dần giỗ chung
hai quê nội, không ngập ngừng
để tròn hiếu Nguyễn Văn cùng Trần Xuân

ân tình, ân nghĩa, thắm ân
cành huyết thống ghép căn phần dưỡng nuôi
hai họ nội, cha nên người
dù bi kịch, đều vẹn cười, bà ơi

nếu “Cởi trói” thuở sinh thời
hẳn cha thôi ngại luỵ đời cháu con
ghi gia phả: sinh, dưỡng tròn
An Cư son, Trúc Lâm son, điểm hồng

chuyện xưa ấy, lạ gì không
bà trung trinh, kính yêu chồng đó thôi
vuông thư ông Nguyễn, dặn rồi *9b
nhìn nhận con tuổi ba mươi… Khóc bà… 

cha nhìn con, con nhận cha 
chuyện đời trước, trước tôi ra chào đời
hai nội thân, từ thiếu thời
nghĩa nghiêm đạo lí, nắng soi ấm tình.

T.X.A.
12:23-16:02, 26-03-2021
(hai hôm sau ngày giỗ Bà Cố, 12-02 âm lịch)
………..

(*) 1. ~ Trúc Lâm (tên làng ở Gio Quang, Gio Linh, Quảng Trị): Rừng Trúc. Đất làng Trúc Lâm ở phía nam châu Ma Linh, thuộc về Đại Cồ Việt từ 1096, cách bờ phía bắc sông Hiếu không xa (sông Hiếu có lẽ là ranh giới giữa châu Ma Linh và châu Ô).
2. ~ Dương Văn An (1514-1591), “Ô châu cận lục”: “Trong xóm Trúc Lâm đâu thiếu người hiền nghỉ ngơi bên trúc” (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc hiệu đính, dịch chú, Nxb. Thuận Hoá, 2001, tr.75); “Miền thôn ổ Trúc Lâm phải chăng là nơi hiền nhân ẩn dật?” (Văn Thanh, Phan Đăng dịch, chú giải, Nxb. Chính trị quốc gia, 2009, tr.71).
3. ~ Dụ lùng bắt người Tây phương xâm nhập trái phép của vua Tự Đức và trước đó (triều Minh Mạng, Thiệu Trị). “Hoà” ước Nhâm tuất 1862.
4. ~ Theo phong tục, từ Ngài (đại danh từ biểu thị sự tôn kính, nói chung) cũng được dùng để gọi các vị gia tiên trong dòng họ, từ đời vải (trên đời cố/cụ) trở lên.
5. ~ Nhĩ Thượng, Nhĩ Trung, Nhĩ Hạ (+ Nhĩ Hà), theo các nhà nghiên cứu, vốn là cư dân ven bờ sông Hồng (Hà Nội), vào đất châu Ma Linh (Minh Linh), từ thời Lý, vị trí cũng gần kề đất Châu Ô (đất sính lễ Ô, Lý từ Chế Mân, vị vua Chăm cưới công chúa Huyền Trân triều Trần). Sách “Ô châu cận lục” viết: “Một dòng nước Nhĩ Trung đáng là chi lưu sông Nhĩ” (bản dịch TĐV. & HVP., sđd., tr. 78); “Sông ở Nhĩ Trung xứng là chi lưu của sông Nhĩ” (bản dịch VT. & PĐ., sđd., tr. 74). Tuy vậy, vẫn có tác giả cho rằng dân cư Nhĩ Trung, tuy cũng từ thời Nhà Lý, nhưng từ Thanh Hoá, Nghệ An, vào định cư tại đây (sau năm 1069, đời vua Lý Thánh Tông, Ma Linh, tức Minh Linh, đã thuộc về Đại [Cồ] Việt). Làng Nhĩ Trung trước 1975 thuộc xã Gio Mỹ, nay phân định lại, thuộc về xã Gio Thành (cùng xã với hai làng Nhĩ Hạ [+ Nhĩ Hà], Tân Minh), cũng thuộc huyện Gio Linh, Quảng Trị. Còn làng Nhĩ Thượng vẫn thuộc xã Gio Mỹ như xưa.
6. ~ Nhà ở gần miếu Âm hồn (mộ ông Trần Xuân Điền trước đây ở vị trí sát miếu này), thuộc xóm Phường, rìa làng Nhĩ Trung xưa, gần kề đường liên thôn, bên kia đường là bờ sông Cánh Hòm.
7. ~ Sông Cánh Hòm nối liền sông Thạch Hãn với sông Bến Hải.
8. ~ Ông khuyết danh họ Trần Xuân lấy vợ, sinh con, sống ở Nhĩ Trung được mươi năm, rồi ông lại về Trúc Lâm, vì tình trạng phân biệt ngụ cư, chính cư, và vì thời gian sau khi hoà ước Nhâm Tuất (1862) kí kết đã khá lâu. Đời con: Trần Xuân Khai (mộ phần trước đây ở cồn Chùa, xóm Phường, Nhĩ Trung); đời cháu: Trần Xuân Điền (nông dân, có học Nho Lão Phật, biết việc địa lí phong thuỷ, nghi thức cúng tế); đời chắt (khác huyết thống): Trần Xuân Khuê.
9 & 9b. ~ An Cư (Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị) là nguyên quán của đại thần Nguyễn Văn Tường (1824-1886). Ở đây, nói đến hậu duệ (ông Nguyễn, tức là ông Nguyễn Văn Tương, cha đẻ của ông Trần Xuân Khuê). 
10. ~ Ông nội Trần Xuân Điền vô sinh.

Xem thêm:

Bài XXIV (trong tập thơ “Trong tôi Bến Hải & Thạch Hãn”):
SÔNG CÁNH HÒM
ĐỰNG CHUYỆN TÌNH XƯA
Trần Xuân An

dân dã tên sông, nhưng như huyền thoại
chiếc rương tư trang bay bay: Cánh Hòm
đặt bên Biển Đông, cánh đông biển biếc
cánh tây Rừng Trúc, mặt trời chiều hôm

sông quê mệ, song song bờ biển trắng *
Thạch Hãn bắc qua Bến Hải thanh ngang
Nhĩ Trung bên sông, An Cư liền mạch
tình ông Nguyễn buồn, nước mặn triều dâng

ông Trần là gốc trúc, từ Rừng Trúc
suốt đời cưu mang chuyện tình Cánh Hòm
rương tư trang, ngoài muối và cọng chiếu
đâu chỉ lúa mặn mòi, khoai đậm thơm

thương kính chiếc rương, cũ xưa, nắp kép
cùng chái tan, mệ chết, máu chảy ròng
– đạn Pháp bắn bừa –, nát thư vuông lụa
đọng tình An Cư – Nhĩ Trung, thắm dòng

thư vuông lụa, gặp con, ông Nguyễn nhắc
cũng đều hay, trong huyết tộc thân sơ
mệ trung trinh dâu họ Trần đến mất
“sống gửi nạc, thác gửi xương”, nếp xưa

từ nách cánh – Nhĩ Trung, đã cải táng
quy tập về, trên đầu cánh – Trúc Lâm
thăm ông mệ, ngỡ lăng như khoá mở
rương bồ câu bay, trải lòng trăm năm *

Trúc Lâm vọng, sóng Cửa Tùng – Cửa Việt
sông Cánh Hòm, biển Triệu Phong – Gio Linh
rương tâm sự xưa: chim phơi đôi cánh
rưng rưng Bến Hải – Thạch Hãn quê mình

rương tâm sự bay, cứ như truyền thuyết
chân đậu Nhĩ Trung, gác mỏ An Cư
một cánh biển xanh, thuở tình bát ngát
một cánh Trúc Lâm, nghĩa nặng thiên thu.

T.X.A.
07:24-10:01, 26-5-2018 HB18
…………….

(*) ~ Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, mệ là bà, người phụ nữ già cỡ tuổi bà, như mệ nội (bà nội), mệ ngoại (bà ngoại), mệ đồng hương… ~ Chim bồ câu trắng là biểu tượng hoà bình trong tự do, chứ không phải hoà bình trong nô lệ.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2058080964465844/
. Đọc tiếp »

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »

Cởi trói Tiền chiến, cởi trói Hậu chiến

Posted by Trần Xuân An trên 23.03.2021

hidden hit counter

        
.
CỞI TRÓI TIỀN CHIẾN,
CỞI TRÓI HẬU CHIẾN
Trần Xuân An

~~ Văn học sử ghi công các nhà văn biên tập viên Văn nghệ
và nhà văn Nguyên Ngọc (1932-) thời “Cởi trói”.
Tưởng tiếc nhà văn “Tướng về hưu” (20-03-2021) ~~

mẫu quốc Pháp cởi trói
bật bút sắc Vũ Trọng Phụng, Nam Cao
Liên Xô cởi trói
Nguyễn Huy Thiệp khươi báo chí xôn xao

nhưng Hai Cuộc Sóng Thần châu Âu *
vỗ ào
cuộn máu đồng bào
chưa bút ai tự cởi trói

tôi nghĩ bút mình len đất sâu
leo trời cao
cây lịch sử, bút tôi chạm vào lõi
131 vòng năm, khổ đau, dữ dội *

không phải Pháp nào
Liên Xô nào
dân tộc ta phải tự cởi trói
tự trọng, tự hào, cho nghìn sau.

T.X.A.
15:22-16:20, 23-03-2021
………..

(*) ~ Thực dân Pháp, Hội Thừa sai Paris tại hải ngoại Pháp và Phong trào Cộng sản từ Nga Xô. Đúng ra, thực dân Châu Âu và Vatican đã bành trướng sang châu Á từ thế kỉ XVI. ~ 131 năm, gồm cả Chiến tranh Lạnh (1858-1945-1989/1991).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2855860444687888/
.
Ảnh: Google search

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , | Leave a Comment »

ĐỌC LẠI: Tệp PDF TẬP THƠ THỨ HAI MƯƠI BẢY (27/49)

Posted by Trần Xuân An trên 11.03.2021

hidden hit counter

.
ĐỌC LẠI TẬP THƠ THỨ HAI MƯƠI BẢY (27)
TRONG BỐN MƯƠI CHÍN (49) ĐẦU SÁCH – TÁC PHẨM
CỦA TÁC GIẢ TRẦN XUÂN AN
:

“NGUỴ” VÀ “PHIẾN”,
HOÀ GIẢI THỜI HẬU CHIẾN

(tập thơ 42+02 bài thơ mới viết và 01 bài thơ ở một tập trước)
.
.
PDF (sách PDF)
.
.
Xem trước bài thơ “Hoà giải ‘nguỵ’ và ‘phiến’”
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2840615196212413/
Hoặc:
https://txawriter.wordpress.com/2021/03/02/b41-tap-27-49-hoa-giai-nguy-va-phien/

Trọn tập thơ:

http://www.tranxuanan-poet.net/…

https://txawriter.wordpress.com/2021/02/02/tap-tho-27-trong-49-dau-sach-tac-gia-tran-xuan-an/
.

.

.
CHÚ THÍCH BỔ SUNG CHO HAI TỪ “NGUỴ” VÀ “PHIẾN”:
(*) Theo từ điển Hán – Việt (online, “Hán -Việt tự điển” của Thiều Chửu, Nxb. TP.HCM., 1999): “Phiến” (xúi giục, giúp kẻ ác): phiến quân, phiến cộng; “nguỵ” (giả dối, bù nhìn, giặc): nguỵ quân, nguỵ quyền. Chú thích bổ sung có tính sử học: Theo đài báo, nhất là các đài phát thanh Quốc gia Việt Nam, kế tục bởi Việt Nam cộng hoà tại Miền Nam, nội hàm từ “phiến cộng” được làm rõ bằng câu: Cộng sản Bắc Việt được hình thành và thống lãnh bởi “quan thầy Nga Sô, Trung Cộng”, mà chính xác là, Nga Sô uỷ nhiệm cho Trung Cộng. Đó là quan điểm, lập trường chính thống của Quốc gia Việt Nam, Việt Nam cộng hoà. Và sau đây là quan điểm, lập trường của Việt Nam dân chủ cộng hoà, rồi vẫn tồn tại trong giai đoạn Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Theo thông tin từ các sách báo, tài liệu trước đây ở Miền Bắc, gần đây trên cả nước, từ “nguỵ” gắn liền với vương triều Nhà Nguyễn, từ Đồng Khánh (1885) cho đến Bảo Đại, kể cả giai đoạn Bảo Đại phục hồi vương quyền với danh xưng quốc trưởng (1947/1949-1955), và “nguỵ” còn gắn liền với chính quyền Việt Nam cộng hoà (1955-1975).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2840615196212413/

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »

B2 (tập 27/49): Học bạ chúng ta, tên Ngài vinh danh

Posted by Trần Xuân An trên 09.03.2021

hidden hit counter

        
.
Bài 2, viết tiếp “Tổ quốc ơi…”
HỌC BẠ CHÚNG TA,
TÊN NGÀI VINH DANH
Trần Xuân An

Hàm Nghi yêu dấu, gọi tên trường
vang tâm ta, hồn Huế, làn hương
âm thanh kỉ niệm thơm kí ức
trường thân, trong Quốc tử giám thương

ngôi trường mới xây thay trường xưa
nhớ rêu phong nắng, cổ kính mưa
Hàm Nghi yêu dấu lưu di tích
kết sợi truyền thống ai nào chưa

hồn trường xưa đỗ Tân Sở xanh
ngời kỉ niệm quật khởi kinh thành
trường yêu dấu: Hàm Nghi kháng Pháp
bao học bạ, tên Ngài vinh danh

rước linh Ngài, linh các đại thần *
học sinh chiêu niệm hồn sĩ dân
trưởng thành cùng Dụ vang Tân Sở
Tân Sở chờ trả cốt minh quân.

T.X.A.
chiều 27-11-2020
——————-

(*) Hai đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2770143563259577/
.

.

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , | Leave a Comment »

B42 (tập 27/49): PHÁC THẢO VỀ NĂM MƯƠI NĂM

Posted by Trần Xuân An trên 05.03.2021

hidden hit counter

        
.
Bài 42, viết tiếp “Tổ quốc ơi… “
PHÁC THẢO VỀ NĂM MƯƠI NĂM
Trần Xuân An

tự ngẫm lại năm mươi năm viết lách
khảo Bắc thuộc, ngẫm Chiến tranh Đỏ – Vàng
Trăm-ba-mốt năm dài, dài Hậu chiến *
cây thống nhất có lá cành li tan

Đất nước Đỏ, tôi Đỏ nghiêng quê ngoại
Đỏ nhưng hồn thuần chất Việt Nam mình
thơ Đỏ nhất, hiện nỗi niềm thất thế
nam Bến Hải in trên thẻ chứng minh *

lãng mạn Đỏ, nỗi niềm Vàng thấp thoáng
nửa nhân dân, tâm thế sử sang chương
đến “Cởi trói”, thơ từ mười bảy tuổi
đồng hiện cùng Bốn-tư năm máu xương *

dăm tiểu thuyết về lớp người Hậu chiến
truyện – hồi kí. Nghiên cứu, sáng thiên lương
nhân vật sử tổ tiên. Hai gốc nội
luận về thơ, những quen biết, thân thương

năm mươi năm, chất Đỏ sau “Cởi trói”:
Đỏ pha Vàng trước Thống nhất đó thôi
chống ngũ cường ngoại xâm là đạo lí *
sọ di sản nở chín đoá bông ngời

người Việt Nam bên này sông Bến Hải
sông điển hình cả Chiến tranh Đỏ – Vàng
trong Chiến tranh hai Khối – Cầu Ý Hệ
vượt sóng thần hai cuộc máu vỗ tràn

ngẫm về mình, bao giờ cũng phác thảo
sợ sơ suất trở thành vết sẹo oan
liệt kê rõ bốn mươi chín đầu sách *
năm mươi năm viết lách bút chưa tàn

mọi cuộc đời, lịch sử đều lưu dấu
chiến tranh rồi hậu chiến trên phận người
bị thua thiệt trăm bề, chỉ cầm bút
mong thời gian không phải hư vô trôi.

T.X.A.
05:23-07:34, 05-03-2021
…………..

(*) ~ Một-trăm-ba-mươi-mốt năm:1858-1989; và Bốn-mươi-tư năm: 1945-1954-1975-1989. ~ Khoảng năm 1976, quận Gio Linh và đặc khu Vĩnh Linh hợp nhất thành huyện Bến Hải. Sau 1989, lại tách ra như cũ, Bến Hải chỉ còn là tên sông – dòng sông lịch sử. ~ Tránh những suy diễn không chính xác, xin vui lòng xem danh mục bốn mươi chín (49) đầu sách được tác giả viết với các thể loại (vài cuốn biên soạn, sưu tập)..
~ Chú thích bổ sung:
sách Miền Nam chống tứ cường, trừ Mỹ
sách Miền Bắc chống tứ cường, trừ Nga
tâm trong sáng trẻ thơ ngời phép tính:
Pháp, Nhật, Trung, Nga, Mỹ xâm lăng ta.
(T.X.A.)

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2842536162686983/

Ảnh tác giả, do nhiếp ảnh gia Lê Văn Duy chụp:
.

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

B41 (tập 27/49): HOÀ GIẢI “NGUỴ” VÀ “PHIẾN”

Posted by Trần Xuân An trên 02.03.2021

hidden hit counter

        
.
Bài 41, viết tiếp “Tổ quốc ơi… “
HOÀ GIẢI “NGUỴ” VÀ “PHIẾN”
Trần Xuân An

người lính chiến nối liền sông bằng súng
nhà chính trị nối liền núi bằng cờ
dân thì sợ, quan không hoà giải thật
tôi hoà giải bằng tiểu thuyết và thơ…

hai Nhà nước gọi nhau “nguỵ” và “phiến”
“nguỵ” tay sai, “phiến” phò ác ngoại bang *
miệt thị nhau! Tôi thương Vàng, mến Đỏ
nội chiến trong ngoại chiến, chống xâm lăng

mọi lí lịch đều có Vàng có Đỏ
vận nước chung, Chiến tranh Lạnh ba đời
như Triều Hàn, Trung Đài, Đông Tây Đức
“Nguỵ” và “Phiến” đều chung hương khói thôi

sử lưu trữ thơ ca… một phía Đỏ
sử lưu trữ tiểu thuyết… một phía Vàng
mai sau đọc, chỉ sử, văn hoà giải
người Việt Nam không thể mãi thù hằn

sáu lăm tuổi, năm mươi năm viết lách
Bến Hải đâu nghiêng hẳn Đỏ hoặc Vàng!
từng oán hận mình ôm bình xương sọ
nếu Việt gian, chín đoá đều Việt gian

đỏ năm đoá, lưu và rửa chữ “phiến”
lưu và rửa “nguỵ” bốn đoá vàng, lam
Chiến tranh Lạnh, hai chữ kia nội chiến
đất bình sọ: máu yêu nước Bắc – Nam.

T.X.A.
14:21-15:30, 02-03-2021
………….

(*) Theo từ điển Hán – Việt (online, “Hán -Việt tự điển” của Thiều Chửu, Nxb. TP.HCM., 1999): “Phiến” (xúi giục, giúp kẻ ác): phiến quân, phiến cộng; “nguỵ” (giả dối, bù nhìn, giặc): nguỵ quân, nguỵ quyền. Chú thích bổ sung có tính sử học: Theo đài báo, nhất là các đài phát thanh Quốc gia Việt Nam, kế tục bởi Việt Nam cộng hoà tại Miền Nam, nội hàm từ “phiến cộng” được làm rõ bằng câu: Cộng sản Bắc Việt được hình thành và thống lãnh bởi “quan thầy Nga Sô, Trung Cộng”, mà chính xác là, Nga Sô uỷ nhiệm cho Trung Cộng. Đó là quan điểm, lập trường chính thống của Quốc gia Việt Nam, Việt Nam cộng hoà. Và sau đây là quan điểm, lập trường của Việt Nam dân chủ cộng hoà, rồi vẫn tồn tại trong giai đoạn Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Theo thông tin từ các sách báo, tài liệu trước đây ở Miền Bắc, gần đây trên cả nước, từ “nguỵ” gắn liền với vương triều Nhà Nguyễn, từ Đồng Khánh (1885) cho đến Bảo Đại, kể cả giai đoạn Bảo Đại phục hồi vương quyền với danh xưng quốc trưởng (1947/1949-1955), và “nguỵ” còn gắn liền với chính quyền Việt Nam cộng hoà (1955-1975).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2840615196212413/
.

TRẦN XUÂN AN

tập thơ 27/49
viết và công bố: 23-11-2020 — 06-03-2021


“NGUỴ”

VÀ “PHIẾN”,

HOÀ GIẢI

THỜI HẬU CHIẾN

.
https://txawriter.wordpress.com/2021/02/02/tap-tho-27-trong-49-dau-sach-tac-gia-tran-xuan-an/

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , | Leave a Comment »