Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Archive for Tháng Mười Một, 2012

TỰ NHÌN LẠI THƠ CỦA CHÍNH MÌNH

Posted by Trần Xuân An trên 08.11.2012

hidden hit counter

Trần Xuân An
TỰ NHÌN LẠI THƠ CỦA CHÍNH MÌNH
(tự chọn trong 11 tập thơ đã chính thức xuất bản – sách in giấy)

Bài 1
TÓC BAY SƯƠNG TRẮNG

kính tặng Mẹ

bây giờ ngoài mình mưa chưa
con nghe lành lạnh ngày thưa chân người

nhìn sông nước lã trôi xuôi
con như lạc giữa dòng đời đã lâu

bỗng dưng không biết từ đâu
bay ngang trời đất một màu tóc sương

con úp mặt nhớ quê hương
thương sao quán mẹ bên đường mưa bay.

1973

Bài 2
TIẾNG CHUÔNG XƯA

sáng nay em đi chùa
lòng tôi buồn hơn xưa
một thời con dế nhỏ
ngậm sương mùa tương tư
một thời con kiến nhỏ
khóc vùi trên đường mưa

sáng nay em đi chùa
tóc em cài hoa xưa
thắp lên mùi hương khói
trên bình nhang linh hư

môi em thuyền bát nhã
xa tôi bờ đời mưa
ngắn dài câu gian dối
ướt sũng lời lọc lừa

sáng nay em đi chùa
em mặc áo người xưa
dìm tôi dòng mộng cũ
ngậm nhánh rong mơ hồ

sáng nay em đi chùa
lá ngủ còn hương xưa
tôi làm con chim nhớ
hót mừng ai giao mùa?

tôi là chim đổi xứ
tìm hoài mùa ngây thơ
tôi mang thân cổ thụ
níu mãi mây ngu ngơ
một đời còn thương nhớ
khi nghe tiếng chuông xưa.

1973

Bài 3
RUỘNG ĐẤT YÊU DẤU

sao lên chấm hết chiều công tác
về nhà, chống cửa, chè tươi thơm
hớp ngụm nước ấm môi ngọt sắc
chưa bao giờ lòng thanh thản hơn

xuống bếp mẹ già châm điếu thuốc
nụ cười trầu đỏ khoé môi nhăn
ánh lửa hắt lên đầu tóc bạc
khác chi cụm khói ráng chiều tàn

mấy liếp tranh xơ buộc lạt mới
đất nền đắp lại chửa lì chai
về quê vừa được dăm ba bữa
thở gió nồm thân mẹ trẻ hoài

gốc mít sần sùi bom chém cụt
tưởng chết oán hờn trong nắng mưa
chia nhau ba hướng ba nhành lá
dõi mắt xưa chờ bóng chủ xưa

quanh mương đất mới vùi lên cỏ
góc kia lửa ngún khói nồng thơm
con chim tu hú tròn mắt sững
dợm cánh lao mình kinh khiếp bom

nắng tưới đầm đìa gốc rạ mủn
chìm sâu khuất lấp cải dền xanh
ai cuốc, lòng níu chân chiều lại
nóng ruột tìm thăm hương đất lành

bom thức ruộng tròn nghìn mắt trợn
ngước ngó trời cao hận đóng vàng
thôi nhé, từ nay ngoan hiền khép
hỡi mắt quắc trừng khoé rách toang

cơ chi trời đất đừng đêm nữa
góp lúa mười năm chín một mùa
chao ơi, ao ước trong mùa tới
lúa chín từ lòng lúa chín ra

chừng đó, mít trĩu lừng hương ngát
vườn sau ớt đỏ, tím cà tươi
giàn hoa bầu bí vàng ong bướm…
bắc chõng nằm khuya hóng gió trời

chao ơi, chừng đó nghe trâu nghé
tiếng nhai cỏ ợ nhoà trong sương
đêm đêm nghe lại tiếng quẫy cá
mải vui, thao thức dưới bờ mương…

cơ chi chừng đó còn Bác sống
rước Bác về làng trải lúa xanh
cờ, hoa, kết ngọt cơm gạo đỏ
độn với bắp vàng, nhớ chiến tranh

thấp thoáng bóng người đầu ngõ trước
tiếng cười gió đẩy vào trong sân
nhà lên đèn tỏ êm câu hát
quẳng xa tàn thuốc, lòng bâng khuâng!

ở đây càng thấy ngây tình đất
nơi đâu đất cũng đất thật thà
cũng như rừng rú mùa chống giặc
rất chở che và rất thiết tha.

11.1975

Bài 4
BÀI THÁNG GIÊNG

má đi chào ai năm mới
áo bay bay gió tháng giêng
tinh sương con gà đã đợi
gáy ran ngoài ngõ láng giềng

bầy chim đứng hót không yên
chuyền cành chíp chiu luyến láy
bươm bướm nhấp nhô nhấp nháy
như là đôi mắt thiên nhiên

nắng reo mướt tóc thanh niên
em thơ xênh xang áo mới
nụ cười bên đọt dứa hiền
tiếng pháo hồng treo khắp lối

mời nhau dăm múi sầu riêng
thấy vườn Mỹ Tho bùi ngọt
nối lửa đôi ba điếu thuốc
nghe xao xuyến trời Điện Biên

lời chúc câu chào huyên thuyên
rượu nồng bay trong mái lá
niềm vui tràn ra ngoài hiên
từng mảng nắng vàng rất lạ

thăm nhau thăm nhau tháng giêng
áo khăn nhạt rồi bóng tối
má ơi, nắng ngoài Hà Nội
bay vào thơm lúa Thừa Thiên

thoảng hương đất, nhớ tổ tiên
đã cho cái nương cái rẫy
thương, thương đàn con biết mấy
giữ gìn mùa xuân y nguyên

cây xanh tình Bác, thiêng liêng
lộc non nao nao lòng dạ
mơ ước về trong tay má
xin đời ngát mãi tháng giêng.

1976

Bài 5
TẠ ƠN MẢNH ĐẤT QUÊ NHÀ

1.
quê nhà chiều gió bình yên
con về đây hỡi cõi miền yêu thương
rưng rưng nắng lọc hàng dương
con đường quê hỡi con đường vàng mơ
chim chuyền cành hót ngây ngô
con bươm bướm cũ bây giờ còn bay
con về đây con về đây
nghẹn lòng con giữa đất này quê hương

2.
ngọn đèn đêm vặn sáng hơn
bàn tay mẹ vẫn run run tủi mừng
hai hàng nước mắt rưng rưng
nụ cười mộc mạc thoáng bừng nắng phai
xóm giềng cũng đến sum vầy
tay con mềm lại trong tay bạn bè

3.
con nằm trong ánh trăng khuya
chợt thương sao tiếng tắc kè rừng xa
thác đồi mù sương mù sa
bàn chân tứa máu vượt qua vẫn cười
phố đông đường trổ gai đời
chân lao đao, bước chơi vơi, hãi hùng
mấy ai nhắc chuyện đục trong
đắng cay nay bởi chút lòng, mẹ ơi…

1982

Bài 6
HUẾ VÀ NGÀY SINH

kính tặng Mẹ và TP. Huế

một hừng đông xám
dâng lên phía bên ngoài cửa thành

tháng mười một và cơn mưa dầm
miên man mỏi mệt
gió lùa thốc qua mặt đường lặng câm
cánh lá
lao đao
cắm vào bùn lầy hẻm vắng

tất cả nhoà sau cơn mưa phùn

người phu xe đứng ngã tư đường
không buồn ngước mắt
chân như gốc cây ướt rêu cắm chặt
vào mùa đông
thôi thì mặc gió mưa bão bùng
cây muôn đời muốn lặng

tháng mười một và cơn mưa dầm
mưa miên man mỏi mệt
mầm sống cựa mình và cơn đau thắt
người mẹ hoài thai trong nỗi đau thầm
nửa đời chưa nguôi nước mắt
lại sợ giật mình nghe tiếng khóc sơ sinh
ngày con làm người Đất nước chưa yên…

một hừng đông xám
dâng lên phía bên ngoài cửa thành

mầm sống cựa mình
bật khóc
chiếc lá nhỏ nhoi úa lạnh…

tiếng mưa xa xăm
rơi vào bóng tối
tiếng mưa thâm trầm
rơi buồn mái ngói
tiếng mưa bổi hổi
ướt đầm trong khăn

mẹ ru êm giấc ngủ con nồng
vành nôi ấm bàn tay của mẹ
ấm mảnh chăn ủ quanh thân bé…
và nhịp nôi đưa
                   từ hôm nay nghiêng về quá khứ
nhịp nôi đưa
từ xa xưa oà về gần gũi quá
nhịp nôi đưa
từ trái tim đập khẽ
bồi hồi
như thực như mơ

ba mươi năm trôi qua không ngờ
giông gió nào đã thổi qua đời người mẹ trẻ
cất giọng hát ru trong khuya sâu thẳm
dư âm gió giông trong hơi ngân và tiếng thở dài
nắng vàng mật ong vầng trăng con gái
sao vội tan nhoà trong mưa đêm nay

người mẹ ấy hiểu tháng năm cuộc đời
                   bằng kỉ niệm
bằng tiếng ru buồn không nguôi
nối cùng câu hát xa xưa, sờ vào còn ấm lửa
người mẹ ấy lớn lên giữa đời

ngờ đâu giọng ru hời
không buông bâng quơ trong khuya

ngờ đâu
không phải vô tâm, tiếng mưa rơi, bát ngát
quanh giấc ngủ trẻ thơ theo nhịp đưa nôi

chiếc nhau bám vào lòng mẹ
khi con nở sinh hình hài
chiếc nhau tan vào mặt đất
cho con đi đứng giữa đời
câu hát là dòng sữa ấm
chảy từ ngàn năm xa xôi

chú bé lớn dần trong tiếng mưa rơi
âm vang trong thành phố cổ
âm vang trong lòng mẹ
tiếng à ơi
bao quanh vành nôi

ơi hạt mưa rơi
giọt nước mắt
hãy thấm vào mặt đất
và qua đất
dưới nắng ấm sớm mai
thành giọt sương như mảnh trời vỡ nát
long lanh soi

hạt sương và ai
ra đời trên tay mẹ
rất diệu kì như đất

ơi cơn mưa
mưa đến mỏi mòn sớm mai tháng mười một
ơi cơn mưa
mưa tản mạn mênh manh bát ngát
nơi có trái tim bé nhỏ tinh khôi
mưa bật khóc…

bây giờ tóc mẹ đã bạc rồi
sao mẹ nhắc mãi tháng năm chia lìa tan tác ấy
hay khi mẹ nhìn vào vầng trán con
ở đó, còn nguyên những gì không phai nhạt nổi
trong đời người suốt cả đời người
hay khi con nói con cười
có nét nào của tiếng mưa xa xăm vọng lại
xui mẹ nhớ hoài…
và con đọc trong mắt mẹ, mẹ ơi
cả niềm u uẩn đằng sau lời kể ngậm ngùi mộc mạc
như lời ru tự bao giờ qua mẹ hát
chưa được sinh ra con đã thuộc rồi…

1984

Bài 7
TỰ TRẤN AN
TRONG ĐÊM VỀ PHÉP

xa nhà mấy năm trời
ngẩn ngơ con đường nhỏ
cây em trồng ngày đó
xanh tốt đến không ngờ

ôi tóc mẹ bạc phơ
vẫn nắng chiều óng ánh
sờ tóc mình đen nhánh
có sợi cằn đang rơi!

ngẩng mặt nhìn đất trời
xấu hổ cùng cây cỏ
trước tuổi già đời mẹ
con vẫn chưa nên người!

một thoáng gió thở dài
giữa rừng khuya mưa lũ
để bây giờ, mẹ ơi
xoáy lòng con, bão tố

đêm, bên bàn học cũ
giọt lệ ngời Gương Soi
từ mắt con nóng hổi
hạt bụi nào tan, trôi…

tóc mẹ trắng chân trời
sáng cho con tầm mắt
con đường quê êm mát
cũng chỉ đường về thôi!

con hiểu rồi, mẹ ơi
tháng, năm như ghềnh, thác!
lòng vẫn trong mạch nước
từ nguồn đến biển khơi?

1981

Bài 8
ĐỌC LẠI ĐẠO ĐỨC KINH,
THẤM BUỒN

đến trần ai làn sương không tuổi
rất già nua và quá trẻ thơ
tên ông huyền ẩn như nguồn Đạo
tạc Hư Vô dáng Mẹ bao giờ

tôi muốn khóc theo từng âm cổ
buốt khói mây ấm giọt lệ người
bên sông máu núi xương đụn sách
phác lời kinh thật đến chơi vơi

ông nhập thế lại bằng xuất thế
ước nơi nơi dòng Đạo khoả đều
lặng lẽ, cỡi trâu chiều huyền thoại
gượng lập ngôn với mộng tiêu diêu

giữ thanh đạm một niềm hiền triết
khinh kỉ cương trí tuệ, giễu mình
gương sáng láng cơ hồ mông muội
tất yếu tự nhiên, vút tâm linh!

đời mãi chảy thực hư, hư thực
thực trong hư, va đập, nở sinh
ông thấu suốt ngồi im dõi ngắm
chí vô vi ngỡ rất vô tình

ôi Huyền Đồng Huyền Đồng là Đạo
hỡi câu kinh trầm tĩnh không ngờ…
dẫu hư không vẫn không vô dụng
khoảng trống nào giữa những dòng thơ

ơi “bản tánh nguyên sơ” thơm ngát
tôi thấy tôi đầu nẻo vô thường
ơi đứa bé hai tay nắm chặt
đang nằm nghe lòng Mẹ yêu thương

cũng suýt ngỡ mình thành bướm trắng…
đậu sừng trâu chiêm ngưỡng trích tiên
nhưng sợ hãi lách lau hiu hắt…
nửa hồn này cứ chớm an nhiên

niệm về ông khúc ca Tịnh Khẩu
ôi phố phường vui biết bao nhiêu!
khi lếch thếch, ờ, khi ngất ngưỡng
tập cười xoà cho bớt đăm chiêu.

1993

Bài 9
TIN QUÊ

lá cuối thu xanh ngắt
đông phương nam óng vàng
quặn chút lòng chưa lạc
tổ tiên nơi ruột gan…

mưa lũ đã khoả tràn
sóng duềnh con nước bạc
miền gió lửa, hạn, cát
bão dìm trong tan hoang!

quê nhà ơi quê nhà
dù vòng tay bền chắc
cái lo nhìn rất xa
qua trùng trùng buốt rát…

dù đất đai quê nhà
mùa lại thơm thiết tha
sương bâng khuâng tím ngát
rưng rưng hồng phù sa…

sách tuổi thơ nhoè nát
giạt trong em, bàng hoàng
chơi vơi… Mẹ thương làng
chiều trắng dâng nhoè mắt.

1992

Bài 10
MÃI TÌM MỘT NỬA TRÁI TIM

một phiến ban mai biếc
rơi khẽ vào lòng anh
đã phế tàn củi mục
bất ngờ rưng rưng xanh

lại chồi non hoa ngát
may đời chưa tro than
chút tình bên cửa sổ
bướm bay hay nhành lan?

cánh tím lay niềm nhớ
bay hoài không tới nơi
chỉ cách tầm tay với?
sao đậu trên tóc người?

em – búp bê tuổi nhỏ?
thương tự thuở nằm nôi
ba mươi bảy năm đắng
cục đường xưa đâu rồi?

ca dao hoài ngọt lịm
em mãi hoài thơm môi
đau thân anh tiếng mọt
ngỡ nát bụi khắp trời

em – đoá hồng tấm bé?
anh – thỏ nâu ngây ngô?
sững nhìn bao dáng nét
ngỡ quen từ nguyên sơ

đến khi em trắng tóc
và anh cũng bạc phơ
gặp nhau còn ngơ ngẩn?
ngỡ quen muôn kiếp xưa

anh – thằng khờ mất bóng
tìm gương mặt tình yêu
tận hồng hoang kí ức
trên câu kinh trang Kiều?

anh tìm em biển bắc
anh tìm em rừng tây
gã đa đoan tuyệt vọng
hết nửa đời trắng tay?

anh – kẻ đùa thượng đế
bão xé ngàn ngàn năm
tìm nửa kia thất lạc
ôm nhau để hoá trầm

anh về khung nắng cũ
em học bài, hương mơ
thoảng lên trang vở trắng
mực tím hoài chuỗi thơ?

lan dáng rồng ẩn hiện
trong vô thức bồng bềnh
bướm tiên ngời gỗ mục…
em – hồn anh thênh thênh.

1994

Bài 11
ĐA NHIM, NHỚ LẠI MỘT TỨ THƠ
MƯỜI LĂM NĂM TRƯỚC

tưởng niệm nỗi đau lịch sử:
nạn đói Ất dậu 1945.

ngồi trước trang sách mở
bóng điện tròn sáng soi
nghe trĩu đau vầng trán
nghẹn đặc giọt mồ hôi

giọt mồ hôi cúi mặt trồng đay
                   bỏng kiếp tôi đòi
trên đồng lúa ngậm đòng
                   phải cắn răng nhổ bỏ!

chữ học trò giấy vở
bóng đèn chao nét ngời
ngước lên nhìn: giọt lệ
tự thuở nào, sắp rơi

giọt lệ rơi từ hốc mắt hờn căm ngút trời
hai triệu rưỡi người quắt queo chết đói!

sổ tay thơ buốt nhói
máu ứa ra chảy ròng
như mồ hôi nước mắt
bóng điện rực rỡ hồng

giọt máu hồng nhoà ngực lạnh mưa đông
vẫn nắm chặt tầm vông lao vào đồn giặc!

đâu chỉ là nước mắt
chuyện tình xưa, đa nhim (1)!
bóng điện treo từng giọt
lương tâm không im lìm

thắp màu nắng nghìn xưa
                   bao dung nhân hậu ấm buồng tim
để Hi-rô-shi-ma, Na-ga-sa-ki (2)
                   cũng đêm đêm rưng rưng
                   giọt nắng!

1980-1981 & 1995

(1) Đa Nhim, địa danh ở tỉnh Lâm Đồng, tiếng nhân tộc K’Hor, có nghĩa là nước mắt. Đó là nơi có hồ nước thuỷ điện.
(2) Hiroshima, Nagasaki, hai thành phố của Nhật Bản bị đánh bom nguyên tử, kết liễu cuồng vọng Đại Đông Á thuộc Nhật của phát-xít Nhật.

Bài 12
TỨ BÌNH ĐỜI NGƯỜI

1. tinh mơ

tím loãng
tà sương
nắng thoảng
tới trường.

2. bìa sổ

lam ngọc
đoá hồng
bàn đọc
hừng đông.

3. trà khuya

cúc rã
vào trăng
giấy tả
tơ giăng.

4. tuổi chiều

tóc bạc
mắt mây
dáng hạc
nẻo gầy.

1994

Bài 13
GẦN XA LÃNG ĐÃNG

rong chơi với mùi hương
trăng trăng và sương sương
em đó không không đó
xui chi anh lạc đường

đêm trôi làn tóc mượt
thoáng hương lâng đằng trước
thoắt lãng đãng phía sau
em gần mà ở đâu

mùi hương ơi hương, hương
một đời anh đuổi bắt
chợt là em rất thật…
vô thường và vô phương!

1995

Bài 14
NỤ CƯỜI ƯỚT MƯA SAU DỐC ‘MẠ ƠI!’

cổ thụ chết đứng lau tre quắt
rừng già còn ngấm chất da cam
tứ thơ sao để trơ và trụi
mưa xối hồn ào ạt thét gầm

lá rụng ngàn năm đất tơi xốp
mưa nhào dẻo quánh dọc triền sông
sên vắt nhảy búng xuyên vào ngực
tim hoài rỉ máu, thác ghềnh hồng

thác ghềnh ghềnh thác chảy xé đá
bom xô trái núi suối lệch nghiêng
mấy mùa mưa dội lên trang sách
thì đọc nỗi đời trong mắt hiền

mưa xanh rừng lửa, mưa làng mới
sũng mũ-tập-kết, nón bài thơ
già nua bủng và con gái bẫm
bầm cuồng sĩ ngố, beo giáo khờ

mưa chiến khu thời-chưa-hậu-chiến
trạm xá lán tranh sắp lớp nằm
mưa kháng chiến chống rách và đói
cấm vận, giặc phương bắc, tây nam!

mưa bom mưa truyền đơn, thuốc độc
tuổi nhỏ nhìn bay đặc góc trời
và mưa. Mười lăm năm ngẫm lại
ơn Nụ Cười sau dốc nghẹn ‘Mạ ơi!’.

1995

Bài 15
TAM KỲ,
ĐƯỜNG ĐÊ VÀNG HOA SƯA *

thoảng trong lại quãng thơ xưa
dòng sông hai lăm năm trước
hương sưa, tuổi nào mắt ngước
trải đầy vàng bước, như mưa
ngàn hoa thuở đó, gió lùa
về đâu

cành sưa cắm rễ bắc cầu
chân đi chơi vơi bóng nắng
níu chút niềm riêng hụt hẫng!
tóc bạn chưa ngả úa màu
xanh bên mây trắng trôi mau
sông nhoà

cuối hạ đã tắt mùa hoa
cồn cát cỏ tràn năm tháng
chấp chới đường đê, lấp loáng
lá sưa thắp nhớ chói loà
tiếng ve vẳng nuối, vỡ oà
lặng trưa …

07.1996

* Sưa: một loài cây có hoa màu vàng, ở Quảng Nam, được gọi là “Sưa”.

TXA.

Thơ đã đăng báo, tạp chí, đã in trong các tuyển thơ & trong các tập thơ riêng đã xuất bản thành sách in giấy.
http://www.tranxuanan-writer.net

20-9 HB12 (2012)

 



Xem thơ, bấm vào đây



Xem ảnh chụp trang VANVN.NET, bấm vào đây

 

CÔNG KHAI HÓA + DÂN CHỦ HÓA = CÔNG BẰNG
CÔNG KHAI HÓA + DÂN CHỦ HÓA + TÂM TRONG SÁNG + THẨM THỨC TINH TẾ = CÔNG BẰNG

Bắt đầu thực hiện từ 2009, nhưng rất tiếc, sau đó chuyên mục này bị xóa đi khỏi Tttđt. Hội Nhà văn Việt Nam (hoinhavanvietnam.vn, cũng có tên miền là vanvn.net). Hi vọng lần này (2012) sẽ được duy trì và tiếp tục tiến hành lâu dài.

Advertisements

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Góp ý về GIỌNG ĐỊA PHƯƠNG, TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG

Posted by Trần Xuân An trên 08.11.2012

hidden hit counter

GIỌNG ĐỊA PHƯƠNG, TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG

Trong khoảng mươi ngày qua, trên báo Tuổi Trẻ in giấy, có một loạt bài về giọng địa phương, tiếng địa phương. Tôi xin tự trích lại từ một cuốn tiểu thuyết của mình, viết từ 1998, như một cách góp ý. — TXA. —

Trích “Mùa hè bên sông” (tiểu thuyết của Trần Xuân An), 1998 & 2003:

“… Hiền Lương nhìn màn hình, cô muốn thư giãn, bớt nặng nề và bớt ôm đồm, vì ngày mốt phải vào Bình Dương lại rồi. Cô nói:

– Thưa ông, tại sao giọng Quảng Trị nếu đọc chuẩn như xướng ngôn viên vẫn bị bạc đãi đến vậy ạ? – Thấy mình nói hơi bóng bẩy, Hiền Lương vội chữa -. Dạ, sao giọng Hà Nội lại độc chiếm Đài Tiếng nói và Truyền hình Việt Nam. Và giọng Sài Gòn…

Ông Hiền cười:

– Người ta không tuyển diễn viên kịch nói người Khu Bốn cũ nữa kia! Thật ra có bốn giọng đặc trưng: Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ, Nam bộ. Giọng nào cố gắng đọc thật chuẩn theo chữ quốc ngữ, thứ chữ kí âm, đều hay. Các đài trung ương đều phải đọc bằng bốn giọng đặc trưng ấy. Thẩm thức còn do thói quen. Đa thanh là biểu hiện của sự phong phú. Đúng, giọng Khu Bốn cũ bị phân biệt đối xử, bị bạc đãi, – Ông giáo cười thật giòn -, trong khi các lãnh tụ số một đều phần lớn là người Khu Bốn cả, chưa kể mấy trăm năm triều Nguyễn, và thiên tài ngôn ngữ thơ, ca cũng vậy… Ngụy cũng vậy, cách mạng cũng vậy… – Ông giáo mỉm cười – … Nước nào cũng chọn giọng thủ đô làm chuẩn. Chữ quốc ngữ ở giai đoạn hoàn chỉnh, đầu thế kỉ hai mươi này, được kí âm theo giọng Hà Nội. Nhưng chuẩn chưa hẳn là gốc. Thủ đô dễ pha tạp…”.

“… Như bất kì câu chuyện phiếm nào, hai ông cháu vui vẻ sa đà, từ chuyện nọ xỏ qua chuyện kia.

– Nhưng vua Hùng có gốc là Phú Thọ. Đó là thủ đô đầu tiên, thủ đô gốc. Lẽ ra phải lấy chuẩn ở đó. Nhưng nói chung, giọng Bắc bộ vẫn giọng gốc chứ, thưa ông? Đúng hơn, vua Hùng gốc Rồng, miền biển Bắc bộ, nhưng bấy giờ là thời hậu kì mẫu hệ, còn dấu vết mẫu hệ, con cả theo Mẹ Tiên ở núi, được làm vua…

– Thật ra, giọng Khu Bốn chỉ bốn thanh, vì ngã, nặng, hỏi hơi trùng nhau mất rồi. Ngôn từ lại nhiều tiếng Việt cổ… Cứ nghiệm thử xem, có bao nhiêu ca sĩ thì có bấy nhiêu chất giọng, thậm chí anh em ruột chất giọng cũng khác nhau. Do đó, chính sự khác nhau tí ti ấy đã xác định không có ai giống ai về bộ phận phát âm đến mức mười mươi… Chất giọng, âm sắc Khu Bốn do nhóm người di dân đầu tiên phát âm theo cơ chế sinh lí riêng của bộ phận phát âm của từng người trong họ, dần dần giọng nói chung lệch đi, tổng hòa lại thành một giọng địa phương Khu Bốn? Ban đầu chỉ khác một tí ti, dần dần, khác hẳn? Nguyên nhân chính có lẽ là bởi sự giao lưu hạn chế ngày xưa. Và do lai tạp tại chỗ? Dân Bắc bộ rõ ràng bị lai, Hán hoá, và theo thời gian mà lệch xa âm cổ? Có khi, tâm lí người ra đi khỏi đất Tổ lại bảo thủ hơn người ở lại, họ phát âm gần âm cổ hơn, giữ nhiều từ cổ hơn. Cái này cần có sự nghiên cứu sâu của các nhà ngữ âm học. Dẫu sao, thực trạng tiếng Việt suốt mấy trăm năm nay là có bốn giọng đặc trưng. Hãy cố gắng phát âm theo chữ kí âm, tức là chữ quốc ngữ, đầu thế kỉ vốn lấy chuẩn là giọng Hà Nội, để tránh tình trạng dần dần nói một đàng viết một nẻo như tiếng Anh và nhiều thứ tiếng khác. Hãy làm chủ sự vận động của ngôn ngữ, ngữ âm. Ở nhà trường, cần có nhiều tiết tập đọc, luyện phát âm đúng chuẩn theo chữ quốc ngữ, nhưng vẫn giữ âm sắc địa phương cho đa dạng, phong phú. Ngày xưa, nói chung, người ta chưa biết làm chủ nên mới tùm lum như thế. Có nhiều dân tộc cùng một thứ tiếng, ở xa nhau, giao thông liên lạc khó, dần dần không hiểu nhau nữa. Tính thống nhất của một dân tộc là ngôn ngữ. Ngôn ngữ không phải tất cả, nhưng cơ bản nhất, quan trọng nhất, nghe Hiền Lương!

Hiền Lương bỗng hóa đứa bé học trò. Cô líu ríu “dạ” trước giọng nói đậm tính nghề nghiệp sư phạm của ông giáo già, giọng nói như giảng bài, chính ông cũng không ngờ. Thói quen giảng bài đã thâm nhiễm trong ông tự mấy chục năm nay. Hiền Lương cũng vô thức bị thôi miên thành đứa trẻ. Vâng, tiếng Việt với bốn giọng đặc trưng, lấy chuẩn cứ là chữ quốc ngữ, chứ không phải chuẩn cứ độc nhất là giọng Hà Nội. Giọng Hà Nội nay ít nhiều cũng khác xưa…”.

http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/mua-he-ben-song/tep-11

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »