Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Archive for Tháng Sáu, 2010

Chủ nghĩa lí lịch không khoa học nên không có giá trị văn chương

Posted by Trần Xuân An trên 29.06.2010

hidden hit counter

VẤN ĐỀ NHÂN VẬT: CHỦ NGHĨA LÍ LỊCH KHÔNG PHẢI LÀ KHOA HỌC, DO ĐÓ KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ TRONG TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG

Trần Xuân An

Nhà giáo Ngô Thủ Lễ thân mến,

Trước hết, xin xác định với bạn, đây là chuyện CON NGƯỜI – VĂN CHƯƠNG ( “Văn học là nhân học”).

Chuyện có thật về lời phê của cán bộ địa phương vào lí lịch như bạn kể thì đầy rẫy ra! Nhiều lắm!

Điều mình muốn bạn lưu ý là đoạn này:

“Cơ sở nào để chứng minh rằng chủ nghĩa lí lịch 3 đời là thiếu tính biện chứng, tôi đã có nhiều dịp để trình bày trong tác phẩm của mình, đặc biệt là trong “Mùa hè bên sông” (tiểu thuyết), qua lời của nhân vật nhà văn Quyển. Nhà văn Quyển không lấy căn cứ ở đâu xa lạ, mà chính là một câu nổi tiếng của Karl Marx: “Con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội, trong tính hiện thực của nó”. Marx không chú trọng đến quan hệ gia đình lắm, mà chủ yếu là quan hệ xã hội… Xin nhấn mạnh là “trong tính hiện thực của nó”. Một lãnh tụ cách mạng Việt Nam, quê gốc Quảng Trị, ông Lê Duẩn, cũng cho rằng con người chỉ có 3 cấp độ sống: cá nhân, vợ chồng, xã hội“(*).

Một điều nữa, chắc bạn không thể không lưu ý:

Mình muốn nói là muốn tìm hiểu CON NGƯỜI NÀO, phải căn cứ vào quá trình từ lúc mới được sinh ra cho đến thời điểm mình đang tìm hiểu, về nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, lối sống, hoạt động của CON NGƯỜI ẤY và CHỈ CON NGƯỜI ẤY mà thôi. Thật vậy, nếu căn cứ vào hồ sơ chứng từ, thì bộ học bạ là quan trọng hơn bản lí lịch 3 đời, vì bộ học bạ là hồ sơ chứng từ về con người ấy ở giai đoạn hình thành tính cách, bộc lộ trí thông minh, đạo đức, tác phong rõ nhất, và có nhiều người chứng nhất (cả trăm lời phê, chữ kí của thầy cô giáo, cả chục dấu ấn từ khuôn dấu của nhà trường) còn bản lí lịch 3 đời thì giúp hiểu thêm về ông bà, cha mẹ, nhưng về bản thân con người ấy lại chẳng có nhiều thông tin, lại chỉ có mỗi một chữ kí của công an hay chủ tịch xã (phường).

Mình cũng cho rằng lí lịch 3 đời hay tộc phả nhiều đời cũng chỉ có giá trị tham khảo mà thôi, nhất là về mặt di truyền thể chất. Và còn môi trường sống, bối cảnh lịch sử – xã hội nữa chứ! Nếu cần thêm vào bài viết, mình nghĩ cũng nên bổ sung thêm ít dẫn chứng. Các câu tục ngữ, ngạn ngữ sau đây cũng nói về lí lịch, hồ sơ học bạ:

1) Tính cách (tính nết, khí chất, năng lực, tình cảm, khuynh hướng bản thân, lối sống…) : “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”; “cha dạy học, con đốt sách”… mặc dù cũng có “cha anh hùng, con hảo hớn” (tương đồng về phẩm chất thuộc tính cách)…

2) Mã di truyền thể chất (gène): “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” (lông và cánh thuộc thể chất — thể chất bao gồm cả bộ não); “hổ phụ sinh hổ tử” (cọp cha sinh cọp con; cọp là biểu tượng về về sức khỏe thể chất)… mặc dù cũng có: “mẹ cú sinh con tiên” (tương phản về diện mạo thuộc thể chất)…

3) Môi trường sống, bối cảnh lịch sử – xã hội: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”; “cây quất ở đất phương Nam vốn ngọt, nhưng đem trồng ở đất phương Bắc lại biến chất thành chua” (hay “Cây quất trồng ở đất Giang Nam thì ngọt nhưng mang trồng ở đất Giang Bắc thì chua”); “sông có khúc, người có lúc”…; nhưng cũng có: “gừng càng già càng cay” (khí chất không thay đổi, bất chấp thời gian, tuổi tác)…

Lí lịch 3 đời, tộc phả chỉ giúp cho ta thấy được yếu tố “gène” trội – lặn – phát sinh (đột biến) mà thôi. Còn nghiên cứu về tài và đức của con người cụ thể thì bộ hồ sơ học bạ có cơ sở hơn, xác thực hơn.

Chắc hẳn chủ nghĩa lí lịch 3 đời có căn nguyên là vấn đề thành phần xã hội, giai cấp, địch – ta, chứ không phải là để tìm hiểu con người cụ thể (“con người này”) với mục đích sử dụng trong công việc hay với mục đích khắc họa hình tượng văn chương.

Chủ nghĩa lí lịch hiện hành chắc hẳn xuất phát từ quan điểm đấu tranh giai cấp (thậm chí là biểu hiện trả thù giai cấp), đồng thời xuất phát từ quyền lợi giai cấp, quyền lợi của bộ phận cầm quyền! Nó không phải là khoa học về con người (như Karl Marx và Lê Duẩn đã viết). Do đó, nó không có giá trị văn chương.

Nếu chủ nghĩa lí lịch quá cứng nhắc, nó trở thành rào cản chia rẽ xã hội, dân tộc, ngăn chận sự chuyển hóa giai cấp từ phía “địch” sang phía “ta”, khiến những ai xuất thân từ các giai cấp, thành phần vốn là đối tượng đánh đổ của cách mạng bị dồn vào chân tường, ngõ cụt, bờ vực, chỉ còn một con đường duy nhất là chống lại cách mạng! Về khía cạnh này, nhiều người lầm lẫn, ngỡ rằng hệ quả (hậu quả) là nguyên nhân (căn nguyên). Thật ra, họ chống lại cách mạng vì cách mạng dồn họ và cả cha ông cùng con cháu họ vào chân tường, ngõ cụt, bờ vực, không lối thoát. Họ phải chống lại, theo bản năng sinh tồn, bản năng tự vệ. Nếu cách mạng không dồn họ vào chân tường, ngõ cụt, bờ vực, mà biết trọng dụng họ, hoặc cho họ được hưởng quyền bình đẳng, được đối xử công bằng như mọi người, không triệt đường tiến thủ của con cháu họ, chắc hẳn họ không chống lại, mà họ và con cháu họ còn phục vụ cách mạng một cách tích cực.

Về chủ nghĩa lí lịch quả thật là một thứ rào cản, các thế lực thù địch với cách mạng cũng đã, đang và sẽ lợi dụng rào cản ấy để chia rẽ xã hội, dân tộc chúng ta.

Nhà giáo Ngô Thủ Lễ thân mến, vấn đề ở đây là VẤN ĐỀ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG. Càng hiểu sâu con người – cuộc đời thì viết văn càng sâu.

Nhà văn mà lề lối làm việc máy móc chủ nghĩa, quan liêu, bàn giấy chủ nghĩa, tư duy thiếu tính biện chứng và nhận thức thiếu kinh lịch, thiếu vốn sống thì hình tượng nhân vật rập khuôn, “giáo điều”, “công thức”, sơ lược, xơ cứng…

Thân & quý,
Trần Xuân An
16:10 – 5:33, ngày 28-6 HB10 (2010)

____________________________

(*) Xem bài đã đăng ở TranNhuongCom, ngày 26-6 HB10 (2010).
hay đọc tại đây:
Bấm vào đây

 Nhà của gia đình Karl Marx (trí thức khá giả)

Nhà của gia đình F. Engels (tư sản công nghiệp giàu có)

Nguồn ảnh 1 & 2: Wikipedia (bản tiếng Đức)

NHÀ GIÁO NGÔ THỦ LỄ THÂN MẾN, VẤN ĐỀ LÀ CON NGƯỜI CỤ THỂ (BỘ HỒ SƠ HỌC BẠ…), CHỨ KHÔNG PHẢI BẢN LÍ LỊCH 3 ĐỜI!

 

Đã đăng ở tạp chí điện tử TranNhuongCom:
http://trannhuong.com/news_detail/5286/VẤN-ĐỀ-NHÂN-VẬT:-CHỦ-NGHĨA-LÍ-LỊCH…

Xin vui lòng xem thêm ít chữ mới được tác giả (TXA.) bổ sung, lúc 6:25, sáng sớm 30-6 HB10:
https://txawriter.wordpress.com/2010/06/29/cnll…#comment-595
và, lúc 11:20, ngày 01-7 HB10:
https://txawriter.wordpress.com/2010/06/29/…/#comment-602
TXA.

______________________________

I. Bài chính:
Văn chương về các “vết thương” chiến tranh, hậu chiến…
II. Hai bài phát sinh:
1) Vấn đề nhân vật: Bản lí lịch 3 đời hay bộ hồ sơ học bạ?
2) Vấn đề nhân vật: Chủ nghĩa lí lịch không khoa học nên không có giá trị văn chương

TẠM KẾT VỀ CHỦ NGHĨA LÍ LỊCH TRONG TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG:

Chủ nghĩa lí lịch là sự đánh giá mỗi con người cụ thể qua các mối liên hệ về nhân tộc, tôn giáo, huyết thống (3 đời: ông bà nội ngoại, cha mẹ, chú bác cô, cậu dì, anh chị em và có thể cả đời thứ tư là các con), về hôn nhân (3 đời của người phối ngẫu), về bạn bè, và qua quá trình học tập, công tác (hay hành nghề) của bản thân, chứ không chỉ đánh giá mỗi con người cụ thể bằng chính quá trình học tập, công tác (hay hành nghề) của con người ấy.

Chủ nghĩa lí lịch thể hiện sự tính toán nhằm loại trừ những con người xuất thân từ các thành phần, giai cấp vốn là đối tượng đánh đổ của cách mạng hoặc có liên hệ với các thành phần, giai cấp ấy. Một mục đích khác là nhằm đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt những con người có mối liên hệ với cách mạng — liên hệ càng mật thiết, càng nhiều, càng được hưởng sự ưu đãi. Có thể vắn tắt: xác định mức độ LIÊN LỤY hay mức độ THỪA HƯỞNG. Nó còn có tính chất RĂN ĐE (không được phản cách mạng) hay tính chất KHUYẾN KHÍCH (phải ủng hộ và trung thành với cách mạng).

Chủ nghĩa lí lịch có nguồn gốc từ chế độ phong kiến độc tài, chuyên chế, thể hiện bằng các hình án mà nặng nhất là tru di tam tộc, bằng sự khen thưởng cho những người có liên hệ với đương sự, như phong hàm tước (danh dự), ban sắc cho vợ, cho cha mẹ, ông bà, và định lệ hưởng tập ấm cho con cháu. Chủ nghĩa lí lịch hiện hành còn là sự kết hợp với quan điểm đấu tranh giai cấp. Các mối liên hệ bao gồm cả hai chiều: giữa những đối tượng liên hệ với đương sự và giữa đương sự với những đối tượng liên hệ.

không thừa nhận mỗi con người là một chủ thể độc lập, tự do, tự chủ trong nhận thức, tư tưởng, hành động, với tài và đức của bản thân mà đánh giá qua các mối liên hệ có tính chất thành phần, giai cấp với mục đích chính trị, có tác động thực tế nhất thời, nên nó chỉ là một biện pháp chính trị thiếu tính nhân văn, chứ không phải là khoa học nghiên cứu về con người cụ thể nói chung.

Do đó, những tác phẩm văn chương, đặc biệt là tiểu thuyết, nhất là các tiểu thuyết miêu tả cặn kẽ, chi tiết về những con người trong các mối liên hệ ấy, để minh họa (có ý thức hay vô ý thức) cho chủ nghĩa lí lịch theo cách như trên, là phi khoa học và không có giá trị văn chương. Đó chỉ là những tác phẩm thuộc loại tuyên truyền cho một biện pháp chính trị thiếu tính nhân văn, gây chia rẽ xã hội, chia rẽ dân tộc (*).

Trần Xuân An
01-7 HB10 (2010)

__________________

(*) Xem thêm: Võ Văn Kiệt (nguyên Thủ tướng Chính phủ), “Đại đoàn kết dân tộc – cội nguồn sức mạnh của chúng ta”, VietnamNet, cập nhật lúc 16:03, Chủ Nhật, 28/08/2005 (GMT+7)
http : //vietnamnet. vn /60nam /ctdod /2005/08/ 483852/
Bấm vào đây

Phần kết này cũng đã đăng ở TranNhuongCom (03-7 HB10):
http://trannhuong.com/news_detail/5320/VẤN-ĐỀ-NHÂN-VẬT: …
Có sai khác, thêm vào ít chữ là do tác giả (TXA.) tự sửa chữa, bổ sung sau khi gửi đăng (01-7 HB10). Nội dung không có gì thay đổi.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , | 11 Comments »

Vấn đề nhân vật: Bản lí lịch 3 đời hay bộ hồ sơ học bạ?

Posted by Trần Xuân An trên 25.06.2010

hidden hit counter

VẤN ĐỀ NHÂN VẬT:
BẢN LÍ LỊCH 3 ĐỜI hay BỘ HỒ SƠ HỌC BẠ?

Bài “Văn chương về các ‘vết thương’ chiến tranh, hậu chiến & ánh sáng mới” (*) sau khi đăng tải, tác giả nhận được thư của ông Nguyễn Huỳnh (Gò Vấp): “Nếu ông cho rằng chủ nghĩa lí lịch 3 đời dễ gây ngộ nhận khi đánh giá một con người, đặc biệt là tính cách của con người ấy, thì biết căn cứ vào đâu khi xây dựng một nhân vật trong tác phẩm văn chương?”. Tác giả xin trả lời bằng bài viết ngắn dưới đây. — TXA. —

Cơ sở nào để chứng minh rằng chủ nghĩa lí lịch 3 đời là thiếu tính biện chứng, tôi đã có nhiều dịp để trình bày trong tác phẩm của mình, đặc biệt là trong “Mùa hè bên sông” (tiểu thuyết), qua lời của nhân vật nhà văn Quyển. Nhà văn Quyển không lấy căn cứ ở đâu xa lạ, mà chính là một câu nổi tiếng của Karl Marx: “Con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội, trong tính hiện thực của nó”. Marx không chú trọng đến quan hệ gia đình lắm, mà chủ yếu là quan hệ xã hội… Xin nhấn mạnh là “trong tính hiện thực của nó”. Một lãnh tụ cách mạng Việt Nam, quê gốc Quảng Trị, ông Lê Duẩn, cũng cho rằng con người chỉ có 3 cấp độ sống: cá nhân, vợ chồng, xã hội.

Còn ông hỏi căn cứ vào tư liệu văn bản nào, tôi xin thưa:

Nếu “điều nghiên” quãng đời học sinh ở Miền Nam như lứa tuổi tôi (sinh năm 1956), thì bộ học bạ, nhất là học bạ từ lớp đệ thất đến lớp đệ nhất (lớp 6 đến lớp 12), là rất quan trọng. Mỗi lục cá nguyệt (học kì ) đều có đến 8 hoặc 9 thầy cô giáo phê nhận xét, đánh giá về học tập, đạo đức và còn có thêm một lời phê tổng quát của giáo sư hướng dẫn (giáo viên chủ nhiệm)… Như vậy, mỗi năm có đến khoảng 20 lời phê của khoảng chừng ấy giáo sư bộ môn, giáo sư chủ nhiệm (cũng có khi ít hơn, vì có thầy cô dạy cả 2 lục cá nguyệt trong một năm học).

Xin nhớ là trong nhà trường ở Miền Nam trước 1975, tuyệt đối không có những tổ chức, đoàn thể chính trị (đảng, đoàn, đội…), và nội dung giảng dạy không gắn liền với chế độ chính trị Miền Nam thuở bấy giờ.

Ngoài ra, trong học bạ, ở bìa 4 (trang 4) cũng có vài nét về gia cảnh (cha mẹ hay người giám hộ bao nhiêu tuổi, làm gì, ở đâu; anh em mấy người).

Tất nhiên, nhân vật trong tác phẩm văn chương chỉ là nhân vật hư cấu, nhưng hồ sơ học bạ cũng là tư liệu bảo chứng. Bộ học bạ của nhân vật là một căn cứ đáng kể. Và nhân vật trong tác phẩm văn chương, cái chính yếu mà người đọc quan tâm vẫn là năng lực, tư cách, tác phong thể hiện qua hành vi, suy nghĩ nội tâm, rất cụ thể, sinh động…

Nói như thế cũng dễ lẫn lộn giữa loại nhân vật người thật, việc thật, loại nhân vật kí sự với loại nhân vật truyện kí, với loại nhân vật tiểu thuyết. Cần tách ra 4 loại như vừa kể ra.

Thưa ông, vậy đó, “điều nghiên” quãng đời học sinh của nhân vật người thật, việc thật, nhân vật kí sự thì quan trọng nhất là bộ hồ sơ học bạ.

Nếu bộ hồ sơ học bạ gồm cả trăm chữ kí với lời phê của thầy cô giáo, rất giá trị, mà trót bị thất lạc, bị thiêu hủy, thì chỉ còn cách là gặp gỡ các thầy cô giáo cũ, bạn học cũ. Tuy nhiên, thầy cô giáo cũ, bạn học cũ cũng có khi bị chi phối bởi “tâm thế – áp lực thời điểm”, “không khí thời đoạn xã hội”… Nếu ai còn giữ được bộ hồ sơ học bạ thì may mắn vô cùng.

Dẫu sao, sự thật là thực thể con người rất phong phú, phức tạp. Nhưng nếu chọn giữa bản lí lịch 3 đời và bộ hồ sơ học bạ, để “điều nghiên” về một con người, đặc biệt là giai đoạn quan trọng nhất của con người cụ thể nào đó, và xem thử cái nào có giá trị hơn, tôi sẽ chọn bộ hồ sơ học bạ.

Xin nhớ là bản lí lịch 3 đời và bộ hồ sơ học bạ đều là văn bản bằng giấy!

Có lẽ cũng cần nói đầy đủ hơn, khi nghiên cứu quãng đời quan trọng hình thành nên một con người, có thể gọi là quãng đời cơ sở để phát triển ở các giai đoạn sau, trong những biến động của bối cảnh xã hội, với mục đích tái hiện thành một nhân vật kí sự, ta không từ chối một tư liệu nào, kể cả lí lịch 3 đời, và hơn thế nữa, tộc phả nhiều đời, nhưng chỉ để tham khảo thêm cho biết, còn quan trọng nhất, giá trị nhất, xác thực nhất vẫn là bộ hồ sơ học bạ.

Đó là xét trên bình diện loại tác phẩm người thật, việc thật, kí sự. Còn trên bình diện loại tác phẩm hư cấu, như tiểu thuyết chẳng hạn, thì cũng có thể xem đó để làm mẫu. Và dẫu sao, nội dung văn chương cũng rất linh hoạt! Thực tiễn cuộc đời – đời người vốn đa dạng vô cùng!

Trân trọng,
TXA.
25-6 HB10 (2010), lúc 4:15 chiều
Có chỉnh sửa dăm chữ: sáng 26-6 HB10 (2010)

_________________________

(*) Bài “Văn chương về các ‘vết thương’ chiến tranh, hậu chiến & ánh sáng mới” đã đăng ở TranNhuongCom, ngày 22-6 ‘’10.

Từ khung bàn luận này:
txawriter.wordpress…/2010/06/23/…comment-585

Đã đăng bài viết này tại:
http://trannhuong.com/news_detail/5258/VẤN-ĐỀ-NHÂN-VẬT:…?

______________________________

I. Bài chính:
Văn chương về các “vết thương” chiến tranh, hậu chiến…
II. Hai bài phát sinh:
1) Vấn đề nhân vật: Bản lí lịch 3 đời hay bộ hồ sơ học bạ?
2) Vấn đề nhân vật: Chủ nghĩa lí lịch không khoa học nên không có giá trị văn chương

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , | 6 Comments »

Văn chương về các “vết thương” chiến tranh, hậu chiến…

Posted by Trần Xuân An trên 23.06.2010

hidden hit counter

Tham luận Đại hội Hội Nhà văn TP.HCM., khoá VI (5-2010)

TRẦN XUÂN AN

VĂN CHƯƠNG VỀ CÁC “VẾT THƯƠNG” CHIẾN TRANH, HẬU CHIẾN
& ÁNH SÁNG MỚI

I. Công cuộc Đổi mới và sự “cởi trói” cho văn nghệ, học thuật
II. Một trong những hướng mở: Viết về phân số nhân dân không và chưa có thể toàn tâm hoà nhập vào tiến trình Cách mạng và Đổi mới
1. Nghĩ về đề tài
2. Nghĩ về hình tượng trung tâm
3. Nghĩ về lí tưởng thẩm mĩ
III. Văn chương, tiếng nói của hoà giải và đoàn kết

I.

Công cuộc Đổi mới và sự “cởi trói” cho văn nghệ, học thuật

Văn chương đích thực là tiếng nói nghệ thuật, tiếng nói học thuật xuất phát từ tâm thái tự do, được soi sáng và điều chỉnh bởi trí tuệ của chính người viết. Nếu được viết với tâm thái, với trí tuệ đó, trong điều kiện xã hội không trói buộc về xuất bản, phát hành, chắc hẳn người cầm bút không còn mơ ước gì hơn.

Như vậy, trước hết, đó là sự trả lại sáng tác văn chương, khoa học về văn chương cho chính nó, đúng với chức năng phản ánh trung thực, một chức năng cao đẹp, hàng đầu (trước cả thiện và mĩ) vốn đã được xác lập từ xưa, lại được khẳng định trong nhiều thập niên thuộc thế kỉ XX mới đây: Văn chương là tấm gương trung thực phản ánh hiện thực xã hội. Tất nhiên hiện thực xã hội ấy luôn luôn ở trong tiến trình vận động một cách biện chứng, không đứng yên, chết cứng.

Để tác phẩm đạt được phẩm chất chân thực, để người cầm bút được quyền giữ gìn, phát huy đức tính trung thực, thật không dễ dàng gì, trong điều kiện đất nước chiến tranh, nhất là trong thời hậu chiến, người cầm bút bị đe doạ, bị mua chuộc, hoặc do cái tâm, cái trí của cá nhân nào đó chưa sáng.

Không kể đến những người cầm bút thiếu sĩ khí, thiếu lương thiện (thiếu đức tính trung thực), ở đây, chúng ta bàn đến điểm chung nhất. Khi bàn đến vấn đề chung nhất của văn chương, gồm sáng tác và lí luận – phê bình văn chương, không thể không thấy sự bức xúc đến mức phẫn nộ hoặc trầm uất về tự do sáng tác, tự do học thuật, trước Đổi mới. Do đó, cùng với đổi mới về kinh tế, về các mặt khác thuộc nhiều lĩnh vực trong xã hội, đó là sự “cởi trói”, để văn chương, nghệ thuật và học thuật về văn chương có thể khai phá, đi sâu, mở rộng vào nhiều đề tài…

Một trong những hướng mở sau khi được “cởi trói”, phải chăng là khơi sâu, mở rộng dòng văn chương, học thuật thuộc thời đoạn tạm thời xác lập là từ 1986 cho đến nay, viết về một phân số đông đảo nhân dân Miền Nam, vốn từ trước 1975, không hay ít chịu ảnh hưởng của Cách mạng? Tôi xin được nhấn mạnh: đó là một trong những hướng mở.

Đây không phải là một vấn đề đương nhiên, không cần bàn đến, vì nhiều người cứ ngỡ rằng một khi khẳng định như kinh nhật tụng, “văn học phản ánh hiện thực”, mà hiện thực thì muôn vẻ, đa dạng, nhiều màu sắc chính kiến, nên đương nhiên là cuộc sống, tư tưởng, tâm trạng cá nhân thuộc bộ phận xã hội cho dù không hoặc chưa toàn tâm hoà nhập vào tiến trình Cách mạng, Đổi mới cũng đã được phản ánh rồi, từ trước đến nay không ai cấm đoán.

Thật ra, không đơn giản như vậy.

Tham luận này nêu ra vấn đề ấy cũng chỉ với chủ đích là để nền văn chương, học thuật nước ta ngày mỗi phong phú, đa dạng, toàn diện hơn, và chân thực hơn. Đó cũng là tiền đề của tính lương thiện, tính thẩm mĩ. Ở phương diện khác, đó chính là yêu cầu của một phân số khá lớn nhân dân và của tất thảy mọi người đọc, đặc biệt là những người đọc vốn trọng tính trung thực.

II.

Một trong những hướng mở: Viết về phân số nhân dân không và chưa có thể toàn tâm hoà nhập vào tiến trình Cách mạng và Đổi mới

1. Nghĩ về đề tài:

Viết về cuộc sống, tư tưởng, tâm trạng cá nhân thuộc một bộ phận xã hội không hoặc chưa toàn tâm hoà nhập vào tiến trình Cách mạng, đó là một đề tài không phải mới mẻ, chưa từng có ai viết, hay chưa được các toà soạn, các nhà xuất bản chấp nhận cho đăng tải, ấn hành. Trong thời chiến tranh chống Pháp ở Bắc bộ, đã từng có truyện ngắn “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao (hình như viết về nhà văn Vũ Bằng); một phần quan trọng trong bộ tiểu thuyết hai tập “Vỡ bờ” của nhà văn Nguyễn Đình Thi. Thời chống Mỹ, trong những vùng giải phóng, ở Miền Nam, nhiều đội văn công chuyên nghiệp hay quần chúng đã dựng vở kịch ngắn “Chứng chỉ sức khoẻ” của nhà viết kịch Nguyễn Vũ; với bối cảnh đô thị, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã có truyện kí “Như con sông từ nguồn ra biển” (hình như viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn), nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có trường ca “Mặt đường khát vọng”… Sau ngày đất nước thống nhất, trước Đổi mới, cũng đã có “Khoảng cách còn lại”, “Đứng trước biển” của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn… Ngoài ra, cũng về đề tài này, nhưng thuộc hiện thực cách mạng ở Liên Xô cũ, chúng ta còn đọc được bộ ba tiểu thuyết “Con đường đau khổ” của nhà văn Aleksei N. Tolstoi (1883-1945)…

Tuy vậy, mặc dù hầu hết đó là những tác phẩm được viết với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, theo sự vận dụng riêng, có sáng tạo mới của mỗi tác giả (chẳng hạn như có tác phẩm được tăng cường những yếu tố thuộc hiện thực phê phán), nhưng không phải tác phẩm nào cũng được nhắc đến, chưa nói là được đánh giá đúng mức hay không.

Thậm chí, tiểu thuyết “Một thời dang dở” của nhà văn Trần Thanh Giao, có nhân vật trung tâm là Ba Trí (sinh viên Miền Nam, trưởng thành trong phong trào đấu tranh đô thị, lên rừng tham gia kháng chiến chống Mỹ, về lại TP.HCM. để xây dựng, gặp phải những trói buộc của cơ chế, khao khát được “bung ra”), cũng phải rơi vào sự lạnh nhạt của những trang phê bình trên báo chí chính thống.

Tuy vậy, một phần do sự cưỡng bức vô thức của cuộc sống xã hội đối với vô thức của người cầm bút, một phần do thôi thúc của nội tâm, trong đó có lương tâm, họ đã vượt lên những rào cản, trói buộc có tính chất “định chế” sáng tác, để rồi được tháo gỡ, cởi trói. Sau Đổi mới, thật sự đã có sự mở rộng, đào sâu “mặt trái” của hiện thực xã hội theo đề tài này, để văn chương ta không còn phiến diện, hiện thực phản ánh trong tác phẩm không còn là hiện thực “bị cắt xén”, “gọt chân cho vừa giày” hay “cắt đầu cho vừa giường”. Có thể nói, ít nhiều cũng đã có những tác phẩm viết về “vết thương” chiến tranh, hậu chiến, kể cả “vết thương” không chỉ do các thế lực ngoại xâm hay phản cách mạng gây ra, mà tác nhân chính là Cách mạng. Trên văn đàn, báo chí chính thống ở nước ta, hầu như chỉ những người cầm bút Miền Bắc hay gốc Bắc vào Nam sau 1975 viết về đề tài “vết thương” này, nên hiện thực và nhân vật là Miền Bắc, chứ không phải Miền Nam, như nhà văn Bảo Ninh với “Nỗi buồn chiến tranh”, đặc biệt là nhà văn Tô Hoài với “Ba người khác”, và gần đây, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng với “Nước mắt một thời” (rất tiếc là tôi chưa đọc trọn vẹn tiểu thuyết này) (1) (2)… Cũng trên văn đàn, báo chí, những người cầm bút Miền Nam, kể cả những người vốn sinh trưởng ở Miền Nam trong giai đoạn 1954-1975, hầu như hoàn toàn vắng bặt, không có tác phẩm nào viết về “vết thương”, cho dù chỉ là “vết thương” do lịch sử gây ra. Sự thể này cũng có cơ sở của nó. Đó là tâm lí tự co rút, và không có điều kiện để mạnh dạn. Mặt khác, phải chăng câu nói này phản ánh tâm lí của người kháng chiến: “Ta phê phán ta, chứ thằng địch cũ có quyền gì mà phê phán ta!”…

Riêng tôi, ngoài những tập thơ (1973-1998), trong thời Đổi mới, bản thân tôi cũng đã viết đến 4 tiểu thuyết, khẳng định thành tựu chung song song với thể hiện nỗi đau không riêng ai: “Mùa hè bên sông” (Nỗi đau hậu chiến), “Có một nơi lá mãi xanh”, “Ngôi trường tháng giêng”, “Sen đỏ, bài thơ hoà bình” (có thể kể thêm tập truyện ngắn liên hoàn “Nước mắt có vị ngọt”…). Trong đó, có 3 tiểu thuyết đã được Nxb. Hội Nhà văn và Nxb. Thanh Niên cấp phép ấn hành.

Tiểu thuyết “Mùa hè bên sông” (Nỗi đau hậu chiến, 1997 & 2003) của tôi có chủ đích “phẫu thuật vết thương Bến Hải, vĩ tuyến 17” – một “vết thương” phần lớn là do sự xâm lược của Pháp và “tả đạo” trong Thiên Chúa giáo, rồi “tả đạo” được sự hà hơi tiếp sức của Mỹ, gây ra, cũng chưa được chính thức xuất bản qua một nhà xuất bản nào trong nước.

Hiện thực cuộc sống Miền Nam, đặc biệt là trong giai đoạn 1975 đến nay, 2010, đã và đang kêu đòi phải chấp nhận sự tồn tại, hiện hữu của nó trong các tác phẩm văn chương, một cách trọn vẹn, toàn diện, cả mặt ánh sáng cũng như mặt bóng tối. Câu hỏi lớn đã, đang và sẽ trầm thống vang lên, dõng dạc vang lên cho đến mãi ngàn sau: Sau Ngày Giải phóng, Thống nhất Đất nước, 30 tháng 4, 1975, đến 2010, xã hội Miền Nam phát triển hay trì trệ như thế nào, nhân dân Miền Nam sống ra sao; đâu là hình ảnh xã hội và con người Miền Nam chân thật, thuộc thời đoạn ấy, trong văn chương?

Quả thật đây là một đề tài không mới mẻ, nhưng chưa được khai thông, đào sâu, mở rộng, gồm cả hai mặt của một thực thể hiện thực xã hội Miền Nam: ánh sáng mới và “vết thương” chiến tranh, hậu chiến…

2. Nghĩ về hình tượng trung tâm:

Một trong những nguyên nhân của sự thiếu mặn mà đối với các tác phẩm viết về đề tài này, cho dù các tác giả đã chấp nhận một số hạn chế nhất định (chẳng hạn như phải chọn lựa mảng hiện thực nào, nhân vật loại nào, quá trình phát triển tính cách ra sao, đặc biệt là viết dưới ánh sáng nào…), là bởi người ta còn bị vướng víu, mắc mứu vào một vài điểm như hình tượng nhân vật trung tâm của tác phẩm, hiện thực với hoàn cảnh điển hình được tác giả chọn lựa để phản ánh…

Trên phương diện lí thuyết chính thống trước đây, hình tượng trung tâm luôn luôn được đề nghị phải phản ánh, xây dựng, khắc hoạ là nhân vật điển hình và hoàn cảnh điển hình thuộc về lực lượng nòng cốt của Cách mạng, thuộc về hiện thực kháng chiến và cuộc sống mới trong xã hội mới. Như đã nói, con người mới, cuộc sống mới vốn đã được nhận thức một cách biện chứng, không chỉ con người mới được sinh ra, trưởng thành, đào tạo trong ánh sáng mới, và cuộc sống mới với phương thức sản xuất mới, mà còn bao gồm cả con người cũ và cuộc sống cũ trong tiến trình được cải tạo để trở nên mới.

Trước Đổi mới không lâu, nhất là sau Đổi mới, trên báo chí, đã có những câu hỏi nêu ra: Tìm và xác định hình tượng trung tâm của tác phẩm văn chương, nghệ thuật cũng như học thuật (lí luận, phê bình) trong bối cảnh xã hội từ bấy giờ cho đến nay. Tuy nhiên, hình như văn chương đã tự vận động theo những chiều hướng thoát khỏi phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Dẫu thực tế của dòng chảy văn chương, học thuật là vậy, nhưng hình như ở đâu đó, cả ở mỗi người trong chúng ta, vẫn còn vướng víu, mắc mứu khá nặng bởi ý niệm hình tượng trung tâm được lí thuyết chính thống đề nghị như một ưu tiên.

Cũng giống như trong kinh tế, cho dù chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, nhưng thành phần kinh tế chủ đạo vẫn phải được xác định, do đó, hình tượng trung tâm, giữ vị thế chủ đạo trong văn chương, học thuật phải là con người, cuộc sống đã kinh qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, bước vào công cuộc xây dựng mới, trước và sau Đổi mới. Vì vậy, con người cũ, cuộc sống cũ Miền Nam cho dù vẫn vận động theo tiến trình cách mạng và Đổi mới, vẫn là “thành phần phụ, thứ yếu”. Và ngay trong phân số “con người cũ, cuộc sống cũ” đang vận động theo thời gian, theo tiến trình chung ấy, còn có những số phận thuộc loại “nạn nhân chiến tranh”, “tàn dư” thuộc chế độ cũ (có người đã là phượng hoàng bay lên từ tro than trong kinh tế Đổi mới hay vẫn lầm lũi như loài giun trong bùn đất hiện nay), tất nhiên họ chỉ là những chiếc bóng mờ nhạt.

Tuy nhiên, tác phẩm văn chương với hình tượng trung tâm nào đó, phải chăng là yếu tố chủ yếu để định giá là tác phẩm có giá trị, là tác phẩm lớn hay không; tác phẩm lí luận – phê bình chủ yếu đề cập đến loại tác phẩm văn chương với hình tượng trung tâm như thế nào, phải chăng là căn cứ để đánh giá là có giá trị hay không?

Sau khi nghiền ngẫm đủ loại lí thuyết soi sáng, dẫn đường cho sáng tác hay đúc kết từ sáng tác, sau khi vận dụng đủ loại thi pháp văn chương với các thủ pháp cụ thể từ nhiều tác phẩm đông tây kim cổ, mỗi người cầm bút trong chúng ta đều đã thoát ra, để hồn nhiên suy nghĩ, sáng tạo mới một cách độc lập. Nếu chúng ta đã từng phấn chấn trước những hình tượng anh hùng trong hiện thực kháng chiến xưa nay, thì chắc chắn chúng ta cũng từng rơi nước mắt (nước mắt thanh tẩy và nâng cao tâm hồn chúng ta), trước những hình tượng nhân vật bi kịch, tình huống hiện thực bi kịch, nhưng không sa vào “thú đau thương” (nghiện ngập bi kịch), khiến cuộc sống, con người trong xã hội càng bi kịch thêm… Trên đời và trong văn chương, có biết bao cung bậc, sắc độ của cảm xúc trước vô vàn hình tượng trung tâm được phản ánh.

Phải chăng là như vậy? Xin được nêu vấn đề như thế, trong chiều hướng khơi sâu, mở rộng dòng văn chương viết về nhiều số phận mang nặng các “vết thương” chiến tranh, hậu chiến và tiếp nhận ánh sáng mới của cách mạng, Đổi mới.

Nói như vậy, không có nghĩa là không thừa nhận vai trò quan trọng của dòng văn chương “chủ đạo”. Và cũng cần nói lại, “chủ đạo” hay không “chủ đạo” không phải là mấu chốt, mà vấn đề là chất lượng của tác phẩm.

3. Nghĩ về lí tưởng thẩm mĩ:

Lí tưởng thẩm mĩ cũng là một vướng víu, mắc mứu của nhiều người, đặc biệt là những người nắm giữ chức quyền, trước việc đăng tải, xuất bản sách in giấy, phát hành, giới thiệu, phê bình, quảng bá trên các phương tiện truyền thông đại chúng một tác phẩm nào đó.

Thế nào là lí tưởng thẩm mĩ? “Từ điển bách khoa Việt Nam” hẳn đã có định nghĩa chính xác về vấn đề lí thuyết này: “Lí tưởng thẩm mĩ tồn tại như một sự định hướng của con người trong quan hệ thẩm mĩ nhằm đưa tới cái đẹp mong muốn nhất. Lí tưởng thẩm mĩ bao giờ cũng bị chi phối về mặt xã hội và lịch sử, và ở trong mối tương quan trực tiếp với lí tưởng xã hội, chính trị, đạo đức, vv. Lí tưởng thẩm mĩ được biểu hiện một cách đầy đủ nhất, hữu hiệu nhất trong nghệ thuật. Một mặt, qua trung gian của phương pháp sáng tác, lí tưởng thẩm mĩ quyết định những nguyên tắc về tư tưởng và tình cảm thẩm mĩ của người nghệ sĩ đối với hiện thực. Mặt khác, qua những tác phẩm nghệ thuật, lí tưởng thẩm mĩ góp phần vào việc hình thành những tiêu chuẩn của thị hiếu cho một thời kì lịch sử nào đó” (3).

Nói một cách giản dị, và trong giới hạn về lĩnh vực, lí tưởng thẩm mĩ chính là quan niệm về cái đẹp như mong ước cao nhất của người sáng tác văn chương đối với hiện thực, ở các bình diện vật chất cũng như tinh thần (đạo đức, nhân sinh quan, thế giới quan, bản sắc văn hoá dân tộc…), thể hiện qua hình tượng tác phẩm, đặc biệt là hình tượng nhân vật mà tác giả yêu quý nhất. Cũng có những tác phẩm không có nhân vật “lí tưởng”, nhưng xét trên tổng thể hình tượng tác phẩm (viết về cái hiện có), lí tưởng thẩm mĩ của tác giả vẫn thể hiện ở khuynh hướng của tác phẩm (hướng tới cái nên có).

Lí tưởng thẩm mĩ chính là giá trị chân (thật) thiện (tốt) mĩ (đẹp) ở mức cao nhất của hoài bão người cầm bút, thể hiện, kết tinh trong tác phẩm văn chương.

Điều ngộ nhận ở một số người, khi họ nghĩ rằng hình tượng trung tâm (luôn được lí thuyết chính thống đề nghị là thành phần nòng cốt của cách mạng) một khi đã là chủ đạo của nền văn chương, thì lí tưởng thẩm mĩ do đó không thể là những biểu hiện, kết tinh ở những nhân vật trung tâm không phải là loại chủ đạo trong những tác phẩm viết về đề tài, chẳng hạn như, nhiều số phận mang nặng các “vết thương” chiến tranh, hậu chiến và tiếp nhận ánh sáng mới của cách mạng, Đổi mới… Tất nhiên đó là một ngộ nhận không thể không nói là thô thiển, tai hại. Thực chất, đó là một định kiến có nguồn gốc từ chủ nghĩa thành phần, chủ nghĩa lí lịch máy móc, thiếu tính biện chứng, thậm chí xuất phát từ sự đối lập hẳn những giá trị cách mạng với giá trị truyền thống, mang bản sắc dân tộc và cả giá trị có tính nhân loại. Nói trắng ra, theo những người ấy, đã là người Miền Nam thuộc chế độ cũ, thì không thể là thật, là tốt, là đẹp, cho dù đã tiếp nhận ánh sáng mới của cách mạng. Họ quên đi mẫu số chung Việt Nam bốn ngàn năm ở con người cũ, trưởng thành tại Miền Nam!

Một điểm khác, mặc dù viết về đề tài “vết thương” chiến tranh, hậu chiến ở Miền Nam, nhưng chính ánh sáng của lí tưởng thẩm mĩ đã giúp cho cái nhìn của người cầm bút góp phần tương tác với hình tượng trung tâm (nhân vật và hoàn cảnh), để “trăm sông cùng chảy về một biển lớn”, và chính tác phẩm cũng góp phần hình thành lí tưởng thẩm mĩ cho bao nhiêu người đọc khác, kể cả người đọc bảo thủ nhất với thứ định kiến thành phần chủ nghĩa, lí lịch chủ nghĩa máy móc nhất.

Nhà văn Aleksei N. Tolstoi không hết lòng yêu thương, trân trọng bốn nhân vật vốn là trí thức cũ, thậm chí là sĩ quan bạch vệ, từng bước thừa nhận vai trò của chính quyền xô-viết đó sao? Đó là ở một cực, các nhân vật ấy có thể là tinh hoa của xã hội Nga sa hoàng, sau Cách mạng Tháng mười Nga. Một cực khác, dưới đáy xã hội Sài Gòn cũ: Nhà văn Trần Thanh Giao không hết lòng yêu thương, trân trọng nhân vật Ly Ly, một cô gái thuộc thành phần có tiền sự, phải chịu cải tạo ở một trường học lao động cũng là nông trường đó sao, cho dù cuối cùng thì Ly Ly cũng bỏ trốn để vượt biên rồi bị chết bởi cá sấu (biểu tượng cái ác của quy luật rừng xanh có tính xã hội), nhưng tâm thức cô dẫu sao cũng đã được cảm hoá, khơi sáng?

Lí tưởng thẩm mĩ không chỉ thể hiện ở thái độ yêu thương, trân trọng loại nhân vật này mà còn là châm biếm, thậm chí là căm ghét đối với loại nhân vật khác, kể cả các biểu tượng của quy luật rừng xanh có tính xã hội, như Sấu Bông của nhà văn Trần Thanh Giao.

III.

Văn chương, tiếng nói của hoà giải và đoàn kết

Văn chương, bao gồm cả lí luận – phê bình văn chương, không phải là sử kí ghi chép về lịch sử chính trị, xã hội, kinh tế… Tỉ lệ số lượng tác phẩm văn chương hư cấu bao giờ cũng cao hơn gấp bội so với loại văn chương phi hư cấu. Dẫu vậy, văn chương vẫn mang bóng dáng của sự thật lịch sử, đặc biệt là lịch sử có tính nhân dân, quần chúng, chứ không chỉ là lịch sử về các vua quan cùng các nhân vật lịch sử nổi trội trong nhân dân, không chỉ là lịch sử về các lãnh tụ chính trị, chính khách, những nhân vật chính trị – xã hội nổi tiếng. Nói chung là như thế. Đặc biệt, đối với các tác phẩm thuộc trường phái hiện thực chủ nghĩa nghiêm ngặt, sự thật lịch sử ở bình diện rộng, tức là xã hội, còn được phản ánh, khái quát hoá thông qua việc xây dựng hình tượng tác phẩm, cụ thể, sinh động, bằng phương thức hư cấu (4).

Vì vậy, việc tham khảo, đóng góp vào những thành tựu mới trong nghiên cứu sử học ở giai đoạn cả nước đang tiến hành công cuộc Đổi mới hiện nay, là một yêu cầu tự thân người cầm bút và của cả xã hội Việt Nam chúng ta.

Những vấn nạn tôi đã tự đặt ra và đã viết thành tiểu thuyết, thành khảo luận: Tại sao dân tộc ta phải trải qua cuộc chiến tranh chống xâm lược suốt 117 năm (1858-1975) hay 131 năm (1858-1989)? Tại sao có phong trào Văn thân, Bình Tây sát tả? Tại sao có chiến tranh lạnh giữa hai khối? Tại sao có cải cách ruộng đất? Tại sao có “vết thương” Bến Hải, vĩ tuyến 17? Tại sao có phong trào chống tả đạo Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu? Tại sao có vấn đề Hoàng Sa rồi sau đó là Trường Sa? Tại sao có cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh sau Ngày Thống nhất? Tại sao có Đổi mới? Và dẫu có những sai lầm lớn, rất đỗi nghiêm trọng đi nữa, thì sự thật kháng chiến chống Pháp, chống Nhật, kháng chiến chống Mỹ và chống bành trướng Bắc Kinh – Kh’Mer Đỏ thắng lợi đã là một chuỗi sự thật lịch sử hào hùng, vĩ đại không ai có thể phủ nhận được. Sự thật còn là công cuộc cả dân tộc ta đã và đang chống lại sự xâm lược của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hiện nay…

Ở đoạn trên, tôi cũng đã viết: Câu hỏi lớn đã, đang và sẽ trầm thống vang lên, dõng dạc vang lên cho đến mãi ngàn sau: Sau Ngày Giải phóng, Thống nhất Đất nước, 30 tháng 4, 1975, đến 2010, xã hội Miền Nam phát triển hay trì trệ như thế nào, nhân dân Miền Nam sống ra sao; đâu là hình ảnh xã hội và con người Miền Nam chân thật, thuộc thời đoạn ấy, trong văn chương?

Sự thật lịch sử một khi được nhìn nhận lại cho đúng thực chất, trên cơ sở nghiên cứu thấu đáo, có nhân chứng và có tư liệu được giám định khoa học, có nghĩa là tiếng nói của hoà giải cũng được cất lên. Chính sự thật lịch sử lên tiếng nói hoà giải có sức thuyết phục nhất, chứ không ai khác.

Văn chương không chỉ là bóng dáng lịch sử hay phản ánh lịch sử (hiện thực con người, xã hội trong một giai đoạn nhất định). Văn chương còn là thế giới hình tượng sống động, lịch sử – cụ thể, với tiếng nói trữ tình, phản ánh tư tưởng, tâm trạng, khát vọng, tình cảm ở nhiều cung bậc, sắc thái, vừa bao trùm, vừa vi tế.

Một khi văn chương phản ánh thật trọn vẹn, toàn diện hiện thực, trong đó có nhiều số phận mang nặng các “vết thương” chiến tranh, hậu chiến và tiếp nhận ánh sáng mới của cách mạng, Đổi mới, thì văn chương mới thực hiện đầy đủ chức năng cao quý của nó: chữa lành những “vết thương” chiến tranh, hậu chiến, hoà giải và đoàn kết dân tộc.

Với trí tuệ và tri kiến sáng suốt, với cái tâm và tấm lòng cao đẹp của người cầm bút, văn chương có khả năng kì diệu, có thể nói là mầu nhiệm của nó…

TRẦN XUÂN AN
Khởi viết từ 10:00, ngày 02-02 HB10 (2010)
Viết xong lúc 06:28, ngày 03-02 HB10
Sửa chữa xong, lúc 09:02, cùng ngày

_______________

(1) Mãi đến những ngày gần đây, đầu năm 2010, sau Hội nghị quốc tế Quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài, trên báo điện tử Tuần Việt Nam (tuanvietnam net), mới có bài viết của Hoàng Hường về “Văn học vết thương”. Trong bài báo, có trích lời nhà lí luận – phê bình văn chương Phong Lê và dịch giả người Trung Quốc Chúc Ngưỡng Tu, với ý tán thành và đề nghị mở rộng dòng văn chương “vết thương”. Có thể xem bài viết này trên mạng liên thông toàn cầu (internet).

(2) Trong lĩnh vực văn học dịch, những tác phẩm vốn bị cấm ở Liên Xô cũ trước đây cũng đã được in lại, như tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” của nhà thơ Boris Pasternak (1890-1960), cùng một loạt tác phẩm sau Cải cách ở Trung Quốc viết về Cách mạng Văn hoá…

(3) Trung tâm Từ điển bách khoa Việt Nam, TĐBKVN., t.2, Nxb. TĐBK., 2002, tr. 691.

(4) Ở phần III này, tôi chỉ nói đến sáng tác, lí luận – phê bình văn chương hư cấu, vì để phản ánh hiện thực xã hội – nhân dân – quần chúng và bình luận về sáng tác phẩm loại ấy, chỉ có văn chương hư cấu là có tính khái quát – cụ thể cao nhất, tinh tế và sống động nhất. Truyện – kí không hư cấu về danh nhân xuất chúng, về một số cá nhân điển hình tiên tiến thì chỉ điển hình cho một nhóm người xuất chúng, tiên tiến mà thôi. Tôi cũng muốn nói, viết văn chương hư cấu cũng phải có cơ sở tham khảo, nghiên cứu sử học, chứ không thể tuỳ hứng, tô hồng hay bôi đen một cách chủ quan.

[*] Đây là bài tham luận tôi viết theo thư mời đích danh của Hội Nhà văn TP.HCM.. Tham luận này, tôi cũng đã trực tiếp mang đến nộp tại cơ quan Hội. Tuy vậy, rất tiếc là tham luận không được đọc trong đại hội vừa qua (dự kiến tổ chức vào tháng 5, nhưng đến tháng 6, mới tổ chức, trong hai ngày 22 & 23). Dẫu sao, tham luận cũng đã được tôi viết ra, và tự nó là một tiểu luận thể hiện những nhận thức, suy nghĩ, kiến nghị của tôi. Tối hôm qua, tôi đã gửi tiểu luận này đến các tạp chí điện tử TranNhuongCom, PhongDiepNet, Văn chương Việt, Sông Cửu Long. Vào khuya hôm qua, 22-6 HB10 (2010), nó đã được đăng tải ở tạp chí điện tử tự lập TranNhuongCom. — TXA. —

Cũng có thể xem tại:
tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/tieu-luan-5…

http: // trannhuong. com /news_detail /5211/ VĂN-CHƯƠNG -VỀ-CÁC-“VẾT-THƯƠNG” -CHIẾN-TRANH -HẬU-CHIẾN

______________________________

I. Bài chính:
Văn chương về các “vết thương” chiến tranh, hậu chiến…
II. Hai bài phát sinh:
1) Vấn đề nhân vật: Bản lí lịch 3 đời hay bộ hồ sơ học bạ?
2) Vấn đề nhân vật: Chủ nghĩa lí lịch không khoa học nên không có giá trị văn chương

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , | 6 Comments »

THÚY KIỀU CỦA NGUYỄN DU ĐÃ VÀO HỘI NHÀ VĂN?

Posted by Trần Xuân An trên 21.06.2010

hidden hit counter

THÚY KIỀU CỦA NGUYỄN DU
ĐÃ VÀO HỘI NHÀ VĂN THUỞ XƯA?

Trần Xuân An
(viết theo liên tưởng của một người trẻ tuổi)

Thúy Kiều của Nguyễn Du đã vào Hội Nhà văn (Hội Nhà văn chương) lúc mấy tuổi? Thể thức kết nạp như thế nào?

Trong một bài viết mới đây của tôi, tôi có dùng thành ngữ “cùng hội cùng thuyền” với một văn cảnh nhất định, không hàm ý nói đến tình cảnh bi đát, khổ nhục của những người tài hoa trong xã hội xa xưa nào đó, nhưng có lẽ, mặc dù không trực tiếp, mà lại chi phối nhiều hơn, ấy là không khí báo chí, điểm mạng toàn cầu các loại bàn đến chuyện hội nghề nghiệp văn chương khá nhiều, nên chàng trai trẻ thân thương của gia đình tôi chợt liên tưởng đến “hội đoạn trường” trong Truyện Kiều:

“Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.
Vâng trình hội chủ (*) xem tường,
Mà sao trong sổ đoạn trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cùng người một hội, một thuyền đâu xa!
Này mười bài mới mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời”.
Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
Xem thơ nức nở khen thầm:
“Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường
Ví đem vào tập đoạn trường
Thì treo giải nhất chi nhường cho ai”.

(câu 195- 210)

Chàng trai trẻ thân thương ấy lại có thêm lời chúc, đại để: Chúc các hội nhà văn chương không phải là HỘI ĐOẠN TRƯỜNG mà là hội nghề nghiệp chính danh của những người cầm bút đồng thời là những công dân tự do, tự chủ và độc lập.

Tôi ngẫm nghĩ, cũng nên viết lại thành một bài phiếm đàm cho vui. Và trước hết, nghĩ ra mấy câu giáo đầu, như một cách “rao bài”, phỏng theo cách của mấy bà rao quà vặt dọc phố: Thúy Kiều của Nguyễn Du đã vào Hội Nhà văn (Hội Nhà văn chương) lúc mấy tuổi? Thể thức kết nạp như thế nào? Lời chúc của chàng trai trẻ thân thương chép trích đoạn Truyện Kiều ấy có chí lí không?

Chưa kịp viết thành bài, có bạn gọi điện thoại thăm hỏi. Nhân thể, tôi đọc trích đoạn Kiều cho bạn nghe. Bạn cho rằng rất vui, thâm thúy, và lời chúc phản đề cũng rất chí lí. Hình như chàng trai trẻ thân thương cũng có nghe cuộc điện thoại ấy, nên hứng chí phân tích cụ thể nhiều điểm. Tôi sắp xếp lại cho mạch lạc, dựa theo mấy câu “nêu” rao bài trên kia:

1) Thúy Kiều của Nguyễn Du vào Hội Nhà văn (Hội Nhà văn chương) vào độ tuổi “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” (khoảng từ 13 đến 16 tuổi).

Nói theo cách quan niệm ngày nay, Thúy Kiều đúng là thần đồng (tài năng vị thành niên)!

2) Thể thức kết nạp: Thúy Kiều cùng “hồn ma” hội viên Đạm Tiên cảm mến nhau; Đạm Tiên đem tác phẩm của Kiều trình lên hội chủ (chủ tịch hội). Hóa ra, trong danh sách hội viên dự tính kết nạp, vốn được những ai đó (theo tư tưởng xưa, là tiền định) kín đáo đề cử, đã có tên Vương Thúy Kiều! Ngay sau đó, hội chủ liền cử Đạm Tiên đem mười bài thơ đoạn trường mới của các hội viên trong hội cho Thúy Kiều họa, như một cách thử tài, kiểm định năng lực viết lách, sáng tác theo đề tài, thể và vần cố định, trước khi chính thức kết nạp. Và Thúy Kiều đã vượt yêu cầu. Theo nhân định của Đạm Tiên, 10 bài họa thơ của Kiều xứng đáng được trao giải nhất, vượt lên tất thảy các tác giả hội viên trong tập thơ đoạn trường (đoạn trường thi tập).

Thể thức kết nạp rất hay! Phải nói ngay như thế. Nay có thể vận dụng sáng tạo, vì đâu còn mấy ai họa thơ, một trong những cách sinh hoạt văn chương cổ truyền, như thuở xưa nữa.

3) Lời chúc phản đề của chàng trai trẻ thân thương tất nhiên là chí lí, vì chúng ta đang sống trong thời đại độc lập, tự do, dân chủ (hi vọng dân chủ nhiều hơn) và bản thân mỗi nhà văn chương đều tự chủ (hi vọng tự chủ nhiều hơn), không một người cầm bút nào lại “đánh đĩ văn chương” (“làm đĩ ngòi bút”) của mình (hi vọng dân quyền, nhân quyền nhiều hơn).

Thúy Kiều sau 15 năm “làm đĩ văn chương – nghệ thuật”, đã được Đạm Tiên trao quyết định khai trừ, đòi lại “Đoạn trường thi tập”, một tuyển tập của toàn thể hội viên: “Đoạn trường sổ rút tên ra / Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau” (câu 2721-2722). Và chính Thúy Kiều cũng oán thơ và âm nhạc của chính mình: “Nàng rằng: ‘Vì mấy đường tơ / Lầm người cho đến bây giờ mới thôi’” (c. 2193-2194); “Nàng rằng: ‘Vì chút nghề chơi / Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu / Một phen tri kỉ cùng nhau/ Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa’” (c. 3211-3214). Sự thể ấy có căn nguyên từ bản chất văn chương, nghệ thuật và quan niệm văn chương, nghệ thuật cũ; mặt khác, trong những chế độ chính trị – xã hội thiếu nhân quyền, dân chủ, thi sĩ, nhạc sĩ chỉ là con đĩ, con hát cho những kẻ “mua dâm lắm tiền”. Nhiều người đã bàn nát nước ra rồi. Ở đây, khỏi bàn lại.

Thật là vui! Mặc dù chàng trai trẻ thân thương cho rằng, “tếu táo cho dzui”, nhưng theo tôi, thế là vui lắm… Tôi cứ cười mãi, có khi bật ra thành tiếng, vì thú vị thật… — thú vị do sự phát hiện mới mẻ.

Cái vui, cái cười này, cái thú vị này xem ra cũng quá tàn nhẫn với người tài hoa bạc mệnh trong xã hội ngày xưa, cái ngày xưa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (một thiên tài thi ca vốn xuất thân từ quý tộc Đàng Ngoài suy vong, ra làm quan cho tân triều Nguyễn, tuy lên đến bậc á khanh vẫn mang nặng tâm trạng hoài Lê luyến Trịnh)!

Dẫu sao, nay cũng đã khác xưa rồi! Các hội nhà văn chương địa phương và hội nhà văn chương toàn quốc nước ta trong mấy chục năm qua cho đến hiện nay hoàn toàn không phải như thế. Và dẫu sao, tôi thấy cũng nên nhắc lại lời chúc đã chép lại trên kia: Chúc các hội nhà văn chương không phải là HỘI ĐOẠN TRƯỜNG mà là hội nghề nghiệp chính danh của những người cầm bút đồng thời là những công dân tự do, tự chủ và độc lập.

TXA.
19-6 HB10 (2010) lúc 3:24 chiều
20-6 HB10 (2010) lúc 5:11 chiều

__________________________

(*) Hội chủ của hội đoạn trường. Cụm từ “hội đoạn trường” vốn có trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
Lần lần thỏ bạc ác vàng,
Xót người trong hội đoạn trường đòi cơn
(câu 1269-1270).
Mặc dù đoạn tiếp theo còn có sự đay nghiến của Định Mệnh (chứ không phải của hội chủ!), đồng thời khẳng định tác nhân bên ngoài (chứ không phải khuynh hướng bất hạnh tự thân), theo quan niệm cổ xưa “tài mệnh tương đố”, “hồng nhan đa truân”:
Đã cho lấy chữ hồng nhan
Làm cho cho hại cho tàn cho cân
Đã đày vào kiếp phong trần
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi
(câu 1271-1274).
Điều đó thể hiện ở các chữ “đã cho”, “làm cho cho …”, “sao cho”…

Nguồn: lời bàn luận 5 & 6 của trang “Từ ngữ”:
https://txawriter.wordpress.com/tu-ngu/#comment-578

Đã gửi đăng trên tạp chí điện tử tự lập TranNhuongCom:
trannhuong.com/news_detail/5195/…

http: //trannhuong. com /news_detail/ 5195/THÚY-KIỀU -CỦA-NGUYỄN-DU- ĐÃ-VÀO- HỘI-NHÀ-VĂN- THUỞ-XƯA?

TXA.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , | 3 Comments »

PHÊ PHÁN SỰ VIN VÀO VÀ DIỄN DỊCH SAI LỆCH CÔNG HÀM 14-9-1958

Posted by Trần Xuân An trên 13.06.2010

hidden hit counter

BỔ CỨU THÊM MỘT LUẬN CỨ, LUẬN CHỨNG
NHẰM PHÊ PHÁN SỰ VIN VÀO VÀ DIỄN DỊCH SAI LỆCH CÔNG HÀM 14-9-1958

Trần Xuân An

Về tư liệu lịch sử từ xưa đến nay, khá nhiều sách báo trong và ngoài nước đã in ấn, xuất bản dưới nhiều hình thức. Báo chí thường nhắc đến công trình của TS. Nguyễn Nhã, Nnc. Nguyễn Q. Thắng và các bài viết, trả lời phỏng vấn của hai vị cựu cán bộ ngoại giao cao cấp Dương Danh Dy, Lưu Văn Lợi… Trong các bài báo, đặc biệt là khảo luận, của nhiều tác giả trên mạng toàn cầu (internet), hai bài “Hoàng Sa”, “Quần đảo Trường Sa” trên Từ điển mở Wikipedia và bài “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc” của TS. Từ Đặng Minh Thu là dễ tìm kiếm nhất và có tính tổng hợp, khái quát.

Thiết nghĩ, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là đương nhiên về mặt cơ sở lịch sử cũng như pháp lí – công pháp quốc tế. Riêng chủ quyền trên quần đảo Trường Sa, tuy còn có một số yếu tố dễ gây tranh chấp, nhưng Đài Loan và Trung Quốc vẫn không thể tranh cãi, mặc dù Trung Quốc và Đài Loan hiện còn ngang nhiên chiếm đóng.

Có một văn bản nhiều người đã bàn luận và khẳng định là không có giá trị pháp lí và thực thi đối với hai quần đảo vốn ở phía nam Vĩ tuyến 17 (theo Hiệp định Genève 1954), đó là công hàm do thủ tướng Phạm Văn Đồng kí ngày 14-9-1958.

Về điểm này, tôi xin bổ cứu thêm một luận cứ: Hiệp định Genève 1954 không những xác định tính chính danh, chính nghĩa của Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu mà còn xác định tính chính danh của Quốc gia Việt Nam do hoàng đế Bảo Đại (hoàng đế chính thống thuộc vương triều Nguyễn) đứng đầu. Tính chính danh của Bảo Đại còn có cả mấy trăm năm lịch sử xác nhận. Nói như thế để nhằm khẳng định công hàm do thủ tướng Phạm Văn Đồng kí ngày 14-9-1958 là không có giá trị pháp lí và thực thi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vốn ở phía nam Vĩ tuyến 17. Mặt khác, như nhiều tác giả đã viết, ngôn từ trong công hàm ấy không bao hàm lãnh thổ, lãnh hải dưới quyền quản lí của Việt Nam dân chủ cộng hòa, vốn ở phía bắc Vĩ tuyến 17.

Việc “cướp ngôi” của Ngô Đình Diệm không khiến Hiệp định Genève 1954 mất giá trị pháp lí – công pháp quốc tế, mặc dù bản thân Ngô Đình Diệm vừa thiếu chính nghĩa (đại diện một thế lực tôn giáo có quá trình câu kết với thực dân Pháp…) lại vừa thiếu tính chính danh (trưng cầu dân ý chỉ là trò “ma giáo”).

Tôi bổ cứu thêm luận cứ và lập luận trên chỉ nhằm bác bỏ việc Trung Quốc vin vào công hàm do thủ tướng Phạm Văn Đồng kí ngày 14-9-1958 nói trên để diễn dịch với mục đích biện minh cho sự xâm lược của Trung Quốc ở Hoàng Sa, Trường Sa.

Công cuộc đấu tranh, giành lại quần đảo Hoàng Sa và một số hòn đảo ở Trường Sa từ Trung Quốc và Đài Loan của chính quyền, nhân dân Nước CHXHCN. Việt Nam hiện nay cũng như của kiều bào trên khắp thế giới là hoàn toàn chính danh và chính nghĩa, không một lí lẽ nào có thể bắt bẻ, phản chứng.

Viết vào chiều ngày 12 & lúc 6:30 ngày 13-6 HB10 (2010),
tại TP.HCM.,
Có chữa lại vài chữ để thoát khỏi bối cảnh trang mạng TXA.
khi gửi TranNhuongCom, 8:15, 13-6 HB10

TXA.

Cũng có thể xem theo dòng link-hóa này — Bấm vào đây

Đã đăng trên Tcđttl. TranNhuongCom, sáng ngày 13-6 HB10

Bị chú quan trọng (15-6 HB10 [2010]):

Về mặt văn bản pháp lí (Hiệp định Genève 1954), hoàng đế [quốc trưởng] Bảo Đại (đại diện chính thống của vương triều Nguyễn) vẫn chính danh, vì Quốc gia Việt Nam vốn là một nước trong Liên hiệp Pháp. Nếu sau khi Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm truất phế bằng trò ma giáo trưng cầu dân ý và bản thân Ngô Đình Diệm vừa không chính nghĩa lại vừa không chính danh, (nghĩa là trong thực tế Bảo Đại không còn được cầm quyền), thì không phải vì thế mà Bảo Đại mất tính chính danh. Điều này tôi đã viết ở bên trên.

Tôi viết thêm ở bị chú này: Giả định rằng, ai đó cho rằng, sau khi Bảo Đại bị truất phế, lưu vong, bản thân Bảo Đại đã đành chấp nhận từ bỏ ngai vàng quân chủ, có nghĩa là vương triều Nguyễn cũng mất luôn chủ quyền đối với Miền Nam Việt Nam, kể cả Hoàng Sa, Trường Sa, thì ta vẫn có thể trả lời, khẳng định rằng: Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vẫn thuộc về chủ quyền của nhân dân Miền Nam Việt Nam, của đại gia đình các dân tộc Việt Nam; đồng thời cũng khẳng định rằng, không phải vì Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm truất phế mà công hàm 14-9-1958 (kể các văn bản tương tự khác, nếu có) do chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền Bắc Việt Nam) ban hành lại có giá trị pháp lí và hiệu lực thực thi.

Dẫu sao, hơn ba mươi lăm năm qua, Chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, rồi chính quyền và nhân dân Nước CHXHCN. Việt Nam cũng đã và đang đấu tranh, giành lại chủ quyền đối với Hoàng Sa, đồng thời đã và đang xác lập chủ quyền, đấu tranh giành lại những hòn đảo bị Trung Quốc, Đài Loan chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa.

TXA.
lúc 14:08, ngày 15-6 HB10 (2010)

Posted in Không phân loại | Tagged: , | 5 Comments »