Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

T.X.A. đã viết và công bố tập thơ thứ XX (đầu sách thứ 7 HOÀ GIẢI DÂN TỘC)

Posted by Trần Xuân An trên 04.07.2018

hidden hit counter

 
.
TRONG TÔI
BẾN HẢI & THẠCH HÃN

tập thơ – đầu sách thứ 7 về đề tài hoà giải dân tộc của Trần Xuân An
(không kể tập thơ tình cảm “Tuổi nhớ”, nxb. VHVN., 12-2016), tại FACEBOOK:
.

https://txawriter.files.wordpress.com/2018/07/bia-sach_trong-toi-ben-hai-7-thach-han_17-7hb18_luu.jpg?w=300

.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2078691499071457/

( https://www.facebook.com/100007918808885/posts/2078691499071457/ )

https://txawriter.files.wordpress.com/2018/07/txa_bay-7-doa-hoa-triet-su_25-6hb18.jpg?w=300

.
Trong 4 năm rưỡi FB vừa qua tôi luôn khẳng định: Tôi tham dự vào tiến trình hoà giải dân tộc, chứ không phải chống chế độ hiện hành. Hoà giải là làm sáng tỏ cuộc chiến tranh đỏ – vàng 1945-1954-1975, “không phủ nhận quá khứ” bên đỏ và “không phủ nhận quá khứ” cả bên vàng, làm sâu thêm dukkha (khổ đế) của Đạo Bụt, nhu cầu tâm linh…

Nói rõ hơn, cuộc chiến tranh đỏ – vàng 30 năm ấy là chiến tranh chống ngoại xâm hai Khối (Nhật, Pháp, Mỹ và Nga Xô, Trung Quốc…) đồng thời là nội chiến giữa người Việt Nam với người Việt Nam, và cũng chính là cuộc chiến tranh ý thức hệ (kinh tế, triết học… mà nổi bật là tôn giáo và vô tôn giáo — hữu thần và vô thần —, cụ thể là nhu cầu tâm linh và ý thức tiến hoá luận…).

Trần Xuân An đóng góp và giữ bản quyền.

T.X.A.
30-6-2018 HB18

.

…………………………………

A. Năm mươi hai bài thơ mới viết (tính đến ngày 06-7 & 15-7-2018 HB18):
TRONG TÔI BẾN HẢI & THẠCH HÃN – tập thơ – đầu sách thứ 7 về đề tài hoà giải dân tộc của Trần Xuân An (không kể tập thơ tình cảm “Tuổi nhớ”, nxb. VHVN.), tại Facebook:

LỜI THƯA NGỎ
tập thơ “Trong tôi Bến Hải và Thạch Hãn”
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2101819916758615/

1) Bài I
NGUỒN CỘI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2030843823856225

2) Bài II
BÀI HỌC ĐỊA LÍ MỘT THUỞ TAM KỲ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2033142660293008

3) Bài III
ẢNH LỚP MÌNH TUỔI HAI MƯƠI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2035691976704743

4) Bài IV
SÔNG BẾN NGHÉ XƯA
SÔNG SÀI GÒN NAY
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2037214446552496

5) Bài V
BÌNH TÂM THÔI,
“TRIỆU NGƯỜI VUI”, “TRIỆU NGƯỜI BUỒN”
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2038149493125658

6) Bài VI
MÙA HOA SƯA, SÔNG TAM KỲ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2039758492964758

7) Bài VII
NGÀY GIỖ QUỐC TỔ
Ở TP.HCM.
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2041159902824617

8.) Bài VIII
BỐI CẢNH VÀ TÔI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2041773022763305

9) Bài IX
MỘT NÉN NHANG GIỖ QUỐC TỔ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2042166392723968

10) Bài X
THƠ THỜI SỰ VUI:
CUỐI THÁNG TƯ 2018 Ở BÁN ĐẢO CAO LY
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2043564442584163

11) Bài XI
NGÀY THÔN TÍNH, NGÀY HOÀ BÌNH
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2043584372582170

12) Bài XII
CUỐI THÁNG TƯ 2018,
NHÌN ẢNH BÀN MÔN ĐIẾM, NHỚ BẾN HẢI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2044024075871533

13) Bài XIII
ĐẸP KHỐC LIỆT, ĐẸP ÁM ẢNH
CHẬU HOA 30 THÁNG TƯ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2045033029103971

14) Bài XIV
KHÁC CÂU THƠ NHÀ THƠ NGUYỄN DUY
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2045044885769452

15) Bài XV
BỪNG SÁNG GIỌT MỒ HÔI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2045601395713801

16) Bài XVI
TƯỞNG NHỚ NHÀ THƠ TRẦN VÀNG SAO,
MỘT NGƯỜI THỐNG NHẤT NAM – BẮC
THEO CÁCH CỦA ANH
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2049757408631533

17) Bài XVII
BIÊN GIỚI
TRONG TRUYỆN HỌ HỒNG BÀNG
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2050979195176021

18) Bài XVIII
DI TÍCH THỰC DÂN
NHƯNG THUẾ MÁU VIỆT
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2051793175094623

19) Bài XIX
TÔI KHÔNG TỪ BỎ CHỮ NÀO
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2052921354981805

20) Bài XX
BÀI HỌC SỬ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2054029388204335

21) Bài XXI
THUỞ ĐÓ,
NHỮNG CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2054526084821332

22) Bài XXII
LẦN THỨ 128 SINH NHẬT BÁC HỒ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2054659931474614

23) Bài XXIII
KHÔN NGUÔI MỘT TỨ THƠ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2055565751384032

24) Bài XXIV
SÔNG CÁNH HÒM
ĐỰNG CHUYỆN TÌNH XƯA
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2058080964465844

25) Bài XXV
THẬT RA, TÔI CHỈ NHƯ VẬY
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2058683164405624

26) Bài XXVI
MÙA PHẬT ĐẢN,
CÚI LẠY ĐOÁ SEN
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2059061457701128

27) Bài XXVII
NGÀY THẾ GIỚI ĐỀU TRẺ THƠ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2061067370833870

28) Bài XXVIII
TRUNG QUỐC VẪN TRÊN
LỘ TRÌNH XÂM LƯỢC ĐÃ CÔNG KHAI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2062449537362320

29) Bài XXIX
CHỈ MUỐN VẸN NGUYÊN, HOÀ BÌNH
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2062963990644208

30) Bài XXX
BẢY BÔNG HOA SỬ & TRIẾT
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2063443687262905

31) Bài XXXI
GIỮA NHIỀU SẮC XANH ĐỜI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2063646590575948

32) Bài XXXII
KÍNH NHỚ BI KỊCH ĐẶNG DUNG
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2065156470424960

33) Bài XXXIII
LIỆU ĐẤT NƯỚC TA CÓ BỊ HI SINH?
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/100007918808885/posts/2066885570252050

34) Bài XXXIV
LUẬT, BIỂU TÌNH VÀ DẤU HỎI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2069426366664637

35) Bài XXXV
BIỂU TÌNH THỜI TỰ ĐỨC
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2069797959960811

36) Bài XXXVI
NGÀY CHẾ LAN VIÊN QUA ĐỜI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2072543973019543

37) Bài XXXVII
BIỂU TÌNH, NỔI DẬY PHỦ QUYẾT
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2074648272809113

38) Bài XXXVIII
QUÊ HƯƠNG
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2076710709269536

39) Bài XXXIX
KHÁT VỌNG CÁC NHÀ VIẾT SỬ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2077328325874441

40) Bài XL
KẾT ĐỌNG,
VÀ LẠI KẾT ĐỌNG HOÀ GIẢI
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2078474995759774

41) Bài XLI
TRANH THƯ PHÁP KHẮC ĐÁ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2080387028901904

42) Bài XLII
CHẤT GỖ, TỨ THƠ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2080575295549744

43) Bài XLIII
ẤN TƯỢNG KHALY CHÀM
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2080839192190021

44) Bài XLIV
THÂN KÍNH ANH TRẦN MẠNH HẢO
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2081300952143845

45) Bài XLV
ĐƯỜNG LONG NÃO XANH
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2081387528801854

46) Bài XLVI
DẢI CÁT TRẮNG MIỀN TRUNG
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2089330674674206

47) Bài XLVII
MỌI CUỘC CHIẾN TRANH,
NẾU DÂN CHỦ NHƯ BONG BÓNG BAY
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2089109521362988

48) Bài XLVIII
KÍNH TẶNG
NHỮNG THI SĨ VỐN LÀ LÍNH VÀNG
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2091583347782272

49) Bài XLIX
GIÓ LÀO MIỀN TRUNG
VẮT NƯỚC CHO CỬU LONG
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2095152874091986/

50) Bài L
HOÀNG SA VỊ XUYÊN GẠC MA
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2095424690731471/

51) Đọc thêm: Bài LI
NHÂN ĐỌC MỘT BÀI THƠ CỦA PHÙNG QUÁN
Ở FB VŨ HỒ NHƯ
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2095909117349695/

52) Bài LII
KÍNH THƯƠNG “LỜI MẸ DẶN”
Trần Xuân An
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2098101693797104/

Lời viết thêm:
TÂM THẾ PHẢN KHÁNG, CẢI TIẾN & CHIÊU THỨC SA ĐÍCH
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2099792710294669/

Trọn tập gồm 52 bài thơ đã được công bố theo ngày giờ ghi cuối mỗi bài.
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG.
Trân trọng và cảm ơn.
.

……………………………………………

Trân trọng mời đọc & tự in thành sách giấy
6 ĐẦU SÁCH THƠ, TRUYỆN, VỚI CHUYÊN ĐỀ
HOÀ GIẢI DÂN TỘC
SAU CUỘC NỘI CHIẾN – CHỐNG NGOẠI XÂM
TRONG CHIẾN TRANH LẠNH
(1945-1954-1975—-1989/1991)
& 01 đầu sách khác: tập thơ TUỔI NHỚ (NXB. Văn hoá – Văn nghệ, 12-2016)
Tác giả: Trần Xuân An
( https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2028854877388453 )

———————————

1) ĐỂ LÒNG NGƯỜI THÔI TRẦM UẤT, tập thơ
PDF:
https://txawriter.files.wordpress.com/2015/10/0_best_txa_tap-tho-14_bo-sung-tuyen-ngon-loi-the-vn-18-9hb15-copy.pdf
.
http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/txa-de-long-nguoi-thoi-tram-uat
.
2) SÁNG ĐỀU HAI NỬA GƯƠNG MẶT, truyện vừa gồm 6 truyện ngắn
PDF:
https://txawriter.files.wordpress.com/2016/01/txa_sang-deu-hai-nua-guong-mat_19-01hb16.pdf
.
http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/dau-sach-36-txa_sang-deu-hai-nua-guong-mat
.
3) CẦU Ý HỆ, tập thơ
PDF:
https://txawriter.files.wordpress.com/2016/11/txa_cau-y-he_arial_co-sach__tap-tho-thu-16_04-11hb16.pdf
.
http://www.tranxuanan-poet.net/danh-muc-tac-pham-txa/cau-y-he-txa-dau-sach-37
.
4) ĐỘC LẬP THẬT, KHÁT VỌNG!, tập thơ
PDF:
https://txawriter.files.wordpress.com/2017/06/4_for-layout_doc-lap-that-khat-vong_20-6hb17.pdf
.
http://www.tranxuanan-poet.net/danh-muc-tac-pham-txa/tap-tho-thu-17_muc-luc
.
5) CHIẾC CẦU CHIẾN TRANH LẠNH, tập thơ
PDF:
https://txawriter.files.wordpress.com/2017/09/txa_tap-tho-18_chiec-cau-chien-tranh-lanh_30-bai_10-09hb173.pdf (phần 1)

PDF tại txawriter.wordpress.com:
https://txawriter.files.wordpress.com/2017/12/txa_p1p2_chiec-cau-chien-tranh-lanh_60-bai_10-09-10-12hb17.pdf (trọn tập, 2 phần)

.
http://www.tranxuanan-poet.net/danh-muc-tac-pham-txa/phat-hanh-tap-tho-chiec-cau-chien-tranh-lanh
.
T.X.A.
17-9-2017

6) BỐN NĂM CHỮ THẬP ĐỎ, tập thơ, PDF & Word:
(Công bố tập thơ thứ 19 trong 40 đầu sách của T.X.A. và 01 sưu tập tư liệu)
PDF
https://txawriter.files.wordpress.com/2018/03/txa_bon-nam-chu-thap-do_22-3hb18.pdf
.
WORD & PDF
http://www.tranxuanan-poet.net/danh-muc-tac-pham-txa/bon-nam-chu-thap-do_tap-tho19-tren-41
.
https://txawriter.wordpress.com/2018/03/22/cong-bo-tap-tho-thu-19-trong-40-dau-sach-cua-t-x-a-va-01-suu-tap-tu-lieu/

7) 01 đầu sách khác: tập thơ TUỔI NHỚ (NXB. Văn hoá – Văn nghệ, 12-2016)

T.X.A.
28-03-2018 HB18

Ảnh: Sách tác giả tự in từ tệp PDF bằng máy in cá nhân – văn phòng (riêng tập “Tuổi nhớ”, NXB. Văn hoá – Văn nghệ ấn hành, 12-2016):
Link:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2028854877388453

.

Advertisements

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

Công bố tập thơ thứ 19 trong 40 đầu sách của T.X.A. và 01 sưu tập tư liệu

Posted by Trần Xuân An trên 22.03.2018

hidden hit counter

 
.

Trần Xuân An

BỐN NĂM CHỮ THẬP ĐỎ

tập thơ
.
.

PDF

.
.
https://txawriter.files.wordpress.com/2018/03/txa_bon-nam-chu-thap-do_22-3hb18.pdf
.
.
~~~ O0O0O0O ~~~
.
.
https://txawriter.files.wordpress.com/2018/03/tap-tho-19_09-3hb18.jpg?w=400

.
.
ĐÂY LÀ TẬP THƠ THỨ 19
TRONG 40 ĐẦU SÁCH VÀ 01 SƯU TẬP TƯ LIỆU
CỦA TRẦN XUÂN AN

Đã được ông bố từ 18-10-2017 HB17 đến 05-03-2018
& công bố bổ sung 8 bài, 20-3-2018 HB18
tại Facebook, các trang web cá nhân,
gửi đăng trên báo giấy, tạp chí giấy, tập san giấy,
trang thông tin điện từ Hội Nhà văn TP.HCM….

Ngày tập hợp lại thành bản thảo:
09-3-2018 & 21-3-2018 HB18

Ngày tạo tệp PDF
cỡ sách 14,4cm x 20,5cm này:
22-03-2018 HB18
CÔNG BỐ TRÊN MẠNG TOÀN CẦU

~~~ O0O0O0O ~~~

TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG

Tranh chân dung tác giả Trần Xuân An
(Lê Quang Thỉ kí hoạ màu nước, 2016)
.
~~~ O0O0O0O ~~~

LỜI THƯA NGẮN

Thơ, nói chung là văn chương, không phải là y tế. Tuy vậy, văn chương cũng có thể xoa dịu những vết thương tinh thần và cả vết thương thể xác nữa, trong chiến tranh và hậu chiến, theo tôn chỉ Chữ thập đỏ (Trăng liềm đỏ, Pha lê đỏ) – ở nước ta, Miền Bắc cũng như Miền Nam thời chia cắt và sau khi thống nhất, đều gọi chung là Chữ thập đỏ (Hồng thập tự).

“Phong trào này tự giác và phi chính phủ. Mục đích đã được tuyên bố là để bảo vệ sự sống và sức khỏe con người, để bảo đảm là con người được tôn trọng, và để tránh và giảm bớt khổ sở, họ không phân biệt theo quốc tịch, dân tộc, tôn giáo hay tín ngưỡng, giai cấp, hoặc quan điểm chính trị” (trích từ điển Wikipedia) *.

Điều cần lưu ý là tôn chỉ Chữ thập đỏ đã xác định tính chất căn bản của nó: phi chính phủ (non-governmental organization), nghĩa là mặc dù tuân thủ luật pháp quốc gia, nó vẫn không thuộc vào, can dự vào hệ thống chính quyền quốc gia, do đó, nó không xâm lấn chủ quyền quốc gia với bất kì hình thức nào, kể cả biểu trưng (logos) đặt trên hay đặt ngang quốc kì…

Người cầm bút Việt Nam, cho dù đang làm việc trong cơ quan nhà nước, hội viên của bất kì hội đoàn nào, hoặc làm việc ở các công ti, xí nghiệp tư nhân, hay chỉ là thường dân, làm ăn cá thể, thậm chí không hội viên gì, cũng có thể tự giác, tự nguyện viết, đăng báo, xuất bản sách giấy theo tinh thần Chữ thập đỏ. Chúng ta biết thế và hi vọng thêm như vậy.

Tôi là một người cầm bút theo tinh thần đó, đặc biệt rõ nét trong sáu đầu sách, tôi đã viết trong bốn năm qua, từ 2014 đến nay, 2018.

Trần Xuân An
3-2018 HB18

(*) Mỗi người viết vận dụng 7 nguyên tắc Chữ Thập đỏ (nhân đạo, vô tư, trung lập, độc lập, tự nguyện, thống nhất, toàn cầu) theo tạng chất và ý hướng của mình, không nhất thiết phải tuân thủ một cách cứng nhắc.

Bài 1
NÉT TOÀN DÂN NGÀY TẾT
Trần Xuân An

lát bánh tét tròn mặt trống đồng
bọc nguồn sáng, rõ vành trời đất
chưng lên dĩa, rét đông hoàn tất
đôi đũa – đôi chày – gác đợi xuân

bánh chưng vuông gọn bàn tay mở
gói úp bằng nhau như bánh tày
tay bắt là chưng, tày chắp lại
bánh chầy, sáng mặt trời trên khay *

năm sắc ngọt thơm dưa món mặn
tươi hoài củ trái suốt giêng hai…
thế là Tết! Thắp lên nhang nến
mai gắn đào, đào đính thiệp mai

tranh thiệp xuân và tranh báo xuân
đặc trưng Tết vẫn đào mai đó
nền nếp Tết lưu dài vạn thuở
cổ truyền không thiếu nét toàn dân.

T.X.A.
10:11 – 14:45, 18-10-2017 HB17
……………..

(*) Bánh giầy, ngày xưa vốn được gọi là bánh chì, bánh chầy (xem tuoitre. vn). Ở Quảng Trị, vẫn còn gọi là bánh chì. Có lẽ nên gọi là bánh chầy (chày) vì xôi nếp được giã nhuyễn bằng chày?

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1970839043190037

Bài 2
TẾT THIÊN NHIÊN
Trần Xuân An

mưa phùn bay tóc bạc
cây trổ chồi tháng giêng
bay bay bao khuôn nhạc
nụ xanh những nốt duyên

người cơ hồ không khác
lại xuân cùng thiên nhiên
tiếng hát nào xanh ngát
Tết đâu chia phận riêng

vượt xa mọi lễ lạt
(nhạc riêng làng, riêng thiêng
nhà vang ca, nhà tắt!)
Tết chung tự cổ truyền

vở trăm trang trời đất
bay tơ tóc thiếu niên
người già quên tuổi hạc
Tết thiên nhiên còn nguyên.

T.X.A.
08-12-2017

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1972125339728074

Bài 3
NGÀY TRỞ LẠNH,
SÀI GÒN NHẮC TẾT
Trần Xuân An

sớm mai mở cửa nghe se lạnh
mùa đông, chào nhé, tới phương nam
bông tuyết, bấc phùn từ bắc cực
nhuộm trời ta chút rét xanh lam

mùa đông phả lạnh cho tươi nắng
nhắc nhở Sài Gòn đã cuối năm
gần phố bốn mùa hoa nhiệt đới
chìa tay thêm mát rượi tay cầm

trời đang trở lạnh điều hoà đất
ồn ã điều hoà với lắng trầm
gần Tết sắp vàng mai, lộc biếc
nắng thơm gừng mứt thoáng xa xăm

hăm bảy mùa xuân con đã lớn
mười năm nơi Mẹ thiên thu nằm
bâng khuâng trước quãng thường niên lạnh
chén trà đầm đậm nhớ đăm đăm.

T.X.A.
07:16 – 14:30, 09-12-2017 HB17

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1972723919668216

Bài 4
THÁNG RỘ BÔNG
Trần Xuân An

đón tháng giêng giữa mùa khô
nắng mật ong trên những bờ đường hoa
tháng giêng vào mọi căn nhà
hương bông gần, hương bông xa, hương trời

tháng giêng về lại với người
trang thơ tuổi mãi hai mươi ngát tình
tháng giêng hoa lá tâm linh
mênh mang sâu thẳm trong mình nghìn năm

đón tháng giêng của phương nam
nắng màu trà, ngỡ ướt đầm, không khô
bốn mùa hoa trái trời cho
vẫn rộ bông đến bất ngờ, tháng giêng

tháng giêng hoài niệm lung liêng
xuân miền thả nắng ánh miền mưa rây
hiểu mưa đó nhờ nắng đây:
mùa bông thắp sáng đêm ngày từ bông.

T.X.A.
14:20 – 17:00, 13-12-2017 HB17
.
https :// www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1974628502811091

Bài 5
CHẠP MẢ, HỚT TÓC,
ĐÓN TUỔI MỚI
Trần Xuân An

tháng chạp, đi chạp lại mái đầu
– lớn tuổi thấm câu đùa tuổi nhỏ
hoá ra đầu ta là nấm cỏ
mộ tiền nhân và mộ bể dâu

tháng chạp, ta cùng đi hớt tóc
sợi cỏ xanh, sợi cỏ phai màu
đầu mới lại, khói nhang trên trán
bốn nghìn năm trong đó chứ đâu!

cuối năm, chạp mộ, tươi thêm đất
sử dòng, làng, nước, mới trong nhau
sống phương nam nhớ về nội, ngoại
lặng ngồi hớt tóc mặn chân râu.

T.X.A.
06:14 – 08: 17, 14-12-2017 HB17
.
https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1974943856112889

Bài 6
LÁ BÚT KHẮC, ĐOÁ MAI NGỌC
Trần Xuân An

chậu mai ai đặt trước hiên nhà
đến tối ba mươi không tới chở
ai tặng ư, sao quên thiệp nhỏ?
khiến hoa nghiêng ngó, lá trông ra

tiếc dăm xuân, chậu gốc trơ khô
năm nọ, giá như khi đảo đất
gặp bút pha lê, ngòi thép sắc
khắc câu thơ cổ, nét không mờ

gốc mai, nếu giấu đoá tình xưa
trót giẫm nát trong cơn phẫn hận
lại kết ngọc năm cùng tháng tận
thì lau rửa đất, xin cười xoà

bạn hay nàng? Kỉ vật niềm hoa
thật, mộng đều trà hương, mứt mật
nguyên đán, giêng, đều tươi mới Nhất
tốt lành kết Tết, tự xưa xa

hoa ai thầm biếu, hẳn không ngờ
tặng cả mấy giao thừa tưởng tượng:
lá bút, đoá duyên rơi rụng xuống
không trong chậu đất mà trong ta.

T.X.A.
14:17 – 22:10, 15-12-2017 HB17

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1975568009383807

Bài 7
VẤN QUYỆN VÀO NHAU
Trần Xuân An

biển gọi xuân rừng, khe kết suối
gặp nhau khe suối tết thành sông
nước non tết quyện hoài Nguyên đán
tết đan giềng mối mãi Tiên Rồng

tết là thắt nút, ghi xuân tiết
đếm bốn mùa, trời trăng, nắng mưa
tóc ai tết bím xanh kim cổ
chữ Tết nay và nghĩa Tết xưa

phường phố rất đời đan kết tết
tết tình làng, nghĩa nước, nhân duyên
tết đất với trời, tươi vũ trụ
vấn vào nhau, bện chặt, thiêng liêng

quấn vào nhau chỉ hồng tơ thắm
tết rất riêng khơi dậy ruộng vàng
âm dương nhật nguyệt tươi rừng biển
trăng mật tình, nàng thụ phấn chàng

tết những gì giêng, nguyên đán nhất
quê nhà Tết Nhất, xoan tràn xuân
Tết định nghĩa bằng muôn thuở Tết
thuần hồn dân tộc của dân gian.

T.X.A.
07:40 – 11:30, 19-12-2017 HB17

https:// www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1977489592524982

Bài 8
NHỚ THÀNH PHỐ TRÊN TRỜI CAO
Trần Xuân An

tám năm vắng dịp thăm Đà Lạt
nhớ một nơi quanh năm tháng giêng
Thành-phố-trên-trời-cao, trước nữa
tôi từng gọi suốt thời thanh niên

trời Đà Lạt lạnh, trong như nước
nồng ấm, mắt xưa chạm sắc đào
Nam Bộ, màu lòng tay thiếu nữ
lạnh về, thêm dịu hương ai trao

lạnh về Nam Bộ quanh năm nắng
(sáu tháng mưa chiều vẫn nắng mai)
Đà Lạt bỗng dưng lan toả khắp
những bầu má trẻ ửng đào phai

phố trên trời biếc vẫn trên đất
quả độc, trái lành, nhưng mãi giêng
và bốn mùa giêng cần áo ấm
ủ nồng Đà Lạt sắc đào riêng

tháng giêng suốt bốn mùa Đà Lạt
gửi chút giêng về xứ nắng này
lay thức mai anh đào kỉ niệm:
sắc đào Đà Lạt cứ đâu đây.

T.X.A.
07:18 – 14:40, 20-12-2017 HB17

https:// www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1978426219097986

Bài 9
GIÁNG SINH, TRONG TÂM NGƯỜI
CÁI NHÌN MỚI
Trần Xuân An

Tự Đức và đại thần
khát khao bậc cứu tướng
cứu tướng Việt và cứu chúa Giê-su,
đâu phải khác chiều
bi kịch là khác cái nhìn,
cái nhìn khác với giáo dân, cố đạo
một quét ngoại xâm,
một lật đổ đương triều
.
cố đạo, giáo dân ước ao
xô sập hay đục ruỗng,
trơ không Nhà Nguyễn
khẩn cầu cứu chúa,
từ ngoại bang
nên máu đổ,
suốt Cần vương, Văn thân, thuở đó
do khác cái nhìn về Trương Định và về Giê-su,
mà đúng, sai đều tan hoang
.
nếu chung một cái nhìn,
cái nhìn đúng về Giê-su, đấng cứu chúa
thì làm sao giặc Pháp cướp,
ta mất nước tan nhà
mong giáo dân chỉnh lại cái nhìn,
hơn là oán hận thời sát tả
và cả Quốc khánh Ba số Một về sau,
1963 *, với nhiều nguyên nhân gần, xa
.
Chúa cứu nước,
mong quét sạch ngoại xâm La Mã
hay thoả hiệp vì quyền lực,
ngỡ chỉ cứu linh hồn?
sao thần học nghiêng về phản nghịch,
lỗi nghĩa cùng Chúa?
nên Văn thân sát tả
đến Quốc gia 63 Sài Gòn
.
giáng sinh,
hoài niệm về cận sử
không buồn,
mà nội dung mới
kinh “Ăn năn tội” xưa xa
giáng sinh trong tâm người:
cái nhìn đúng về vĩnh hằng Cứu Chúa
về Quốc gia – Cộng hoà một thuở
dù đã tiêu ma
.
Cứu Chúa Giê-su
– biểu tượng của khát vọng độc lập
biểu tượng quét sạch ngoại xâm,
nhưng không thành
còn là biểu tượng tôn giáo của vài tỉ người,
nên không can dự vào chính trị
không ngự ở nước nào,
mà chỉ ở cao xanh.

T.X.A.
sáng 25-12-2017 HB17

(*) 1-11-1963: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn

.
https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1980150678925540

Bài 10
CHÚA GIÊ-SU, NGƯỜI YÊU NƯỚC
Trần Xuân An

Người yêu nước với lòng lành
chết trên thập giá, máu thành mưa rơi

từ đất Chúa ngự lên trời
thế gian hoài mãi cõi đời khổ nhau

cao xanh Chúa vẫn không màu
một trong ngàn vạn bề sâu loài người

sử Việt là Kinh Thánh tôi
chương buồn Thập giá, rõ rồi, xưa xa

ngàn năm truyền thuyết mù sa
sử Do Thái lại sáng loà Giê-su

đích thực Chúa mỗi câu từ
ngoại xâm La Mã thôi hư huyền lời

linh hồn kiếp kiếp nơi nơi
bao người yêu nước thành Trời Đất thiêng.

T.X.A.
sáng 27-12-2017 HB17

Tham khảo thêm:
Trích thư của hai linh mục Phạm Bá Trực và Vũ Xuân Kỷ gửi giáo hữu nhân dịp Nô-en (Noel) 1953, đăng trên báo Nhân Dân số 155, ngày 21-12-1953: “Hơn 30 năm ở dưới thế, Chúa đã đấu tranh không ngừng chống bọn đế quốc Rô-ma, bọn vua quan Giu-dêu gian ác và bị chúng đóng đanh trên cây thánh giá”… Trong số báo đó, cố chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có viết một bài với bút danh C.B., trong mục “Nói mà nghe” với ngôn từ hiện đại, không cụ thể – lịch sử, có nội dung khẳng định Chúa Giê-su là người lao động yêu nước, đại để tương tự như hai linh mục trên (từ ảnh chụp tư liệu của FB. Nhà văn Đặng Thân; nguồn: Thư viện quốc gia Việt Nam; Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, xuất bản lần 3, Nxb. CTQG., 2011, tr.375-376).

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1981019848838623

Bài 11
LỊCH NĂM MỚI
Trần Xuân An

ngày như nhau mặt trời dương lịch
nguyệt lịch mỗi đêm khác dáng trăng
cả vũ trụ tuần hoàn biến dịch
lịch từng tờ, viết thơ từng trang

thời khắc theo đường kim bán kính
quay vòng chữ số tháng và ngày
ta giao thừa mọi ngày, từng tháng
chữ cái ghép âm, mới mỗi bài

vẫn chữ số và kí tự cũ
cũ năm tháng, cũ cả xương da
tốt lành từ cũ sinh tươi mới
ta mới ta, sông núi mới ta

cổ xưa Tây cũng trăng làm lịch
Đông nhuận trăng, bằng lịch mặt trời
nhật nguyệt mọi phương đều toả sáng
mùa văn chương trái đất sinh sôi.

T.X.A.
30 & 31-12-2017 HB17

https:// www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1982722158668392

Bài 12
HẠNH PHÚC CUỐI TUẦN
Trần Xuân An

không gọi đầu tuần là Chúa nhật
quên luôn chủ nhật! Cuối tuần thôi
thứ hai, như gọi không anh cả
không thái tử, ngai vua sẵn ngồi

ngày trạng nguyên, thời gian sẽ chọn
ngày hoàng hậu, sắc cuối trăm năm!
ngày tình yêu, giữ lòng đừng khác
vẫn cuối tuần chiều hẹn đến thăm

đùa thôi, Chúa nhật là Ngày Chúa
ngày thánh thiêng đầu tiên của tuần
nay gọi Cuối tuần, trống thứ nhất
thứ hai như gấp đôi thời gian

đùa thôi, thứ nhất chia ra sáu
trong sáu ngày, nhiều lúc nhớ nhau
hạnh phúc cuối tuần dư hưởng thấm
thứ nào cũng thứ nhất, nồng sâu.

T.X.A.
31-12-2017 HB17

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1982921341981807

Bài 13
TẾT TÂY NHOÈ BÔNG
Trần Xuân An

triều đình thuở phải dùng dương lịch
trong kỉ nước ta mất, nhớ không? *
nay thế giới đều đành lịch ấy
Tết Tây, pháo độc lập, nhoè bông!

di sản thực dân nhiều nghẹn đắng
đau khi sực nhớ, cũng cười xoà
đành sàng lọc, nhãn ngoại thay hết
đâu chỉ Tết Tây với pháo hoa!

T.X.A.
14:21 – 15:01, 01-01-2018 HB18
………

(*) Kỉ Đồng Khánh (1885-1889), phàm lệ.

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1983588388581769

Bài 14
KINH THÁNH VIỆT NAM
Trần Xuân An

sử Việt Nam, thiêng xương thật máu
đã thành Kinh Thánh, để suy tư
thêm thi tuyển, đậm hồn dân tộc (1)
chống ngoại xâm, lòng chẳng tự tù

Kinh Thánh Việt Nam – quốc sử mới
mấy nghìn năm quét sạch quân Tàu
Hiền Lương bắn chéo năm cuồng ngoại (2)
không lệch bút, tâm không nhuộm màu

văn sử kết tinh và động não
sách tươi mật, đổ mồ hôi tim
không là tín hữu, mà người học
Kinh Thánh Việt Nam xoải cánh chim.

T.X.A.
07:45 – 11:47, 03-01-2018 HB18

(1) “Nhã ca” (hay “Diễm ca”) là tên một quyển sách thơ về yêu đương trong bộ Thánh Kinh (Bible) của dân tộc Do Thái. Ở đây là thơ Việt Nam đậm hồn dân tộc.
(2) Nhật, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Nga Xô…

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1984463301827611

Bài 15
YÊU NHAU,
NGUYỆN CẦU, TƯỞNG NIỆM
VỚI CHÂN LÍ
Trần Xuân An

~ Cảm ơn tấm ảnh Đôi bông bí đỏ
của Thu Nguyệt (nhà thơ) ~

trong tách trà này, có em, vầng trăng sáng
và có cả ai, mặt trời hân hoan
dưới giàn bí đỏ này,
bông phơi phới đang thì nhị nữ
kề bên nhau, bông nhị nam nồng nàn

loài người dâng hoa nguyện cầu,
trên triệu đài tưởng niệm
bông – sinh thực khí cỏ cây,
sự sống truyền đời
bông – yoni linga, lưỡng nghi,
nguyên âm trừ cùng nguyên dương cộng
chân lí giản đơn, thắm tươi

trong tách trà này, dưới giàn bí đỏ này
trong loài người, trước bao đài thờ vọng
cái đẹp ẩn chứa chân lí, chân lí của sự sống
ai đó hình như là tôi, bên em,
hai con người hay hai bóng cây?

T.X.A.
07-01-2018

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1986233118317296

Bài 16
Về tệ nạn đạo chích văn hiện nay
CHỮ KHÔNG PHẢI BÁNH
Trần Xuân An

văn chương, khoa học đâu như bánh
trẻ nhón tay, nhai vội, quẹt môi
bản chữ mãi còn, muôn mắt rọi
háo danh, nhưng nhục cả đời thôi!

T.X.A.
07:14 – 08:50, 23-01-2018
.
https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1993952044212070

Bài 17
Về tệ nạn đạo chích văn hiện nay
SẸO VÔ TÌNH
Trần Xuân An

làng bút có nhiều bài ảnh hưởng
câu thơ ai đọc, lâu rồi quên
hiện ra vô thức trên trang viết
thành sẹo vô tình, lưu hận phiền!

nếu cây lớn trót lầm tầm gửi *
bám chặt thân thành da thịt luôn
đại thụ, sẹo muôn đời đại thụ
cây xoàng, sẹo ấy máu hoài tuôn!

T.X.A.
08:30 – 09:01, 23-01-2018 HB18
…………..

(*) Hạt mầm cây tầm gửi theo gió bám vào cây lớn (đại thụ) hay loại cây bé hơn (như loại tơ hồng trên chè lá nhỏ) rồi phát triển (xem ảnh 2, nguồn: Blogcaycanh. vn), kí sinh lâu dài trên cây lớn, cây bé ấy, như thể một bộ phận của chúng. Sự thể ấy cũng như một câu thơ, ý văn của tác giả A, do tác giả B đọc, rồi quên, và sau đó, một cách vô thức, rơi vào tác phẩm của tác giả B. Tác giả B vô tình bị ảnh hưởng. Nhưng ảnh hưởng nhiều quá, tỉ lệ lớn, thì tác giả B đích thị là đạo chích. Và dù ở dạng nào, cũng bị sẹo – sẹo ảnh hưởng hay sẹo đạo chích.

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1993971124210162

Bài 18
HUẾ BA LẦN LẪN MÁU TRỘN XƯƠNG
Trần Xuân An

Huế ba lần máu ướt đầm
vương cây ngập cỏ đỏ bầm sông Hương

xác quân Lê – Trịnh tràn đường
gươm Tây Sơn chém, dao thường dân vung (1)

uất căm, súng Nguyễn vang lừng
Dụ Tân Sở rõ bi hùng máu xương (2)

Mậu Thân, khói quyện vào hương
Bãi Dâu máu thấm mạch tuôn Đá Mài (3)

sông Gianh trào huyết nơi đây
xương Bến Hải cũng Huế này trắng phơi

nội xâm, ngoại xâm, rạch ròi
chỉ còn mộ Việt muôn đời trộn nhau

cải táng lầm, hoá bớt đau
xương Nam cốt Bắc thơm sâu nhang thờ

giỗ chung những vạn cốt khô
nến Âm Hồn nhớ bốn bờ sông chia (4).

T.X.A.
trước 09:50, 25-01-2018 HB18
…………….

(1) 1786. Trích Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện”, bản dịch Viện Sử học, tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 504 – 505.: “… [Nguyễn] Huệ đem quân vào thành [Phú Xuân], giết rất dữ. Quân miền Bắc [của họ Trịnh] ở trong thành vài vạn người đều [bị] giết hết cả. Người nào chạy ra ngoài thành, thì dân [Thuận Hoá] tranh nhau giết chết…”.
(2) 5-7-1885 (23-5-Ất Dậu 1885). “Dụ Cần vương” và “Dụ Nguyễn Văn Tường”, “Dụ hoàng tộc”. Xem hai bản dụ sau tại: Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục chính biên”, bản dịch Viện Sử học, tập 36, sđd., Nxb. KHXH., 1976, tr. 225 – 226., tr. 226 – 228. Chính thực dân Pháp đã thảm sát tại Huế sau khi kinh đô Huế bị thất thủ.
(3) Tết Mậu Thân 1968. Xem: Lê Minh, “Huế Xuân 1968”, sách Nhiều tác giả, Thành uỷ Huế tái bản, 2002, tr. 76. Xem thêm: Nguyễn Đắc Xuân, bài “Anh Tư Minh” (1918-1990):
http: //www. gactholoc. com/c19 /t19-452/ anh-tu-minh- 19181990. html
(4) Đàn và Miếu Âm Hồn tại Huế là hai điểm thờ và giỗ tưởng niệm ngày Thất thủ Kinh đô (1885), nhưng nên chăng phối thờ và hiệp kị, tưởng niệm thêm 1786 (thời giới tuyến sông Gianh) và 1968 (thời giới tuyến sông Bến Hải).

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1995059427434665

Bài 19
TRÁI BANH BỊ VỠ
Trần Xuân An

những cành hoa nhan sắc
thành thú sừng dơ, đầy son phấn bụi

bụi thành bùn
khi mồ hôi cầu thủ còn đông tuyết trên vai

không hoan hô
vẫn muôn năm đường cong, cơ bắp

nhưng phải ở đâu
lúc nào, uốn lượn với ai

nhan sắc mặc kiểu chi
ai cũng dục càng thêm khát dục

thể thao lành thành quả bóng
xì hơi một tiếng thở dài!

hoặc giả, vì tự đề cao á quân quá lố
là tự bóc trần, khôi hài

nên có nhiều trò cởi truồng “giải thiêng” giữa phố
và cả trên khoang hàng không, trên mây

sao nhan sắc không vận áo dài quốc phục
choàng những vòng hoa thơm ngát nhân tài

để thêm yêu Việt Nam, lúc này, yêu nhất
thiên thần, máy bay, quả bóng, chàng trai?

T.X.A.
trưa 30-01-2018 HB18

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/1997623577178250

Bài 20
KHÓC, NHÌN VỀ PHÍA NỘI CHIẾN
Trần Xuân An

người thắng thì đã thắng rồi
tiếc chi nước mắt khóc người đã thua (1)
thắng cũng khóc mình ngày xưa
Chiến tranh Lạnh, bão xoáy lùa, vong thân!

“hai gọng kìm” đã gãy dần
độc lập đi, khóc với dân tộc mình
mai, đào, một nước, trung trinh
thắng là gộp lại, mọi đình làng xuân

chiến tranh bão vặn mưa giằng
không ai thảm sát mai vàng được đâu
nước mắt làm thắng thêm sâu
thắng là ôm trọn, bền lâu mai đào

thảm sát được quy luật sao?
thắng là đào nở ngọt ngào bên mai
nước mắt tự thắng chảy dài
vượt lên mình, ôm trọn hai nửa mình

đào, mai đều khóc tự khinh
thế cờ hai Khối hành hình núi sông
quét ngoại xâm, tự quét lòng
mai, đào mùa mới khóc trong sáng nhìn

thắng rồi, chưa thắng yêu tin
thì đào, mai nở, khắc in vào đời
bắn chéo hai Khối, chia đôi
thắng, thua, cộng tiếng khóc cười, thiên thu

năm ngoại xâm, thôi là thù (2)
nhưng còn biển đảo và vu khoát nào
đừng khóc, cùng sóng thét gào
khóc nỗi mai, khóc niềm đào này thôi

đào, mai, khí hậu đất trời
nước, hai Khối chém, một thời chẻ thân
cuối cùng chiến thắng là dân
thêm Đổi mới, thêm sáng sân mai / đào.

T.X.A.
06-2-2018
…………….

(1) Tập Kiều của Nguyễn Du.
(2) Pháp, Nhật, Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô…

https:// www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2001060310167910

Bài 21
NHẮC TẾT MẬU THÂN,
LIÊN TƯỞNG THÀNH CỔ
Trần Xuân An

Huế Mậu Thân – bản nháp cho Thành Cổ
năm mươi năm, hoa cỏ Tết khoả tràn
mỗi mùa hè, chuông Âm Hồn cùng vọng
La Vang, Trí Bưu, Đại lộ Kinh hoàng (1)

trải một thời đạn bom, suy tư sử
hiểu máu xương là tất yếu chiến tranh
vài chữ hiệp định hoà bình: vạn xác!
sông Hương, sông Hãn hoài trôi, cũng lành

trong chiến công có những điều vu khoát (2)
phù hiệu đỏ vàng, xương trắng cả thôi
dừng thảm sát đời nhau, mai đang nở
Hương, Hãn ngọt lành, nhờ thời gian trôi

mai vô tư, Huế Mậu Thân báo nhắc
Thành Cổ ơi, tiệc Thượng Hải linh đình! (3)
một Tết khởi đầu, một Hạ kết thúc…
máu lặp máu, đau thường dân hi sinh

xưa hơn nữa? Ai tội? Ai vô tội?
mở trong sử, xin đừng hỏi khói nhang
ai vì đất nước? Ai vì ngoại nhập?
Tết vô tư mai, mùa hè chuông lan.

T.X.A.
trước 11:10, 08-02-2018 HB18
(25 tháng chạp, sắp Tết Mậu Tuất HB18)
…………….

(1) Huế Mậu Thân, 1968. Đại lộ Kinh hoàng, Thành Cổ (Quảng Trị), 1972. Xưa hơn: Ở Huế, sau sự kiện Thất thủ kinh đô (1885), có miếu, đàn Âm Hồn; ở Quảng Trị: La Vang, 1798, và Trí Bưu, 1885.
(2) Vu khoát: viển vông, không thực tế.
(3) Trước Hiệp định Paris 1973, đã có “Thông cáo Thượng Hải 1972” giữa Mỹ với Trung Quốc, có thoả thuận giữa Mỹ với Liên Xô.

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2002932049980736

Bài 22
HUẾ KHOAN DUNG,
LẮNG TRONG OÁN HẬN
Trần Xuân An

Huế, thành phố mưa
mưa thâu đêm dài tháng
mưa cầm chân, người trầm ngâm, sâu lắng

Huế, kinh sư của chúa và vua
chúa mở cõi, vua nhất thống
người lịch lãm qua nhiều biến động

Huế, thành phố đại học, đình chùa
sách thực nghiệm, chuông nâng hồn thoát tục
khoan dung, trí thức

Huế, thành phố sông, vườn xanh bốn mùa
người lành như hoa trái
khoan thai, thư thái

Huế, thành phố không hận mới, oán xưa
sáu tám Mậu Thân, bảy lăm Ất Mão
sông Hương lắng trong, dù nhiều giông bão

Huế, thành phố thơ ca, hội tụ cày bừa
cách mạng mồ hôi, phất cờ sách vở
ruộng lại ưu tư, bút tra, khoá mở…

T.X.A.
trước 20:50, 09-02-2018 HB18

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2003148839959057

Bài 23
TẾT VUI TÌNH CỜ
Trần Xuân An

nàng ước xinh nhỏ nhánh mai
chụm chân, dang tay, mở cánh
đứng nghiêm, chàng làm đòn bánh
gộp nhau thành Tết, để cười!

bạn có tin không, một thời
Tết, chỉ hình dung ra Tết
dăm tuổi rơi đâu không biết
vì không bánh tét cành mai

hoá ra đơn giản vậy thôi
Tết là gì mà tính tuổi?
bánh tét thơm, mai tươi rói
từ điển nàng giống của tôi

định nghĩa đó do đất trời
và do lưu dân mở cõi
bánh tét đường dài không đói
cây mai Đàng Trong – hoa khôi

(phong tục bánh tét cành mai
hướng Nam ngót ngàn năm ấy
muốn ôm chầm rồi quỳ lạy
lịch sử lưu dân là đây!)

bây giờ có cả chậu mai
bánh tét xếp chồng quá ngọn
ta rủ nhau cười thật lớn
cười ví von thuở khổ dài.

T.X.A.
14:20, 12-02-2018
(27 tháng chạp, áp Tết)

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2003985916542016

Bài 24
VUI VUI NHỚ VỀ CỬA HIỂN NHƠN
Trần Xuân An

~~ thân tặng nhà thơ Nguyễn Văn Hùng
(sống và viết tại Vinh) với bài thơ “Tự bạch” của bạn ~~

chó thân thương đã trở nên linh vật
sen Hiển Nhơn, hương lay lòng đá đen
nơi quán cóc, có nhiều đôi mắt ngóng
cung thành trường, tranh, nhạc, dáng ai quen

quán cóc góc đường sinh viên nghệ sĩ
mộng ngang tầm vũ trụ trống đồng xưa
còn nghê đá khi đã nên linh vật
chỉ trung thành, không trung thực, gió lùa!

thi sĩ bạn ta, Tết này, trăn trở
gác cửa triều đình, dự báo trời mưa
trăn trở, khiến vật thường thành linh vật
nữa là nhà thơ, mắt thấu sau xưa

cóc ngồi trống đồng, chó ngồi đỉnh trụ
Hiển Nhơn ơi, nhớ quán cóc, tượng nghê
sinh viên khổ tâm, nhạc, tranh bất hủ
nữa là Nguyễn Du, mặc cảm tái tê (1)

quan tận trung thơ, chết đang tại chức
trung hiếu nào buộc trung hiếu Nguyễn Du
cóc nhạy nỗi đời, chó trung sự thật
lương tâm, lương tri đều được xoá mù

cửa Hiển Nhơn, dấu chân thi hào mất
mỗi bước, nở bèo hai bến sông Gianh (2)
quán cóc mất luôn, chỉ còn nghê đá?
cóc, bèo vào tác phẩm mãi lưu danh.

T.X.A.
trước 15:05, 18-2-2018
(Mùng 3 Tết Mậu Tuất HB18)
………….

(1) Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, tham tụng (tể tướng Phủ chúa Trịnh, tương đương thủ tướng hiện nay). Trong hai năm 1774-1775, ông từng thân chinh cầm quân đánh đuổi chúa Nguyễn và hoàng thân, trong đó có Nguyễn Ánh, chạy khỏi thành Phú Xuân (Huế). Về sau, Nguyễn Du lại làm tham tri (thứ trưởng) triều Nguyễn Ánh (Gia Long).

(2) CHÓ, CÓC, BÈO
TRÊN MỘT BÌNH DIỆN CAO QUÝ
Trần Xuân An

Trong bài “Vui vui nhớ về cửa Hiển Nhơn” *, tôi có sử dụng hình ảnh bèo (lục bình) mà Nguyễn Du đã dùng đến 15 lần (ứng với 15 năm bạc mệnh của nhân vật chính) trong Truyện Kiều để biểu đạt thân phận lưu lạc, hèn mọn. Tôi nghĩ bèo tuy thế, nhưng vẫn tươi xanh và nở hoa đẹp cho đời, đặc biệt là ít khi cô độc, mà thường nối kết với nhau (kết bè, lập thành “giề/dề” với nghĩa tốt). Đồng thời, tôi vận dụng luôn hình ảnh trong sự tích Đức Phật đản sinh, mặc dù ai cũng biết bèo không thể bằng sen, để viết “mỗi bước, nở bèo hai bến sông Gianh” nhằm thể hiện thân phận mà Nguyễn Du tự nghĩ về bản thân ông: thân phận lưu lạc, “mười năm gió bụi”, “thợ săn núi Hồng”, trôi giạt vào giới quan chức triều Nguyễn. Điều quan trọng trong bài thơ, ấy là tôi đã đặt 3 biểu tượng CHÓ, CÓC và BÈO trên một bình diện thân phận hoặc bình diện đặc tính tiêu biểu. Ở khía cạnh thứ ba này, tôi cũng liên hệ đến cóc trên trống đồng, chó thành nghê linh vật trên trụ cổng cao, bèo trong tâm thức Nguyễn Du. Đó là sự tôn vinh. Có đặc tính nào cao cho bằng khả năng cảm ứng với trời, mẫn cảm với nỗi đời; địa vị nào sang trọng cho bằng ngồi trên trống đồng! CÓC đó! Ngồi trên trụ cổng cao, cao hơn cả bàn thờ vua, thành hoàng, nhân thần, nhờ đức tính vừa trung thành vừa trung thực, có ai đáng kính nể hơn! CHÓ (NGHÊ) đó! Không có gì cao quý hơn được làm biểu tượng của đại thi hào dân tộc! BÈO đó!

T.X.A.
26-02-2018 HB18

Bị chú:

Cóc trên trống đồng, biểu tượng sáng chói nhất của văn minh Việt Nam. Thời cổ, trống đồng là biểu tượng quyền uy, đoàn kết. Đến đời Trần, vua quan đều tham dự tế lễ tại đền Đồng Cổ (trống đồng).

Nên phân biệt ba khái niệm: “Thơ con cóc”, “con cóc” (bình thường), “con cóc trống đồng” (linh vật). 1) Thơ con cóc: theo dân gian, bài thơ viết về con cóc, trong truyện tếu, thuộc loại thơ dở. 2) Con cóc bình thường, cũng theo dân gian, là “Cậu ông Trời”, vì có khả năng báo trước trời chuyển mưa, tâu trình với Trời về tình hình khô hạn để Trời cho mưa xuống. 3) Con cóc linh vật trên trống đồng là thiêng hoá khả năng dự báo mưa, cảm ứng với Trời, đồng thời thể hiện nguyên lí âm dương, phồn thực…

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2007325576208050

Bài 25
THƠ HẬU CHIẾN CỦA NGUYỄN DU
Trần Xuân An

không ngợi ca bên nào, sầu luỹ tuyến
lá vàng bay hay kim tiền huân chương?
lặng xót cốt tàn vùi hoang vu cỏ (1)
ông làm quan, vì sông Gianh – vết thương

nếu Miền Nam này, tỉnh huyện đều thế
làm tân triều, giúp dân cũ, như ông
sau chéo ngoại xâm, vơi đau nội chiến…
Bắc đừng xâm thực! … Hàn Quốc ngại không? (1)

tứ thơ Tết bỗng vượt mười thế hệ
bay lên vĩ tuyến ba tám xa xôi
Nguyễn Du viết thật, nay không dám thật
Bến Hải đau bao thuở, mấy chân trời?

Tết Mậu Thân, tự hào khơi oán hận
kỉ niệm nghiêng Bắc là giết Nam thêm
thảm sát lí lịch vạn lần hơn thế
triệu Nam Nguyễn Du, Bến Hải êm đềm

Tết Mậu Thân, trong nội chiến, chống Mỹ
cũng chiến tranh ý hệ, chống Xô – Trung
Vàng, Đỏ tự hào lẫn buồn cốt nhục
nếu lệch một bên, oán hận nổ bùng

đau xót, tìm Nguyễn Du, tôi đọc lại
ước triệu người Nam: Nguyễn Du tân triều
nội chiến buồn. Chống ngoại xâm hai Khối
Đỏ cũ, Vàng xưa đều Trương Hán Siêu (2)

mạng là ảo, tự hào, oán hận ảo?
Tết Mậu Thân, kỉ niệm, mạng thật không?
thơ Nguyễn Du xa hơn hai thế kỉ
nỗi niềm Gianh, mong Bến Hải dịu lòng.

T.X.A.
06:11-07:40, 21-02-2018
(mùng 6 Tết Mậu Tuất HB18)
…………..

(1) Xem bài “Độ Linh giang” của Nguyễn Du:
https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2008372956103312
(2) Trương Hán Siêu với “Bạch Đằng giang phú”.

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2008554089418532

Bài 26
VĨ THANH TẾT
Trần Xuân An

vừa chống chéo ngoại xâm hai Khối
vừa rơi vào nội chiến hai miền
vừa bi hùng lại vừa bi thảm
Tết Mậu Thân, kỉ niệm sao nghiêng?

T.X.A.
Mùng 7 Tết Mậu Tuất HB18
(22-02-2018)

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2009485569325384

Bài 27
HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ KHU GIỚI TUYẾN
Trần Xuân An

“luỹ cũ ba quân bay lá úa
xương tàn trăm trận vùi lau xanh”
*
hàng rào điện tử, bom dày hố
thơ Nguyễn nhắc hoài thuở ngợp tranh

thơ buồn Nhật Lệ ngâm Ba Dốc *
dựng giáo Xiêm thì dựng mác Thanh
hai Khối cũng đều phơi nhãn súng
qua sông Bến Hải hay sông Gianh?

từ nội chiến, cầu xin giặc ngoại
khác xua giặc, dựa giặc tranh giành
luỹ tre, rào điện, thơ đều thấu
đều nội chiến buồn, nội chiến hành!

thơ phía hàng căm như độc dược
thơ hăng máu thắng hẳn nghe tanh
ngoại xâm thuở đóng trong đầu óc
hậu chiến buồn cho vết hận lành

hoà giải phải vin thơ Nguyễn cổ
chất người, nay Bắc, Nam, hiềm ganh?
cũng rào luỹ thủ, sông chia cắt
“hai gọng kìm” đều gãy, tan tành

xung lực Tây Sơn tan đối cực
thế thời vẫn thấm Quang Trung nhanh
Nguyễn Du đứng giữa nâng bèo giạt
Nguyễn Ánh khoan dung thơ chí thành

thời chúng ta, ai cấm nổi mạng!
thế gian, bay khắp, vẫn cam đành
thua tiền nhân đến hai mươi kỉ
thẳng bút công bằng sao quẩn quanh!

T.X.A.
trưa Mùng 8 Tết Mậu Tuất HB18
(23-02-2018)

(*) “Qua sông Gianh” (Nguyễn Du, 1765-1820), ngoài việc đề cập đến sông Gianh, còn đề cập đến Luỹ Thầy ở lưu vực sông Nhật Lệ (Quảng Bình). Ba Dốc (Quảng Trị) là nơi hàng rào điện tử McNamara giăng ngang qua.

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2008554089418532
https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2012104202396854

Bài 28
VĂN HỌC SỬ,
BIỂN TÊN ĐƯỜNG
Trần Xuân An

khi không gặp lại Nguyễn Du
nhớ đường, biển dựng bia ngu trung nào:
Lý Trần Quán tự chôn sao! *
thà như Phạm Thái thét gào thầm khuya
Nguyễn Công Trứ ruột như bìa
bút vung, lấn biển, gươm lia thói đời
tru di Cao Bá Quát rồi
may con cháu sót ngâm lời “nguỵ thư”
kính chào Nguyễn Khuyến giả mù
khóc Dương Khuê, tự cười bù Tú Xương
khi không đi mấy con đường
sau Quang Trung, sau ngôi trường đổi tên
hai Đàng nhất thống, sáng lên
Nguyễn Du ở giữa mấy bên, bằng tài?
hay bằng tâm? hay vì ai?
sáng nào lướt phố, phố dài trăm năm
.
mắt nhìn toàn cảnh thăng trầm
biển nghìn đường mới, thiếu, lầm, bỏ ai?
có ai thờ giặc nước ngoài
trong thời này, đường tương lai, tên ngời?
và tôi cũng tự mỉm cười
ngẫm văn học sử, nên người, phải không?
sông Gianh, chia nước một sông
văn chương mấy nẻo khác lòng còn kia
một thời Bến Hải chẻ lìa
văn chương mấy ngả còn kia khác lòng
ai thờ giặc nước ngoài không?
xe ra khỏi phố, bao vòng sóng lan
lòng và sông đã mênh mang
Tôn Thọ Tường nguỵ biện càng xoáy nhơ
ngân lan chuông vọng chùa thờ
về Cần Giuộc, nhớ Cụ Đồ Chiểu xưa.

T.X.A.
06:21-10:30, 27-02-2018 HB18
…………

(*) Từ xưa đến nay, sách báo đã nhận định Lý Trần Quán là ngu trung, nhưng cũng có một ít người cùng thời với ông cho rằng ông là người có lòng trung tuyệt đối. Tại Sài Gòn, trước 1975 vẫn có đường mang tên Lý Trần Quán; và sau 1975, không rõ năm nào, tên đường thành Thạch Thị Thanh. Từ khoá Google: “ngu trung”, “Lý Trần Quán”.

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2012170125723595

Bài 29
SAU HAI NGÀY
NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN ĐÔNG QUA ĐỜI
Trần Xuân An

không biết cây đàn ngân trong im lặng
trước căn nhà ấy, tôi vạn lần đi ngang
mấy mươi năm nhạc nhiều nơi, chỉ còn trên mạng
ông mất đi, hiểu ra ông chỉ là cây đàn vàng

cảm thông sách lược cheo leo bên vực nhơ phản quốc
thiếu thời vào lính Pháp, hướng ra vua
rồi đồng minh với Mỹ và hơn nửa nhân loại
chống Xô, Trung nửa đời, nửa đời níu Đất nước ngàn xưa

đất nước và thế giới này một thời đã vậy
đâu riêng gì cây đàn kia, khẩu súng ngày xưa
đỏ chiến thắng rồi hội tụ vàng, chung đau biển đảo
phút ông mất, hẳn mừng nước non hoà thuận nắng mưa

và tôi nhớ hoài Hà Thanh truyền cảm hát
chưa có giọng ca nào lay động, ngấm sâu hơn
ông tiếc nuối chăng, bốn mươi năm lơi tay nhạc
chỉ hát mươi bài, Hà Thanh còn nặng ơn

rồi mọi người sẽ quen đi, như quen mai vàng, đào đỏ
sông Bến Hải rồi như sông Gianh thôi
ai thờ giặc ngoại xâm, lịch sử chép
khi ông mất, thoáng cười trên môi?

T.X.A.
07:13-09:20, 28-02-2018

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2012662425674365

Bài 30
THẲNG MÃI
Trần Xuân An

thời tấm bé
suy tư theo đường thẳng
thuở trưởng thành
thấy mọi con đường đều gấp gãy, cong queo
đường lịch sử rẽ ngã ba, chui hầm tối
càng khuất khúc, cheo leo

hai bên đều bảo không còn đường nào khác
con đường nào cũng dựa giặc
vì giáo gươm lạc hậu, khoai lúa khốn nghèo

người cuối cùng thắng hiểu người cuối cùng bại
độc lập bây giờ tự mình, sao còn lo ngại
sao còn giặc ngự não teo!

lịch sử gấp gãy, vòng vèo
chỉ ý chí độc lập chúng ta thẳng mãi

bốn nghìn năm
đánh giặc xâm lăng không dựa dẫm nước ngoài
chỉ cuộc chiến hai Khối cuồng ngoại
khiến Đất nước giằng xé hoài

bốn nghìn năm suy tư theo đường thẳng
ba mươi năm, ngoắt ngoéo
luồn lách hai đường bắn nhau, đánh chéo
(hai bên chống hai phía ngoại xâm)
hoá dài
lạ mặt nhau, lầm lẫn
bất ngờ, đến đích độc lập, vẫn loay hoay
bao người đau xót, đắng cay

bốn nghìn năm
đánh đuổi ngoại xâm không dựa dẫm ngoại cường
dân tộc chúng ta suy tư theo đường thẳng mực
kẻ nào mặc quân phục Pháp là giặc Pháp
ai treo cờ Xô-viết là giặc Liên Xô
kẻ nào đeo gươm Nhật là giặc Nhật
ai tôn thờ Mao là tay sai của giặc Trung Quốc tay sai
kẻ nào cầm súng Mỹ là giặc Mỹ
rõ ràng, rạch ròi xưa nay
đường thẳng tư duy vạch rõ
nhưng con đường Chiến tranh Lạnh đối đầu ý hệ
trượt ngoài nếp gấp tư duy bốn nghìn năm
đến chung cục, đậy nắp quan tài mới hiểu
(ngoại trừ thập giá chực sẵn, đặt trên xác lặng câm)

Đất nước khổ đau, giẫy giụa, bi tráng, khóc thầm
chia phe, đánh chéo hai Khối ngoại xâm

bốn nghìn năm suy tư theo đường thẳng
ba mươi năm, đường lịch sử khuất khúc, cong queo
bao dấu hỏi còn treo
trong bóng mờ hiểu lầm

người thắng cứ giữ thắng
nhưng ngọn cờ độc lập thật, không mượn vay
chiêu hồn nước, cờ mới, tung bay
không chỉ cho chúng ta
cho nghìn sau, rạng rỡ
không còn di căn nô lệ nước non này.

T.X.A.
sáng 03-03-2018 HB18

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2014381428835798

Bài 31
ĐỀU DÍNH VẾT NHƠ
THỜI THUỘC ĐỊA
Trần Xuân An

thời khởi nghĩa bị dìm trong máu
những chàng trai tìm học ở thực dân
học làm bồi, thơ tình, khố xanh, lính thợ
rồi bước ngoặt lịch sử, nếu không, chí tàn!

ở Đông Quan, mười năm, Nguyễn Trãi
Người làm chi? Học giặc? Đợi thời cơ?
thời thuộc Pháp, hẳn cũng nhiều Nguyễn Trãi
đành nhẫn nhục để giành lại cơ đồ

đều học giặc Pháp, rồi kẻ vàng, người đỏ
người theo Nga, kẻ về Việt, khôn nguôi
quãng rất dài trước Cách mạng Tháng Tám
nhật thực đời, sấm sét Đỏ xé trời

tướng tá vàng xuất thân từ lính Pháp
cùng Mỹ, giúp vua: Quân đội Quốc gia
ai yêu nước thương dân, ai xa hoa, nhũng nhiễu
lính ước chính danh quân chủ cộng hoà

đỏ hay vàng đều mang vết nhơ thuộc địa
thuộc địa là vũng bùn, tranh ngói đều bùn
rồi có người thành núi, bi hùng toả lửa
có kẻ mãi hoá giun! Đừng xéo lắm phận giun

một đường khổ nhục mưa bùn, chia hai hướng
đương đầu hai Khối. Bỗng đường hội tụ một đường
rồi hai phía già, chết theo thời hậu chiến
trẻ nhận ra, cùng chung một sức sống cội nguồn.

T.X.A.
trước 17:30, 04-03-2018

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2015061572101117

Bài 32
TỪ NAY,
TÔI TÍNH TUỔI TÔI CÁCH KHÁC
Trần Xuân An

như mai, hoa còn nở
dù đã qua nguyên tiêu
vâng, đang mười tám tuổi
đến ba mươi còn yêu

(từ một đến mười lăm
kính đất trời, cha mẹ
học yêu ba tuổi kế
tương tư em lặng thầm)

tôi tính tuổi bằng ngày
một năm mười hai kiếp
trăm năm, xanh tha thiết
tóc tôi, ngàn kiếp xanh

đừng hỏi tôi cuộc chiến
hơn năm trăm kiếp rồi
(bốn ba năm thiên hạ)
với tôi, xin xa xôi

vâng, đang mười tám tuổi
ba mươi tuổi, tái sinh
tính tuổi khác mọi lịch
để yêu, quên chiến chinh!

bốn năm chữ thập đỏ
dịu vết thương Hiền Lương
nay cách tính tuổi khác
yêu cho quên máu xương

đừng khinh tôi, đời hỡi
nay như Tiền chiến thôi *
yêu đương như thuốc lú
một yêu, nghìn luân hồi.

T.X.A.
trước 21:02, 05-03-2018 HB18
(18 tháng Giêng, Mậu Tuất HB18)

(*) Văn chương Tiền chiến: 1930-1945.

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2015715835369024

Bài 33
TẶNG NHÀ NHIẾP ẢNH TÊN LÀ BIỂN CẢ
Trần Xuân An

tặng anh Trần Bá Đại Dương (Biển Cả)

cha mạ sinh ra em thuở mới lọt lòng
thiên nhiên sinh ra em từ bộng đá rừng chùa Huế
anh chàng ấy – biển cả – trước mặt em đó hỉ
nhưng không phải biển cả đâu mà bát ngát tâm hồn.

T.X.A.
chiều 09-3-2018

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2017879371819337

Bài 34
KÍNH TẶNG ĐẠO DIỄN ĐIỆN ẢNH LÊ VĂN DUY
Trần Xuân An

người đàn ông có đôi môi mãi mười tám tuổi
bảy mươi, trời cho vẫn đỏ như son
nhưng chỉ có một nàng thơ biết rõ
anh bao giờ cũng thắm nụ hôn.

T.X.A.
chiều 13-03-2018 HB18

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2020520644888543

Bài 35
HOÀNG SA, GẠC MA VÀ NHÀ ĐẤT
Trần Xuân An

Trung Quốc vẫn chiến tranh biển người
chiếm Biển Đông, trong bờ mua đất
Việt Nam biểu tình, sưu tầm, điêu khắc
làm đủ điều, nhưng giặc vẫn tràn lan!

phố phường bàn tán có lẽ kẻ gian
cho chúng mua đất liền, xây thêm đảo
Trung Quốc tràn ngập rồi, không phải ảo
chiến tranh biển người này, liệu còn Việt Nam?

gió từ mạng thổi vào chiều hoang mang?
ở đâu “kẻ lạ” không thể mua bằng tiền bạc?
chẳng lẽ sai mắt nhìn, báo loé sai sự thật?
giấu bưng, khi biết mất Gạc Ma, muộn rồi!

nội chiến thời chống chéo hai Phe, nước chia đôi
đảo mất, và đảo mất thêm, khi Phe Đỏ rã
Trung Quốc xây tàu sân bay, lại mua rừng, phố xá
hòng tràn ngập biển người! Nước ta không thể muộn hơn!

trước tiên và sau cùng là gìn giữ nước non
yêu nước thương dân là nhìn thẳng vào sự thật
ta giành lại từng li biển đảo, từng phân rừng đất
chiến tranh biển người quật ngược, đế chế mới tan hoang!

T.X.A.
tối 13-3-2018
tưởng nhớ 14-3-1988

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2020310431576231

Bài 36
CHỮ VÀ NƯỚC MẮT THÀNH ĐẠN TỬ HÌNH
Trần Xuân An

trong những hàng cây xanh đẹp tươi
cũng có cây làm nên tội ác
do gió giông, do không chống nổi loài sâu
cành đè, người xe tan xác

nhưng con người có bộ óc, trái tim, văn hoá nghìn năm
lại thảm sát, xưa sau còn rợn lạnh
William Calley, báo chí Mỹ với đạn chữ vạn lần
tử hình y, nhiều hơn số đạn y đã bắn

William Calley và dăm gã lính Hàn
sa vào chiến tranh nhân dân, ác cá biệt bùng lên man rợ
nước mắt bao người Hàn, người Mỹ ăn năn thay
cũng là đạn tử hình đám tội nhân kia, muôn thuở

nhân loại vẫn yêu dân chủ, vì không thể không công khai
án bởi cây xanh, cũng điều tra người, quy trách
xin tôn vinh thành liệt sĩ bao nạn nhân như Mỹ Lai
bị buộc phải rơi vào trận, khi quê nhà thành trận mạc

những mái tranh xác xơ, những manh áo mặn mùi bùn đất
thành hầm mật, công sự du kích, Giải phóng quân
trẻ thơ, goá phụ, cụ già, giữa hai làn đạn
những William Calley độc ác cũng phải đầu hàng.

T.X.A.
14:32 – 17:15, 17-03-2018 HB18

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2022788934661714

Bài 37
CÂU HỎI KHÔNG CÓ TRONG SỬ HỌC?
Trần Xuân An

chiến tranh, dấu hỏi móc néo vào kí ức
có chiến tranh nào không đổ máu cụ già, trẻ thơ?
trận địa chiến thời cổ đại, quân hai phía
không trà trộn vào làng thôn, phố thị bao giờ?

quân lẫn vào dân, dân thành lá chắn sống
khai báo, bên này xử; lặng im, bên kia bắt lao tù
chiến tranh là tàn bạo
chỉ ngọn cờ nào chính nghĩa thôi ư?

pháo kích, thảm sát
ném bom, mìn nổ xe đò
đều dân chết!
cũng là quy luật gươm giáo cổ sơ?

chiến tranh, có toà án binh xử tội nhân thảm sát
có lễ đài tôn vinh cao cả anh hùng
vẫn thê thảm những phố làng thành chiến địa
bao cái chết thường dân rơi vào im lặng mịt mùng.

T.X.A.
14:12 – 15:15, 18-03-2018 HB18

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2023300067943934

Bài 38
KHÔNG BIẾT LẦN MẤY
NGHĨ VỀ CHỮ QUỐC NGỮ ABC
Trần Xuân An

thuở đứng trước bảng đen phấn trắng
nói với học trò về chữ quốc ngữ ABC
nhắc đến các cố đạo Bồ và De Rhodes
liên tưởng Yersin với Đà Lạt! Họ vì ai, xưa kia?

sử ghi tên họ, đâu hẳn ân, nhưng nặng oán
chữ quốc ngữ ABC là những khẩu súng tây
Pháp bắn vào dân tộc ta! Thôi xưa rồi, quên thù hận
chỉ nhớ ơn những Cao Thắng rèn chữ quốc ngữ này.

T.X.A.
06:14 – 08:10, 19-03-2018 HB18

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2023718917902049

Bài 39
VỚI TÔI, LỤC BÁT
Trần Xuân An

khi nỗi xen niềm, ngổn ngang
điệu ru lục bát dịu dàng ru tôi

hiểu hồn đất nước mình rồi
nghìn câu cũng trọn như đôi câu tròn

nghe lòng lắng lại, trong hơn
sôi sục nóng, đông đá giòn, đã thôi

tôi sơ sinh hé đôi môi
bú dòng lục bát bầu trời ấm nghiêng

lục bát như râu tóc tiên
hồn tôi như bụt không phiền luỵ chi

nỗi chen niềm, xáo động gì
tôi làm lục bát lắng đi lòng mình.

T.X.A.
13:43 – 15:20, 19-03-2018 HB18

https: //www. facebook .com/tranxuanan.writer/posts/2023839964556611

Bài 40
ĐỀN HÙNG Ở VƯỜN NON NƯỚC – TP.HCM.,
NHỚ BUỔI SÁNG TIỄN BA TÔI, 1982
Trần Xuân An

dâng hương, trước chuyến đi xa
người rời Tổ quốc bay qua biển buồn
đất này thành đất cội nguồn
vẫn Vua Hùng ngự miếu đường Hùng vương

xoá thời Pháp dựng súng cuồng
Sài Gòn thu gọn một vườn nước non
bảo tàng lịch sử vàng son
bốn ngàn năm đó, cháu con trước Ngài

dâng hương, nước mắt chảy dài
như lưu đày tận nước ngoài xa xăm
người rời Tổ quốc, khóc thầm
chuyến bay, chim Hạc hướng tâm bay vòng!

người đi, quyến luyến núi sông
nơi đoàn tụ lại là không nước mình!
bình yên, từ độ hoà bình
bay rời nước, lòng trùng trình, ngấm đau

ba cây nhang thắp trên đầu
một Quốc Tổ, một xưa sau, một người
tôi thầm vái sống cha tôi
xin Vua Hùng, xin giống nòi, chung nhang

vườn nước non, sâu bảo tàng
thiêng Đền Hùng, mặn nắng vàng sáng kia
ba mươi sáu năm xa lìa…
chưa về thăm kịp, mộ bia dựng rồi

sẽ thành đất của nước tôi
đời tôi, cha dặn, trọn đời Việt Nam
vườn non nước bốn ngàn năm
trao khai sinh gốc, khóc thầm cha đi

cha đi, không lao cải gì
một mai trắng nở, vô vi tận hồn
cha mừng đời mới cho con
Đền Hùng vẫn giữa Sài Gòn nghiêm tên.

T.X.A.
06:23 – 09:47, 19-03-2018 HB18

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2024221404518467

DANH MỤC TÁC PHẨM CỦA TRẦN XUÂN AN

I. Thơ

1. Nắng và mưa, tập thơ, Hội VHNT. Quảng Trị xuất bản, 1991.
2. Hát chiêu hồn mình, tập thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.
3. Tôi vẫn ở trên đường, tập thơ, Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 1993.
4. Lặng lẽ ở phố, tập thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
5. Kẻ bị ném vào bão, tập thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
6. Hát với đời ơi thương mến, tập thơ, Nxb. Trẻ, 1996.
7. Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 1998.
8. Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, tập thơ, Tạp chí điện tử Giao Điểm, 2005.
9. Thơ những mùa hương, tập thơ, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2011.
10. Tưởng niệm Mẹ, tập thơ tự tuyển, Nxb. Thanh Niên, 2010.
11. Thơ sử và những bài thơ khác, tập thơ, Nxb. Thanh Niên, 2011.
12. Hát mộc với biển đảo & những bài thơ khác, tập thơ, Nxb. Thanh Niên, 2012.
13. Mở lòng bàn tay để đan tay, tập thơ, Nxb. Trẻ, 2014.
14. Để lòng người thôi trầm uất, tập thơ, công bố tại Facebook & Tạp chí điện tử Chim Việt Cành Nam, 2014.
15. Cầu Ý Hệ, tập thơ, công bố tại Facebook & các điểm mạng của tác giả, 2016.
16. Tuổi nhớ, tập thơ, Nxb. Văn hoá – Văn nghệ, 2016.
17. Độc lập thật, khát vọng!, tập thơ, công bố tại Facebook & các điểm mạng của tác giả, 2017
18. Chiếc cầu Chiến Tranh Lạnh, tập thơ, công bố tại Facebook & các điểm mạng của tác giả, 2017
19. Bốn năm Chữ Thập Đỏ, tập thơ, công bố tại Facebook & các điểm mạng của tác giả, 3-2018

II. Tiểu thuyết, truyện kí:

20. Mùa hè bên sông (Nỗi đau hậu chiến), tiểu thuyết, 1997; hai bản đã sửa chữa và bổ sung, 2001 (lần hai) và 2003 (lần ba), Tạp chí điện tử Giao Điểm tháng 6-2005.
21. Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.
22. Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003.
23. Sen đỏ, bài thơ hoà bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003.
24. Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn liên hoàn, 1999, Tạp chí điện tử Giao Điểm, 2005.
25. Tuổi học trò của tôi, hồi kí – tự truyện, Nxb. Hội Nhà văn, 2012.
26. Bên kia dốc “Mạ ơi!”, truyện vừa – hồi ức, Nxb. Hội Nhà văn, 2012.
27. Giữa thuở chuyển mùa, truyện – hồi ức, Nxb. Trẻ, 2013.
28. Sáng đều hai nửa gương mặt – truyện vừa (gồm 6 truyện ngắn), Facebook & các điểm mạng vi tính toàn cầu, 2016

III. Nghiên cứu, khảo luận:

29. Thơ Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000 & 2003, Nxb. Thanh Niên, 2008.
30. Tiểu sử biên niên phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa thực dân Pháp (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001, Nxb. Thanh Niên, 9-2006.
31. Những trang “Đại Nam thực lục” về phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp…(Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001.
32. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), một người trung nghĩa, khảo luận và phê bình sử học, 2002 & 2003, Nxb. Thanh Niên, 9-2006.
33. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2004.
34. Suy nghĩ về một số vấn đề trong lịch sử cổ đại nước ta, khảo luận, 7.2004, đăng trên mạng vi tính toàn cầu, 2005.
35. Bàn thêm về mấy vấn nạn sử học, luận, đăng trên mạng vi tính toàn cầu, 2007.

IV. Phê bình & bình luận:

36. Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2005.
37. Luận về thời chúng ta, một số vấn đề trong chiến tranh và hậu chiến, luận, đăng trên mạng vi tính toàn cầu, 2005.
38. Thời sự văn hoá và suy nghĩ, luận, đăng trên mạng vi tính toàn cầu, 2008.
39. Đọc văn chương và cảm nghĩ, phê bình, viết ngắn & điểm sách, Nxb. Thanh Niên, 2009.
40. Vì văn chương, bình – khảo và phiếm luận, luận, đăng trên mạng vi tính toàn cầu, 2010.
41. Ngẫm nghĩ khi đọc văn chương, phê bình, đăng trên các trang thông tin điện tử & điểm mạng toàn cầu, 2011.

.

MỤC LỤC

Bài 1 ~ NÉT TOÀN DÂN NGÀY TẾT
Bài 2 ~ TẾT THIÊN NHIÊN
Bài 3 ~ NGÀY TRỞ LẠNH, SÀI GÒN NHẮC TẾT
Bài 4 ~ THÁNG RỘ BÔNG
Bài 5 ~ CHẠP MẢ, HỚT TÓC, ĐÓN TUỔI MỚI
Bài 6 ~ LÁ BÚT KHẮC, ĐOÁ MAI NGỌC
Bài 7 ~ VẤN QUYỆN VÀO NHAU
Bài 8 ~ NHỚ THÀNH PHỐ TRÊN TRỜI CAO
Bài 9 ~ GIÁNG SINH, TRONG TÂM NGƯỜI CÁI NHÌN MỚI
Bài 10 ~ CHÚA GIÊ-SU, NGƯỜI YÊU NƯỚC
Bài 11 ~ LỊCH NĂM MỚI
Bài 12 ~ HẠNH PHÚC CUỐI TUẦN
Bài 13 ~ TẾT TÂY NHOÈ BÔNG
Bài 14 ~ KINH THÁNH VIỆT NAM
Bài 15 ~ YÊU NHAU, NGUYỆN CẦU,
TƯỞNG NIỆM VỚI CHÂN LÍ
Bài 16 ~ CHỮ KHÔNG PHẢI BÁNH
Bài 17 ~ SẸO VÔ TÌNH
Bài 18 ~ HUẾ BA LẦN LẪN MÁU TRỘN XƯƠNG
Bài 19 ~ TRÁI BANH BỊ VỠ
Bài 20 ~ KHÓC, NHÌN VỀ PHÍA NỘI CHIẾN
Bài 21 ~ NHẮC TẾT MẬU THÂN, LIÊN TƯỞNG THÀNH CỔ
Bài 22 ~ HUẾ KHOAN DUNG, LẮNG TRONG OÁN HẬN
Bài 23 ~ TẾT VUI TÌNH CỜ
Bài 24 ~ VUI VUI NHỚ VỀ CỬA HIỂN NHƠN
Bài 25 ~ THƠ HẬU CHIẾN CỦA NGUYỄN DU
Bài 26 ~ VĨ THANH TẾT
Bài 27 ~ HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ KHU GIỚI TUYẾN
Bài 28 ~ VĂN HỌC SỬ, BIỂN TÊN ĐƯỜNG
Bài 29 ~ SAU HAI NGÀY NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN ĐÔNG
QUA ĐỜI
Bài 30 ~ THẲNG MÃI
Bài 31 ~ ĐỀU DÍNH VẾT NHƠ THỜI THUỘC ĐỊA
Bài 32 ~ TỪ NAY, TÔI TÍNH TUỔI TÔI CÁCH KHÁC
Bài 33 ~ TẶNG NHÀ NHIẾP ẢNH TÊN LÀ BIỂN CẢ
Bài 34 ~ KÍNH TẶNG ĐẠO DIỄN ĐIỆN ẢNH LÊ VĂN DUY
Bài 35 ~ HOÀNG SA, GẠC MA VÀ NHÀ ĐẤT
Bài 36 ~ CHỮ VÀ NƯỚC MẮT THÀNH ĐẠN TỬ HÌNH
Bài 37 ~ CÂU HỎI KHÔNG CÓ TRONG SỬ HỌC?
Bài 38 ~ KHÔNG BIẾT LẦN MẤY NGHĨ
VỀ CHỮ QUỐC NGỮ ABC
Bài 39 ~ VỚI TÔI, LỤC BÁT
Bài 40 ~ ĐỀN HÙNG Ở VƯỜN NON NƯỚC – TP.HCM.,
NHỚ BUỔI SÁNG TIỄN BA TÔI, 1982
~~~ Danh mục tác phẩm của tác giả Trần Xuân An
.
TRÂN TRỌNG MỜI XEM
Bốn đầu sách có tính chất tự truyện của tác giả:

1) Tuổi học trò của tôi
(hồi kí – tự truyện, 2012), Nxb. Hội Nhà văn, 2012
Tác giả tự thuật về bản thân
qua việc khắc hoạ nhân vật Trần Nguyễn Phan

2) Ngôi trường tháng giêng
(tiểu thuyết – hồi ức, 1998), Nxb. Thanh Niên, 2003
Tác giả tự phân thân, khắc họa bản thân
qua việc xây dựng ba nhân vật Đặng Nam, Khoai,
Lộc Biếc

3) Bên kia Dốc “Mạ ơi!”
(truyện – hồi ức, 2012), Nxb. Hội Nhà văn, 2012
Tác giả tự khắc họa bản thân
qua việc xây dựng nhân vật Phan Huyên Đình

4) Giữa thuở chuyển mùa
(truyện – hồi ức, 2013), Nxb. Trẻ, 2013
Tác giả tự khắc họa bản thân
qua việc xây dựng nhân vật Nguyễn Phan Huyên

TRÂN TRỌNG MỜI XEM
Sáu đầu sách có chuyên đề hoà giải dân tộc:

1) Để lòng người thôi trầm uất, tập thơ, công bố tại Facebook & Tạp chí điện tử Chim Việt Cành Nam, 2014.
2) Cầu Ý Hệ, tập thơ, công bố tại Facebook & các điểm mạng toàn cầu của tác giả, 2016.
3) Sáng đều hai nửa gương mặt, truyện vừa (gồm 6 truyện ngắn), công bố tại Facebook & các điểm mạng toàn cầu của tác giả, 2016.
4) Độc lập thật, khát vọng!, tập thơ, công bố tại Facebook & các điểm mạng toàn cầu của tác giả, 2016.
5) Chiếc cầu Chiến Tranh Lạnh, tập thơ, công bố tại Facebook & các điểm mạng toàn cầu của tác giả, 2017.
6) Bốn năm Chữ Thập Đỏ, tập thơ, công bố tại Facebook & các điểm mạng toàn cầu của tác giả, 3-2018.

Đặc biệt,
đây là 6 đầu sách,
tác giả đứng trên lập trường
thuần tuý dân tộc Việt Nam
để suy tư và viết
(và vui lòng xem thêm lời ngỏ ngắn đầu tập thơ này).

.
NHÀ XUẤT BẢN

Chịu trách nhiệm xuất bản:

Giám đốc – Tổng biên tập

Chịu trách nhiệm nội dung:
Phó Giám đốc – Phó Tổng biên tập

Biên tập & sửa bản in:

Vẽ bìa, trình bày & kĨ thuật vi tính:

Bìa 1: Tranh bìa của tác giả:
Cầu Hiền Lương & Chữ thập đỏ, Trăng liềm đỏ, Pha lê đỏ

Đơn vị liên kết: Tác giả.

Khổ 14,5 cm x 20,5 cm.
Số ĐKKH:
Quyết định xuất bản số:
ngày tháng năm
In 500 cuốn, tại XN. In
In xong và nộp lưu chiểu tháng năm .

Phần gấp bìa 1: Một số ảnh chụp các bìa sách đã xuất bản của Trần Xuân An:

.

Bìa 4:

ẢNH CHÂN DUNG TÁC GIẢ
(do nhiếp ảnh gia Lê Văn Duy chụp, 2-2018)

.
VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ

Trần Xuân An
Sinh ngày 10-11-1956 tại Huế.
Nguyên quán: Quảng Trị (Gio Linh và Triệu Phong)
Dân tộc: Kinh (Việt Nam)
Tín ngưỡng Tổ tiên (Quốc Tổ, Gia Tiên) và Trời Bụt dân gian.
Tốt nghiệp khoa ngữ văn Việt, Đại học Sư phạm Huế (1974 – 1978).
Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 – 1983 (các trường: PTCS. Lộc Ngãi, Bảo Lộc; Phân hiệu PTTH. Bảo Lộc tại Đa Huoai; PTTH. Đức Trọng).
Bút danh (ít dùng): Phan Huyên Đình, Trần Cát Niên (Phan Cát Niên), Trần Nguyễn Phan, Phan Kết Đoàn, Trần Ngôn Sử, Nguyễn Công Dân (TXA.), Nguyễn Phan Huyên.
Từ 1991 đến nay, thường trú tại TP. HCM., chuyên sáng tác, nghiên cứu, phê bình…
Hội viên Hội Nhà văn TP. HCM..
Là tác giả của 40 đầu sách và 01 sưu tập tư liệu, trong đó có 25 đầu sách đã được chính thức ấn hành qua các nhà xuất bản.

Tặng thưởng tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng, 1975.
Giải thưởng Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.
.
Phần gấp bìa 4:
.
GÓP MẶT VÀO CÁC TUYỂN TẬP THƠ:

Riêng về lĩnh vực thơ, ngoài việc đăng thơ trên nhiều báo chí từ 1973, còn có sự góp mặt vào nhiều tuyển tập thơ:
1. Thơ Miền Trung thế kỷ XX (Ban tuyển chọn, Nxb. Đà Nẵng, 1995).
2. Hai thập kỷ thơ Huế, 1975 – 1995 (Ban tuyển chọn, Nxb. Văn Học, 1995).
3. Non Mai sông Hãn, thơ văn Quảng Trị hai thế kỉ XIX & XX (Hội VHNT. tuyển chọn, Sở VHTT. QT. xb.,1999).
4. 700 năm thơ Huế (Ban tuyển chọn, Nxb. Thuận Hóa, 2008).
5. Thơ tình bốn phương (Thái Doãn Hiểu – Hoàng Liên tuyển chọn, Nxb. Trẻ, 1995).
6. Thơ tình Việt Nam và thế giới (Lê Hùng Trương [Khai Trí] tuyển chọn, Nxb. Thanh Niên,1998).
7. Nghìn năm tứ tuyệt (Thái Doãn Hiểu – Hoàng Liên tuyển chọn, Nxb. VHDT., 1997).
8. Một thế kỷ văn học yêu nước, cách mạng (Ban tuyển chọn, Nxb. Văn hoá – Văn nghệ TP.HCM., 2016)
9. và nhiều tuyển thơ khác, từ 1975 đến nay, do các hội văn nghệ tỉnh, Hội Nhà văn TP.HCM. và các nhà xuất bản ấn hành tại Lâm Đồng, Huế, Đồng Nai, TP.HCM., Hà Nội v.v…

Địa chỉ tác giả:
71B Phạm Văn Hai,
Phường 3, Tân Bình, TP.HCM., Việt Nam
(028) 38453955 & 0908 803 908
tranxuanan.writer@gmail.com

Điểm mạng toàn cầu cá nhân:
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.tranxuanan-poet.net
http://www.tranxuanan-bienkhao.name.vn
https://txawriter.wordpress.com
http://youtube.com/user/AnTranXuan
https://facebook.com/tranxuanan.writer
.
& một số ảnh bìa sách của Trần Xuân An đã xuất bản
.
Tác giả tự tập hợp lại thành tập thơ
và công bố, phát hành trên Facebook,
các điểm mạng toàn cầu cá nhân:
09-03-2018 (HB18)
& bổ sung 8 bài thơ, 20-03-2018 HB18
.
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG

.
ĐÃ CÔNG BỐ LẦN LƯỢT THEO NGÀY VIẾT TỪNG BÀI
VÀ CẢ TẬP TẠI FACEBOOK,
MỘT SỐ BÀI TRÊN TRANG THÔNG TIN HỘI NHÀ VĂN TP.HCM.,
CÁC BÁO, TẠP CHÍ, TẬP SAN IN GIẤY…
.
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2018339685106639
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »

Thư của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường về Tết Mậu Thân 1968

Posted by Trần Xuân An trên 11.02.2018

hidden hit counter

 
.
LỜI CUỐI CHO CÂU CHUYỆN QUÁ BUỒN

Hoàng Phủ Ngọc Tường

https://txawriter.files.wordpress.com/2018/02/hoang-phu-ngoc-tuong.jpg?w=400

(Ảnh chân dung nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Tôi đọc cho con gái chép một bài viết nhỏ này xin gửi tới bà con bạn bè thương mến, những ai yêu mến, quen biết và quan tâm đến tôi. Còn những kẻ luôn đem tôi ra làm mồi nhậu cho dã tâm của họ như ông Liên Thành và bè đảng của ông ta, tôi không muốn mất thời giờ đối đáp với họ. Dĩ nhiên bài viết này không dành cho họ.

Năm nay tôi 81 tuổi, và tôi biết, còn chẳng mấy hồi nữa phải về trời. Những gì tôi đã viết, đã nói, đã làm rồi trời đất sẽ chứng nhận. Dầu có nói thêm bao nhiêu cũng không đủ. Tốt nhất là im lặng bằng tâm về cõi Phật. Duy nhất có một điều nếu không nói ra tôi sẽ không yên tâm nhắm mắt. Ấy là câu chuyện Mậu thân 1968. Vậy xin thưa:

1. Mậu Thân 1968 tôi không về Huế. Tôi, ts Lê Văn Hảo và bà Tùng Chi (những người lên chiến khu trước) được giao nhiệm vụ ở lại trạm chỉ huy tiền phương – địa đạo Khe Trái (thuộc huyện Hương Trà – tỉnh Thừa Thiên) – để đón các vị trong Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế như Hoà thượng Thích Đôn Hậu, cụ Nguyễn Đoá, ông Tôn Thất Dương Tiềm… lên chiến khu. Mồng 4 tết tôi được ông Lê Minh (Bí thư Trị – Thiên) báo chuẩn bị sẵn sàng về Huế. Nhưng sau đó ông Lê Minh báo là “tình hình phức tạp” không về được. Chuyện là thế. Tôi đã trả lời ở RFI, Hợp Lưu, Báo Tiền Phong chủ nhật… khá đầy đủ. Xin không nói thêm gì nữa.

2. Sai lầm của tôi là nhận lời ông Burchett và đoàn làm phim “Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình” trả lời phỏng vấn với tư cách một nhân chứng Mậu thân Huế 1968, trong khi tôi là kẻ ngoài cuộc.

Tôi xác nhận đây là link clip tung lên mạng là bản gốc cuộc phỏng vấn:

https :// www. youtube. com/watch?v=MaNr16RDrzQ

Để chứng tỏ mình là người trong cuộc, tôi đã dùng ngôi thứ nhất – “tôi”, “chúng tôi” – khi kể một vài chuyện ở Huế mậu thân 68. Đó là những chuyện anh em tham gia chiến dịch kể lại cho tôi, tôi đã vơ vào làm như là chuyện do tôi chứng kiến. Đặc biệt, khi kể chuyện máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viên nhỏ ở Đông Ba chết 200 người, tôi đã nói: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu … Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra…”. Chi tiết đó không sai, sai ở chỗ người chứng kiến chi tiết đó không phải là tôi, mà là tôi nghe những người bạn kể lại. Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi.

Cũng trong cuộc trả lời phỏng vấn này, khi nói về thảm sát Huế tôi đã hăng hái bảo vệ cách mạng, đổ tội cho Mỹ. Đó là năm 1981, khi còn hăng say cách mạng, tôi đã nghĩ đúng như vậy. Chỉ vài năm sau tôi đã nhận ra sai lầm của mình. Đó là sự nguỵ biện. Không thể lấy tội ác của Mỹ để che đậy những sai lầm đã xảy ra ở Mậu thân 1968.

Tôi đã nói rồi, nay xin nhắc lại:

Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.

3. Từ hai sai lầm nói trên tôi đã tự rước hoạ cho mình, tự tôi đã đánh mất niềm tin yêu của nhiều người dân Huế đối với tôi, tạo điều kiện cho nhiều kẻ chống cộng cực đoan vu khống và qui kết tôi như một tội phạm chiến tranh.

Tôi xin thành thật nhìn nhận về hai sai lầm nói trên, xin ngàn lần xin lỗi.

Sài Gòn, ngày 1 tháng 2 năm 2018
(ký tên)
Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Nguồn:
https://www.facebook.com/notes/nguyễn-quang-lập/lời-cuối-cho-một-câu-chuyện-quá-buồn/306426446548435

.
https://txawriter.files.wordpress.com/2018/02/hoang-phu-ngoc-tuong_thu-ve-mau-than_page-1.jpg

.

https://txawriter.files.wordpress.com/2018/02/hoang-phu-ngoc-tuong_thu-ve-mau-than_page-2_11-02hb18.jpg

.
TRÂN TRỌNG MỜI ĐỌC THÊM:
Trần Xuân An – Ngẫu hứng đọc thơ – Đọc thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường

.
ĐỌC THƠ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Trần Xuân An

1

Trước Ngày Thống nhất (1975), những năm còn là học sinh trung học rồi sinh viên đại học, mặc dù ở thị xã Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng hay cố đô Huế, thỉnh thoảng tôi vẫn được nghe lén thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường qua Đài Phát thanh Giải phóng. Cùng với một số trí thức, văn nghệ sĩ Miền Nam thuở bấy giờ đang đấu tranh ở nội thành hoặc đã thoát li lên chiến khu, ra Miền Bắc, thường được Đài giới thiệu, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một gương mặt thơ ca tôi chỉ nghe chứ chưa được thấy bao giờ. Chẳng qua, thời anh trực diện đấu tranh ở Huế, tôi vẫn còn quá bé (lại ở tận trong Nam bộ). Năm tôi lên mười (1966), đang ở Quảng Trị, nhà giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường đã “lên xanh” cầm súng chiến đấu.

Sau Ngày Thống nhất (1975) khoảng mươi tháng, bấy giờ tôi đã có thơ đăng trên tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng (*), nên khá mạnh dạn đến 26 Lê Lợi, cơ quan của Hội Liên hiệp Văn học – nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, ghé vào, gửi một chùm thơ 09 bài. Cũng không nhớ rõ, một hoặc hai tháng sau gì đó, lúc Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên đã thành lập, tôi nhận được giấy mời đến để trao đổi về biên tập.

Sau khi gặp nhà thơ Xuân Hoàng, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, tôi mới được chuyện trò đôi câu với nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có lẽ đêm trước bận thức khuya để viết, sáng hôm ấy anh đến muộn. Đó là lần đầu tiên tôi gặp anh. Sau khi tôi chào các anh để về, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường còn giữ tôi lại, cho địa chỉ, bảo tôi đến nhà anh chuyện trò cho vui. Tôi không ngờ một người có dáng vẻ nghiêm nghị, bấy giờ còn có chút nào khắc khổ nữa, lại cởi mở và dễ thân tình đến vậy.

Từ đó đến nay, gần ba mươi năm, thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp gặp anh, khi hội họp, khi đi thực tế do Hội Văn nghệ tổ chức (1976 – 1978), khi gặp gỡ chuyện vãn. Nhiều lần, không chỉ trà lá, mà còn bia rượu nữa, lúc ở nhà riêng của anh và chị Lâm Thị Mỹ Dạ, lúc ở quán xá. Nhưng điều đáng nói nhất, đó là lời anh động viên, khuyến khích tôi sáng tác, giới thiệu thơ tôi trên tạp chí Văn Nghệ Bình Trị Thiên, Sông Hương, và sau này, tạp chí Cửa Việt. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là người đề tựa, cùng nhà văn Xuân Đức cấp giấy phép cho tập thơ đầu tay của tôi (1991).

Bây giờ, tôi lại thử đọc thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, đọc trong những hồi ức về những gì có thể gọi là kỉ niệm ấy. Ấn tượng trong tôi lâu nay về anh, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức Miền Nam tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ và là một nhà văn có làm thơ, trong đó có thơ yêu đương, thơ tâm trạng riêng. Nhưng qua hai tập thơ được tuyển chọn lại, cùng một số bài được anh sáng tác sau hai tập ấy, trong Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường (tập 4) (1), tôi có cảm giác vừa hụt hẫng về mặt này, vừa tràn trề về mặt kia.

2

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết về anh trong những cuộc rượu: “Mỗi lúc như vậy, giá có cái máy ghi âm, chép ra chắc sẽ có hàng nghìn trang sách sinh động với một giọng văn hấp dẫn đặc biệt. Điều ấy chứng tỏ rằng, tri thức cuộc đời và sự nghiền ngẫm nội tâm trong anh là vô cùng phong phú. Những bài tuỳ bút anh viết ra mới chỉ là cái phần bề nổi của chính anh mà thôi” (2). Anh Nguyễn Trọng Tạo còn cho rằng: “Phải chăng Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng làm thơ bằng máu của mình, làm thơ như “viết di chúc để mà chết”…”, sau khi đã khẳng định “nhà thơ như nghe thấy được tiếng nói của chính mình từ thế giới bên kia vọng lại, và thế là hai thế giới âm dương cùng hoà quyện vào nhau” (2). Ở bài viết ấy, Nguyễn Trọng Tạo chỉ nhận định về tập thơ thứ hai của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Người đi hái phù dung (1995).

Thú thật, tôi không có cái may mắn như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, được nghe thấy “phần bề sâu” của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, mặc dù cũng có dăm ba lần bia rượu với anh. Anh Nguyễn Trọng Tạo không nói gì đến mảng thơ kháng chiến chống Mỹ của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Các anh Hồ Thế Hà, Ngô Minh cũng thế. Chỉ có nhà thơ Thanh Thảo lướt qua mảng này, và khẳng định bài thơ tiêu biểu nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường về đề tài chống Mỹ là Tôi đi trên những con đường rừng cũ (1971 [?]), nhưng rồi cũng xoáy sâu về mảng Người đi hái phù dung.

Tôi hơi ngạc nhiên về sự thể đó.

Theo ấn tượng chủ quan của riêng tôi về Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh có nhiều, rất nhiều tâm trạng, bao nỗi suy tư về cuộc kháng chiến chống Mỹ mà anh trực tiếp tham gia. Từ 1963, anh đã đấu tranh ở nội thành. Sau đó 03 năm (1966), anh thoát li “lên xanh” hẳn, cho đến Ngày Thống nhất (1975), anh mới về lại Huế.

Thật ra, sau gần 30 năm thống nhất Đất nước, đến lúc này, cũng cần nói cho công bằng: Số lượng trí thức Miền Nam như anh (tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, bảo vệ thành công luận văn cử nhân triết học tại Đại học Văn khoa Huế, giáo sư trung học Quốc Học Huế), tham gia kháng chiến chống Mỹ không phải là nhiều, và lại là nhà văn, nhà thơ nữa, thì càng quá hiếm quý. Do đó, với cái nhìn chủ quan có tính trực giác về anh, tôi nghĩ mảng thơ Người đi hái phù dung kia, phần lớn cũng chỉ là hệ quả của bao tâm trạng, bao nỗi suy tư trong quãng đời kháng chiến, nhất là thời hậu chiến mà thôi. Hiểu một cách nào đó, Người đi hái phù dung vừa là phần bề sâu của tâm tư anh thời trẻ mà anh đã từng gạt qua, phủ định nó để lên chiến khu, nay anh phục hồi và thăng hoá lại nó, nhưng đồng thời cũng chỉ là “bề nổi của tảng băng chìm” (theo lối nói của Ernest Hemmingway), mà phần chìm của tảng băng ấy chính là tâm trạng, suy tư trong thời kháng chiến chống Mỹ, và về sau, những lúc ngẫm nghĩ lại thời kháng chiến ấy, nhưng chủ yếu vẫn là về thời hậu chiến. Nói rõ ra, ở giai đoạn hoà bình về sau, có lẽ anh không thể nói bằng ngôn ngữ trực tiếp, bộc trực, không thể “nói thẳng, nói thật” về thời kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là về hiện thực xã hội hậu chiến, nên chỉ biết lặng lẽ buồn. Ngay việc bị hạn chế tự do ngôn luận, tự do sáng tác đã là nỗi buồn quá lớn! Nhưng anh cũng chỉ đòi cho được mỗi một “quyền được buồn”. Hoàng Phủ Ngọc Tường tự đề từ: “Mỗi người chỉ thực là chính mình trong căn nhà của nó. Thơ cũng vậy. Thơ cần phải trở về căn-nhà-ở-đời của nó là nỗi buồn. Một quyền của thi sĩ là quyền được buồn” (3).

Không kể do nguyên nhân thể chất như bệnh tật, suy nhược hầu như không có ở Hoàng Phủ Ngọc Tường (anh bị bệnh sau khi đã tái bản Người đi hái phù dung), thực chất của trạng thái tâm lí buồn với các cấp độ, sắc thái của nó (buồn bực, buồn bã, buồn đau…) chung quy là hệ quả tâm lí của con người nói chung và cũng của riêng anh, trước thực tại bất như ý, sự đổ vỡ của niềm tin, lí tưởng, hi vọng, ước muốn… Có thể khái quát thành 03 dạng buồn: buồn về mình, hoàn cảnh riêng tư; buồn về kiếp người nói chung; và buồn về hiện thực kháng chiến – xã hội hậu chiến. Nói gọn hơn: buồn riêng tư, buồn kiếp người và buồn đời.

“Quyền được buồn” có một thời gian khá dài, bị cấm ngặt, chỉ trừ một số nét buồn bi tráng. Bởi lẽ, buồn là uỷ mị, là làm giảm sút tinh thần chiến đấu. Buồn bị quy vào phương diện thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa của bản thân ai đó đã “có vấn đề”, và cũng bị quy vào phương diện “bôi đen chế độ” (!), “chống đối chế độ” (!). Nói theo cách nói của cán bộ tuyên truyền, “cách mạng là ngày hội của quần chúng”, không có lí do gì để buồn! Thật là “tả” khuynh quá đáng, suy diễn và quy chụp đến mức đáng sợ! Từ một tiên đề không sai, người ta lại suy diễn ra những hệ luận chỉ với mục đích thiển cận và nhằm trói buộc những người sáng tạo!

Do đó, cần nói thẳng, nói thật thêm một điều, “quyền được buồn” còn là quyền được cân bằng tâm lí bình thường của con người và của văn chương, sau một thời gian dài xã hội đã vui, phải vui, vui thật cũng có, vui giả cũng khá phổ biến.

Ở nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, qua 02 tập thơ của anh, cho dù chia làm hai mảng khác nhau, thơ kháng chiến chống Mỹ và thơ yêu đương, tâm trạng riêng, vẫn có một mối tương quan nhất định và dĩ nhiên.

3

Những dấu chân qua thành phố

Để tìm ra được chân dung tâm hồn, con người sâu thẳm đích thực của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, phải bắt đầu từ tập thơ này.

Năm 1963, phong trào Phật giáo trước đó và ở thời điểm đó dâng cao hào khí bi tráng, chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Bấy giờ, nhà giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường mới 26 tuổi. Năm anh 28 tuổi (1965), Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng, tôi chỉ là thằng bé lên chín, từ Quảng Trị vào Huế chơi, nào biết anh là ai trong đoàn biểu tình, chỉ thấy biểu ngữ nâng cao, bàn thờ Phật “xuống đường”, trầm hương nghi ngút và chuông mõ vang lên khắp các đường phố Huế để chống Thiệu – Kỳ (4). Suốt 03 năm “tham gia phong trào yêu nước của sinh viên học sinh và trí thức Huế với tư cách tổng thư kí Tổng Hội Sinh viên Huế” (5) (1963 – 1964) và đơn thuần là một giáo sư trung học đệ nhị cấp tại Trường Quốc Học (1964 – 1966), Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn đang là một trí thức trẻ xấp xỉ tuổi ba mươi. Rất tiếc là thơ anh không có bài nào trực tiếp ghi nhận những thao thức, trăn trở, những dấn thân hào hùng của anh, bạn bè anh và nhân dân Huế trong thời đoạn lịch sử ấy. Điều đó, chỉ được anh hồi ức lại trong 05 năm về sau. Có thể đọc thấy qua một bút kí anh viết về anh và Trịnh Công Sơn (6). Nhưng cố nhiên đó không phải là thơ. Riêng Năm năm ta đi, cũng được viết vào năm 1971:

“… Chắc bây giờ trên những lối đi xưa / Dấu giày ta đã đọng vết rêu mờ / Đã ngủ yên dưới hàng cây im lặng / Bước ta đi giữa ngày tháng ưu tư // Khi ta nhớ, hương sầu đông đầy ngõ / Khi ta yêu, phượng thắm dấu môi son / Thù hận chín giữa phố hè lửa đỏ / Tình yêu ta cùng mọc giữa căm hờn // Chào những bầy hoa ngũ sắc ven đường / Cười sặc sỡ bên khung trời thơ ấu / Chào giã từ con cầu trắng đêm sương / Ta đi qua giữa tâm hồn giông bão // Thành phố tắm đời ta trong sắc biếc / Nên cỏ hoa mang đầy dấu tâm hồn / Máu đã viết nên nghìn trang sử đẹp / Nuôi đời ta khôn lớn giữa đời dân…” (7).

Hoàng Phủ Ngọc Tường bấy giờ không thể không trải qua những “ngày tháng ưu tư”, “thù hận” Diệm, Cẩn – Thiệu, Kỳ và đế quốc Mỹ trong “lửa đỏ” phố thị, đồng thời “tình yêu” Đất nước dâng lên với ngọn triều “căm hờn” của dòng sông Hương vốn phẳng lặng. Với “tâm hồn giông bão”, người trí thức trẻ ấy đã thực sự dấn bước trên con đường lịch sử của một phân số nhân dân hướng về Mặt trận Giải phóng và một phân số khác, đông đảo hơn, quyết tâm “cách mạng quốc gia”, đơn thuần là cách mạng dân tộc, dân chủ và dân sinh, không thuộc đảng phái nào. Tuy khác chính kiến, nhưng tất cả đều cùng tuần hành chung dưới rừng cờ biểu ngữ.

“… Lời đất nước giương trùng trùng biểu ngữ / Người đi lên, tóc lộng nắng như cờ / Đường áo trắng hôm nay thành sông lửa / Nổi đuốc thiêng nhìn rõ mặt quân thù…” (7).

Hiện thực được phản ánh khá chân thực. Tuy nhiên, phải thấy rằng không một dòng nào anh nhắc đến phong trào đấu tranh Phật giáo. Nếu đọc kĩ, ta cũng chỉ phân vân hỏi rằng, phải chăng đây là câu thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường phản ánh một cách hết sức mơ hồ về những toán lính ngụy đang lái xe Dodge, GMC. đi “hốt” những bàn thờ Phật “xuống đường” đấu tranh chống chính quyền Thiên Chúa giáo do Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu (4) ?

“Không thể mặc cho loài bán nước / Vung bàn tay cướp đoạt những thiêng liêng” (7).

Phải chăng một trong những lí do nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, giáo sư triết học Trường Trung học Quốc Học Huế, đã lên chiến chu chống Mỹ chính là để bảo vệ Phật giáo trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền Thiên Chúa giáo Diệm – Thiệu?

Dẫu xuất phát từ nguyên cớ trực tiếp là Phật giáo bị đàn áp hay nguyên nhân cơ bản là khát vọng độc lập, trong không khí đấu tranh có thật đó, chàng tuổi trẻ trí thức Hoàng Phủ Ngọc Tường đã quyết tâm lên chiến khu. Ngày lên đường, ở trên “xanh”, anh chỉ có thể nhìn ngắm khắp cả Tổ quốc bằng cái nhìn của tâm hồn và ước vọng thống nhất. Hành trang (8) mang theo của anh có gì?

“Tôi trèo lên đỉnh Trường Sơn / Nhìn thấy quê hương nguyên hình chữ S / Thấy con sông Hồng đỏ máu ra khơi / Thấy mũi Cà Mau nhọn vút chân trời // Đêm giã từ thành phố / Ánh đèn ngoại ô / Hành trang cũ: / Niềm kiêu hãnh lâu đời / Và nắm cơm gian khổ chuyền tay / Từ những chuyến đi xưa còn mãi đến hôm nay”.

(Huế, ngày lên đường, 05. 1966)

Hoàng Phủ Ngọc Tường quyết tâm nối tiếp công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của bao thế hệ trước, qua suốt bốn nghìn năm lịch sử. Bài thơ còn vẽ nên một dáng đứng tuổi trẻ hào hùng trong mạch sử thi truyền thống.

Chính với ước vọng thống nhất, Hoàng Phủ Ngọc Tường khắc hoạ hình tượng người lên đường, cầm súng, qua những câu đối thoại giữa người thầy giáo với học trò về bản đồ Việt Nam chỉ còn một nửa, trong một tiết học địa lí. Và chính sử kí đã thôi thúc nhà giáo ấy lên chiến khu như Nguyễn Trãi ngày xưa. Niềm thôi thúc ấy càng rõ hơn khi cuộc đối thoại xoáy vào một vấn đề lưu cữu (thù hận lương – giáo, thực chất là giữa người Việt yêu nước với giáo dân bị thực dân, đế quốc lợi dụng) suốt cả một trăm mấy mươi năm qua trong Mùa Giáng sinh 1966:

“… Em hỏi thầy: Bom Mỹ / Có giết trẻ con không? Rằng: Làng quê khói lửa / Nào thương Chúa Hài Đồng / Em nhớ bày máng cỏ / Ở trong hầm ca-nông…” (9).

Hành vi rất chính trị đó, cũng không tránh được sự sát hại của lính Mỹ đối với mẹ của người học trò. Điểm đỉnh của câu chuyện bằng thơ đọng và mở ở câu kết, neo vào lòng người đọc: “Đừng hỏi nữa em ơi! / Thầy lên đường đánh Mỹ”. Phải trả lời cho thế hệ học trò bằng hành động lên đường, cầm súng! Bài Câu hỏi có thể được quần chúng nhân dân nhớ lâu, nhớ sâu bởi các chi tiết tinh lọc và vần, chứ không phải bằng ngôn ngữ thơ. Khác với nhà thơ liệt sĩ Ngô Kha (cũng là giáo sư trung học như anh), mặc dù hai người là bạn rất thân, Hoàng Phủ Ngọc Tường từ độ mới lên chiến khu ấy, đã cố gắng vứt bỏ hết những ngôn từ bay bướm, tinh tế, giàu hình ảnh với sự chạm trổ, khảm giát lóng lánh một cách đài các, cầu kì, khó hiểu trong thơ.

Chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tự biểu hiện chính mình qua hình tượng người thầy giáo sử địa ấy.

Hoá ra, qua bài Câu hỏi và bài Hành trang, ta thấy sự chọn lựa con đường đấu tranh, việc lên chiến khu rừng thẳm đầy gian khổ của anh quá đỗi đơn giản và anh dễ dàng thích nghi đến thế. Tôi không thể tin như vậy. Nhưng tôi tin chắc một điều, có một thời kì, vì trách nhiệm trước người đọc và vì yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, nhà thơ cần phải “lột xác” thật nhanh, phải giấu đi những trăn trở về tư tưởng, những thử thách của bao khó khăn gian khổ. Chính Trần Độ, về sau, khoảng năm 1976, cũng bảo thế trong một cuộc họp mặt người viết ở 26 Lê Lợi, Huế: Trí thức đã trăn trở, “lột xác” từ 1945 hoặc từ 1954 kia, chứ không đợi đến những năm sau này; cho nên, chỉ có lao vào cách mạng chứ không trăn trở, thao thức “chọn đường” gì nữa! Phải chăng từ mười năm trước tư tưởng chỉ đạo đã thế, nên thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường khuyết đi những mảng rất lớn. Hầu như sau Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên (1960), rất ít bài thơ trăn trở, thao thức “chọn đường” được đăng tải. Thậm chí, có thể bị khiển trách, bị làm kiểm điểm nếu còn trăn trở, thao thức “chọn đường”! Do đó, tôi rất ngạc nhiên nhưng lại hiểu ra ngay, sao mảng thơ “lên đường” này của Hoàng Phủ Ngọc Tường lại sơ lược đến thế. Tâm hồn anh, tư tưởng anh không thể “sơ lược” như vậy.

Có lẽ phải ngẫm nghĩ lại, ngẫm nghĩ sâu hơn về ý thức lịch sử của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong quá trình bản thân anh đã dấn thân, tham gia vào công cuộc chống chính quyền Thiên Chúa giáo của Diệm – Thiệu và đế quốc Mỹ. Tôi thấy đây là một trong những trọng điểm trong niềm thao thức, trong quyết tâm của anh. Ở bài Những dấu chân qua thành phố (10), anh viết:

“Như thời gian gió cuốn triều dâng / Lịch sử đã qua đây trăm lần / Những người đi sau nối theo người trước / Thành phố này in dấu những bàn chân // Từ những năm xưa đánh Tây giữ nước / Hoả mai nón dấu, súng thần công / Đến bây giờ trên mặt thành cỏ biếc / Đá trăm năm còn tạc dấu chân trần // Nắng vẫn chiếu huy hoàng trên cẩm thạch / Những bàn chân đạp đổ ngai vàng / Đất rung chuyển nhịp chân vệ quốc / Vòm cửa ô, kèn Nam tiến còn vang…”.

Bằng hình tượng dấu chân lịch sử, phải chăng anh đã hình dung lại thành cổ Phú Xuân, nơi Nguyễn Huệ của phong trào Tây Sơn đã đánh tan quân Trịnh để tiến tới thống nhất Tổ quốc? Cũng với hình tượng dấu chân lịch sử ấy, anh cảm nhận lại cuộc kinh đô quật khởi 23 tháng 5 Ất dậu (1885); và anh tiếp tục hình dung, cũng bàn chân lịch sử ấy, vào thời Cách mạng tháng tám (1945), đã đạp đổ ngai vàng, buộc vua bù nhìn Bảo Đại thoái vị.

Rất tiếc là khi viết Tôi đi trên những con đường rừng cũ (11), anh không nhớ lại Tân Sở (Cam Lộ) với tuyến đường thượng đạo Bình Định – Nghệ An – Hưng Hoá, thời Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và phong trào Cần vương.

Ở Trở lại đất Hùng (1975) (12), Hoàng Phủ Ngọc Tường suy nghĩ về tiếng trống đồng (từng khiến sứ giả nhà Nguyên bạc tóc khi nghe), suy nghĩ về 99 ngọn núi Nghĩa Lĩnh (hình tượng đàn voi trăm con; một con voi trong đàn voi ấy đã ngoái đầu ra sau, nên bị chém đầu). Anh lại suy nghĩ về phút giây Nguyễn Trãi cùng người cha là Nguyễn Phi Khanh chia tay nhau ở Lạng Sơn, cột mốc số 0 của bản đồ Đất nước, trong bài Ngọn cỏ làm chứng (13):

“Nơi đây một người con trai lau nước mắt từ biệt cha / Nỗi riêng chung, cỏ hoa làm chứng đến bây giờ / Từ cây số không, bắt đầu những gì ta có / Nên lịch sử mỗi đời người cũng bắt đầu từ đó”.

Và cũng theo mạch sử thi ấy, anh chọn cho mình một chỗ đứng, ngay trên lầu hoàng cung nhà Nguyễn, để Lại nhớ về chiến khu xa thẳm (14), khi Đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất, sau cuộc chiến tranh dài dằng dặc (1858 – 1975), mà trong đó, giai đoạn kháng chiến chỉ kể từ Cách mạng tháng Tám là quãng thời gian chính nhà thơ đã được lớn lên, tham gia chiến đấu.

Cũng từ cảm hứng và ý thức lịch sử, cộng với suy nghĩ về thi sĩ cộng sản người Pháp Paul Éluard, nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết từ năm 1969:

“Pha máu làm mực / Kê lịch sử làm bàn / Trải đời tôi làm giấy / Viết tên Người Việt Nam” (15).

Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ kháng chiến với trái tim một người yêu nước mà còn bằng bộ não của một người cộng sản nơi anh.

Cảm hứng, ý thức lịch sử và ý chí cộng sản chủ nghĩa là trạng thái tinh thần chủ đạo, chung nhất của những nhà thơ Miền Bắc và những nhà thơ Miền Nam tham gia kháng chiến chống Mỹ dưới ngọn cờ của Mặt trận Giải phóng, nhưng ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, có sự nổi trội, đậm đặc hơn.

Cũng không thể không ghi nhận sự thành công và nhất là tấm lòng nhà thơ đối với quê nhà. Hoàng Phủ Ngọc Tường còn viết một chùm thơ về một vùng đất Quảng Trị đã được giải phóng từ 1972. Trong đó, bài thơ Bàn tay trên trán (16) viết về người mẹ Gio Linh có cái tên rất Việt cổ: Mẹ Nậy. Đó là một bài thơ rất cảm động. Cũng là cảm hứng sử thi về Đất nước, nhưng ta còn thấy được tuổi thơ của chính nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường trên đất đai Quảng Trị quê hương bản quán qua những câu thơ rất gần gũi:

“… Như quên đi mình đã lớn nhiều / Với thời gian ồn ào biến động / Con gặp lại trong cơn mê nóng bỏng / Một tuổi thơ chân đất chạy khắp làng / Và cánh đồng xưa nắng chang chang / Lũ chuồn chuồn bay qua những tháng ngày óng ả / Như quên mình đã lớn nhiều / Với đất nước những năm lo nghĩ / Vầng trán con dưới bàn tay mẹ / Lại hiện về giấc ngủ thơ ngây…”.

Cảm hứng – ý thức lịch sử, hay có thể gọi là tình tự dân tộc, quê hương, Đất nước và ý chí kháng chiến, quả thật, đã xuyên thấm toàn bộ tập thơ Những dấu chân qua thành phố của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ở bất kì bài nào, với chủ đề gì, kể cả chùm thơ khi anh viết ở Bắc Kinh (Trung Quốc), Cáclôpherơ (Bungari)…

Về mảng thơ kháng chiến chống chế độ Thiên Chúa giáo Diệm – Thiệu và đế quốc Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất Đất nước của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, nếu từ một góc độ văn học khác để tiếp cận, ta sẽ không thấy một dấu vết bi quan, dao động nào. “Quyền được buồn” đã được nhà thơ giấu kín vì ý thức trách nhiệm.

Ngoài ra, nếu cần thiết phải nói đến lập trường, tâm thế sáng tác trong tương quan với hiện thực chiến tranh chống Mỹ ngụy mà nay đã trở thành lịch sử, thì cũng đã đến lúc, sau 30 năm thống nhất Đất nước. Phải chăng không thể để muộn hơn? Ở một số bài thơ khác, nếu đọc bằng đôi mắt sử học, người ta còn thấy anh miêu tả hiện thực với thái độ địch – ta quá “quyết liệt” bằng thủ pháp cường điệu! Ở đây, tôi không nói đến Diệm – Thiệu và các tổng thống đế quốc Mỹ, tôi chỉ muốn nói đến những người quốc gia, dân tộc chủ nghĩa, yêu nước nhưng không cộng sản, không thể vô thần một cách phi truyền thống. Dẫu sao, nếu nói theo cách của Chế Lan Viên sau này, cũng cần phải “trừ đi”, để nhận thức hiện thực lịch sử về giai đoạn ấy trong thơ ca cho thật đúng đắn, công bằng. Tuy nhiên, như ở một bài viết tôi đã viết, thơ ca không phải là sử kí. Thơ ca không chỉ phản ánh hiện thực bên ngoài mà chủ yếu là tấm gương phản ánh tâm thế nội tâm của nhà thơ trước hiện thực ấy (**). Nhà thơ lại đang trực diện đấu tranh với quân bán nước Diệm, Thiệu và đế quốc Mỹ, vì vậy, tất nhiên trái tim nhà thơ phải sục sôi căm thù, không thể có sự bình tâm cần thiết của nhà sử học. Không thể đòi hỏi nhà thơ phải có cái nhìn hai phía, nhìn từ ta sang địch và ngược lại, nhìn từ địch sang ta, để có nhữngï nhận định khách quan, khoa học. Nếu đòi hỏi như vậy, thế giới này không còn một nhà thơ nào cả! Phải vậy chăng? Tôi tin rằng cuộc đời vốn đa dạng, nhiều vẻ (với cái nhìn bao quát đồng đại), và dân tộc cũng như nhân loại không chỉ tồn tại vài ba thế hệ (với cái nhìn xuyên suốt lịch đại). Vấn đề là hiện thực chiến tranh 130 năm (1858 – 1975 – 1989), đặc biệt là 30 năm (1945 – 1975) khốc liệt nhất, hào hùng nhất ấy, dù thế nào đi nữa, cũng đã và đang hình thành nên một giai đoạn văn học trên toàn cõi Việt Nam nước ta với tính đa dạng, nhiều vẻ của nó. Và hiện thực chiến tranh ấy sẽ mãi mãi còn được vang vọng, tái hiện, tái tạo trong văn học tương lai, như ta và mãi mãi sau này, các thế hệ vẫn còn suy tư, chiêm nghiệm về thời đại vua Hùng; về thuở đánh bại đế quốc Nguyên – Mông; về thời Lê Lợi – Nguyễn Trãi cùng nhân dân viết Bình Ngô đại cáo bằng máu và khát vọng độc lập, tự do; về thời mở đất phương Nam và đau thương chinh chiến do Trịnh – Nguyễn phân tranh, cùng vai trò lịch sử của Quang Trung, Gia Long trong sự nghiệp thống nhất non sông Đàng Trong – Đàng Ngoài… Nhưng cho dẫu nhìn xa, nhìn rộng là vậy, Hoàng Phủ Ngọc Tường và những nhà thơ, nhà văn đồng đội Giải phóng quân của anh vẫn mãi để lại trong văn học sử những gì đã viết, không thế lực nào có thể bôi xoá được, mặc dù trong đó, một số trang viết chỉ còn có giá trị như những tư liệu.

4

Người hái phù dung

Hình như có khá nhiều năm sau Ngày Thống nhất (1975), Hoàng Phủ Ngọc Tường thi thoảng mới làm thơ. Có lẽ hơn mười năm, anh chuyên chú với thể văn bút kí, nhất là sau thành công của Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đặt tên cho dòng sông (1984)… Rất tiếc là ở cuối mỗi bài thơ, không phải bài nào anh cũng ghi ngày tháng năm và nơi sáng tác để có thể xác định, chứ không chỉ là phỏng đoán.

Người hái phù dung là tập thơ tích đọng lại sau hơn 20 năm (1976 – 1997). Ở Tuyển tập, tập 4, gộp vào phần Người hái phù dung, còn một số bài thơ khác, được viết vào năm 2001. Thời điểm muộn nhất là cuối mùa đông năm Tân tị, 25. 12. 2001.

Người hái phù dung, mảng thơ yêu đương và thơ tâm trạng riêng tư (xin được tạm gọi như thế), trước hết là vẻ đẹp chóng tàn của hiện thực cách mạng xã hội ở Đông Âu và Liên Xô. Phải chăng, theo anh, đó cũng là vẻ đẹp mong manh, thoắt thắm thoắt phai của loài hoa phù dung?

Mặc dù tâm trạng trong bài thơ mang tên Bài ngâm “đùa chơi” (17) chỉ có ở anh vào năm 1991, hoặc tâm trạng đó vốn đã có trước (kể từ 1885) nhưng chỉ được anh thể hiện vào năm 1991 ấy, năm có sự kiện Liên Xô sụp đổ, sau khi một loạt nước thuộc hệ thống chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tan hoang. Vài dòng chữ này, tôi viết về anh, cũng chỉ là cảm nhận phỏng đoán trên cơ sở văn bản nghệ thuật là phần thơ thứ hai của anh.

Bài ngâm “đùa chơi”, Hoàng Phủ Ngọc Tường đề tặng Irina Zisman, không thuộc tập thơ Những dấu chân qua thành phố (1976), mà ở tập Người hái phù dung (1995 & 1997). Tự bài thơ đã toả ra hết những cung bậc suy tư, tình cảm trong tâm trạng anh, một trí thức yêu nước đồng thời là một đảng viên cộng sản, cho dẫu anh thuộc vào những người trí thức được kết nạp Đảng rất muộn.

“Đùa thôi nhé, thiên đường mộng ảo / Thế giới vỡ tan ngoài chân mây / Cầm giấc mơ xanh vàng tím đỏ / Ngoảnh lại nhìn nấm mọc đầy tay // Ta đi hết một thời trai trẻ / Tìm thanh gươm nghĩa khí nghìn thu / Đùa thôi nhé sắc cỏ vàng trên mộ / Anh hùng xưa biệt dấu sương mù // Và tất cả những điều đã nói / Bằng con tim máu nóng dâng trào / Cũng đùa thôi, nhớ chi hoài mệt óc / Chuyện nói cười một thuở gian lao // Ta tìm lại hình hài hoá bướm / Chút tự do quả thực trên đời / Rũ sạch hết đam mê hoang tưởng / Núi thông nhiều, ta hãy rong chơi // Chú tiều ơi, chú tiều xưa cổ / Lời du ca lảnh lói gọi ta về / Cuộc phong trần ta may còn hồ rượu / Để cùng người kết bạn sơn khê // Tiều rằng đã từ lâu chẳng dại / Kìa như tranh vân cẩu trên trời / Những tấn kịch thánh thần sa nước mắt / Thế gian này cũng chuyện đùa thôi… // Còn cho ta một trời mây bay / Một vầng trăng soi sáng mặt mày / Mai chú lại lên đồi hái củi / Ta về rừng gối đá ngủ say” (17).

Phải chăng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã cười cợt hết thảy một cách đau xót, buồn bã, trước sự sụp đổ hầu hết các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, ngay cả “thành trì” Liên Xô, và trước tình trạng ở 03 nước rưỡi còn lại, chủ nghĩa xã hội đã chuyển qua kinh tế thị trường trong lộ trình hoà nhập với thế giới tư bản chủ nghĩa? Anh chỉ biết quay về với Lão Trang qua hình tượng chú tiều xưa cổ, tìm lấy tự do cá nhân theo tiêu dao du và tề vật luận trong Nam Hoa kinh, với giấc mộng “không biết Trang hoá bướm hay bướm hoá thành Trang”! Thế giới hiện thực này, đối với anh, cho dù dụi mắt bao lần, anh cũng thấy rõ là y hệt trên trời cao, mây nhẹ như là áo trắng, bỗng chốc hoá thành chó đen, trong thơ Đỗ Phủ (“Thiên thượng phù vân như bạch y / Tu du hốt biến vi thương cẩu”).

Dẫu cho thế cuộc ra sao, người đọc cũng thấy được Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà thơ đã từng dám phản kháng, quyết tâm dấn thân theo sự chọn lựa của mình với ước muốn chất chứa tất cả Đất nước và nhân dân vào trái tim mình, theo một lí tưởng đại đồng bao năm đeo đuổi mà bây giờ anh tự trào là “đam mê hoang tưởng”. Hẳn anh cũng tự nhận thấy thế, khi những câu kết bài thơ gợi ta liên tưởng đến Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi (“Côn Sơn có suối đàn cầm / Mưa tuôn đá sạch ta nằm ta chơi…”):

“… Còn cho ta một trời mây bay / Một vầng trăng soi sáng mặt mày …”.

Dẫu sao, anh cũng không phải rơi vào bi kịch Huyền thoại Sisyphe (1942) của Albert Camus (1913 – 1960): hết lòng hết sức lăn tảng đá lên núi, rồi lại hạnh phúc (!) buông tay, cho tảng đá rơi xuống chân núi, và lại tiếp tục như bi kịch dã tràng, như bi kịch loài người. Huyền thoại Sisyphe được Bùi Giáng phỏng dịch nhan đề là Xe cát biển Đông!

Hình ảnh con dã tràng cũng được Hoàng Phủ Ngọc Tường nhắc đến trong bài Lời ngu ngơ của một gã mù chữ (18). Hình như đó là một bài thơ thể hiện một ước muốn, bằng một thứ ngôn ngữ mới của trái tim anh, anh nhận thức lại thế giới của riêng anh và cả thế giới của loài người, như thể sau một lần hành tinh này lại được tái tạo.

“Và khi thế giới được tái tạo trong ngôn ngữ mới / ta đọc hết nét ngu ngơ trên biển / của con dã tràng tiền sử / mê mải / viết / tên em”.

Điều đó, anh đã chiêm nghiệm, trong bài Gửi cho người (19):

“Tài hoa cũng chuyện đùa chơi / Làm sao thưa hết một lời yêu thương / Anh đi tìm khắp thiên đường / Chỉ còn một đoá vô thường gửi em”.

Nỗi đau “vỡ mộng” ở anh, tôi đoán rằng, không phải đến 1991, mới oà vỡ thành Bài ngâm “đùa chơi”, mà từ lâu rồi, trước đó… Phải chăng đây là những gì anh đã giấu kín trong tập Những dấu chân qua thành phố? Đúng là chùm thơ lục bát có tên chung Đoản khúc ở rừng (20), thể hiện những thoáng buồn rất bình thường trong những tháng ngày đang cầm súng trên Trường Sơn ở các chiến khu Trị – Thiên. Đó là nỗi buồn ngay sau ngày rời Huế lên đường kháng chiến: “Hoa nào nở buổi lâm hành / Con chim nào hát ngày anh lên đường / Đêm đông nghe đổ mưa nguồn / Nghe thời gian xoã sợi buồn xuống vai” (20). Đó là nỗi nhớ về người yêu đã xa, phía dưới miền xuôi phố thị kia: “Xa rồi, em đã như mây / Vùi trong trí nhớ những ngày gấm hương …” (20). Đó là tâm trạng người kháng chiến ở chiến khu nhớ về thuở nồng thơm yêu dấu đã không còn vết tích kỉ niệm trong trí nhớ ai đó: “… Vỗ tay vách đá vọng âm / Nhớ niên hoa, chợt bâng khuâng nụ cười” (20). Nhưng những bài thơ thương nhớ, buồn bã và luyến tiếc bâng khuâng ấy một thời bị “niêm phong” giấu kín, không thể in được trong tập Những dấu chân qua thành phố (1976). Gần đây mới có thể in ở Người đi hái phù dung (1997). Những cảm xúc ấy giả định không có ở người kháng chiến, mà chỉ vui vẻ, hồ hởi thôi, thì mới là máy móc, bất bình thường. Điều đáng chú ý, chính là nỗi đau “vỡ mộng” chăng? Trước hết là thực tế núi rừng gian khổ, đói cơm nhạt muối, sên vắt, sốt rét, tất nhiên không phải là sách vở trong thư viện đại học. Khi đã quen với gian khổ như thư sinh Nguyễn Trãi ngày xưa quen chịu đựng với sơn lam chướng khí, anh lại tự đương đầu với nỗi buồn có chiều sâu nhận thức và “vỡ mộng” chăng? Với sự trải nghiệm, quan sát của bản thân, tôi tin ai cũng có thể chịu đựng được gian khổ, nếu họ có ý chí, nghị lực và khát vọng cao cả. Hoàng Phủ Ngọc Tường có thừa những cái ấy, sao anh vẫn buồn đến thế này?

“Thôi em xa thẳm Trường Sơn / Ngày xưa anh vẫn cô đơn đã thường / Đêm qua nằm nhớ mưa nguồn / Con chim tắt lửa kêu buồn mấy năm // Thôi em ròng rã suối khe / Anh về mắc võng nằm mê đợi người / Đêm qua nhớ lũ đười ươi / Lang thang rũ một trận cười trong mây” (21).

Có bao giờ ta nghe nói đến hay tận mắt chứng kiến “rừng cười” với những cơn dịch cười vô nghĩa lí, kéo dài đến kinh hoàng, sởn gáy? Đó còn là một phủ nhận sự vô nghĩa lí của chiến tranh giữa con người với con người, nước này với nước kia? Và còn gì nữa chứ không chỉ thế…

Điều tôi cảm nhận về Bài ngâm “đùa chơi” phải chăng vốn có cơ sở như thế?

Thôi em cảm tạ chờ mong
Ngày anh đi hái phù dung chưa về
Đêm qua hương đã tàn mê
Mày ai còn dấu trăng thề như in
(21).

Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà thơ suốt một đời đi tìm cái đẹp mong manh và chóng tàn phai? Và ai là người chung thuỷ đợi chờ? Phải chăng lòng chung thuỷ mới vĩnh cửu (trong ý nghĩa tương đối), còn nhan sắc vốn chóng tàn phai? Không phải anh không khát vọng vĩnh cửu. Thực ra, hơn ai hết, anh quá yêu vĩnh cửu và luôn luôn cháy bỏng khát vọng về cái đẹp vĩnh cửu (chẳng hạn như nhan sắc cùng thuỷ chung, mãi mãi không bao giờ héo úa, phản bội). Có điều, sao anh lại buông ra tiếng thốt như lời ngăn, lời khuyên “thôi đừng hoài công” với những giá trị mà nhan sắc cùng thuỷ chung chỉ là một trong những giá trị đó. Bàn tay lao động ư? Tuổi trẻ ngày xanh ư? Con người nhân văn ư? Thôi, chẳng còn gì! Ngay trò chơi, cuộc rượu tình bạn cũng tàn! Trường Sơn kháng chiến ư? Chờ đợi con người lí tưởng đích thực như hoài vọng, như nghinh vọng ư, mặc dù để rồi thất vọng mà thôi, cho dù ý thức hoài vọng, nghinh vọng con người lí tưởng đích thực (21) cũng là một giá trị?

Phải chăng Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn thông qua những hình ảnh cụ thể để nói đến ý niệm phổ quát về cõi sống mong manh, dâu bể (“thương hải biến vi tang điền”; “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”), mà Nguyễn Du gọi là “cõi người ta” này? Cho dù thời gian và vật chất trong ý niệm là vô thuỷ vô chung, vô cùng, vô tận, nhưng ở dạng cụ thể, ngày tháng như vó ngựa câu qua cửa sổ, kiếp người, kiếp hoa chỉ là hạt bụi trong bão gió. Nhưng vĩnh cửu và chóng tàn là hai mặt của một chỉnh thể nhận thức – khát vọng: biết rằng tất cả những gì ta thấy được đều chỉ là phù dung, phù du nhưng làm sao cấm được lòng ta khát khao vĩnh cửu tuyệt đối trên trần gian này!

Rốt lại, thực chất Đêm qua chỉ là một nỗi buồn bầm thẫm, khi chợt đến lúc nỗi buồn ấy đã chín và rụng rơi, như quả táo Newton, nhưng không phải là tình cờ giúp anh phát hiện quy luật vật lí mới, như đã giúp Newton thức ngộ về quy luật trọng lực trong thế giới tự nhiên (vạn vật hấp dẫn đối với quả đất), mà về thế sự, thời cuộc, và lí tưởng vỡ tan trong quy luật âm dương ảo hoá (thiện hoá ác, ác hoá thiện; “quá mù sa mưa”…), quy luật âm dương (thiện, ác; và muôn vạn cặp đối lập cụ thể khác) tương khắc tương sinh và quy luật quân bình âm – dương (như mưa – nắng thuận hoà…). Có lẽ tôi đã đẩy liên tưởng thơ ca và đồng sáng tạo khi đọc thơ đi quá xa!

Đêm qua chỉ là lúc trái “vỡ mộng” chín rụng, vỡ oà.

Người hái phù dung chủ yếu vẫn là một mảng thơ ghi lại những cảm xúc, trầm tư về những chủ đề muôn thuở, khắc khoải nhất của triết học và của tâm thức con người ở mọi nơi, mọi thuở:

– Thời gian
– Kiếp người
– Tình yêu – hạnh phúc
– Cô đơn – khổ đau
– Cái chết
– Tự do
– Hư vô (hay linh hồn, thượng đế) …v.v…

Phải chăng, tất cả những chủ đề triết học của các triết gia cũng là niềm khắc khoải của mọi con người bình thường nhất ấy đã được nhà thơ tư tưởng Hoàng Phủ Ngọc Tường chiêm nghiệm thông qua những khoảnh khắc tái hiện cảm xúc trước hiện thực sinh động, thường ngày, trên ý niệm tất thảy đều là vẻ đẹp mong manh, thoáng chốc, vẻ đẹp có thật mà rất đỗi hư ảo như hoa phù dung?

Bài thơ Dù năm dù tháng (22), tôi được đọc lần đầu tiên trong một tuyển tập thơ nhiều tác giả được xuất bản ở Huế giữa những năm 80 gần đây, dễ chừng cũng hai mươi năm rồi. Ở bài thơ này, có lẽ lần đầu tiên ý niệm mong manh, thoáng chốc, có thật mà hư ảo của biểu tượng hoa phù dung cổ điển xuất hiện trong thơ của tác giả Những dấu chân qua thành phố. Nhưng cụ thể hơn, ở đây là thời gian phù dung. Bài thơ được kết cấu theo dạng trình bày – gút lại. Theo tuần tự, đó là vẻ mong manh, thoáng chốc của một ngày; vẻ mong manh, thoáng chốc của một tháng; vẻ mong manh, thoáng chốc của một năm; rồi vẻ mong manh, thoáng chốc của một đời. Ngày, tháng, năm và cả đời người đều được biểu hiện bằng hai màu trắng và tím (màu mới nở và màu úa tàn) của hoa phù dung. Đoạn kết gút lại ý niệm về tính chất mong manh, thoáng chốc đó bằng cách nâng cao lên ý niệm ấy trong sự đối lập với ý niệm vĩnh cửu. Dù năm dù tháng còn là một bài thơ rất đẹp về ngôn từ, hình ảnh. Dù năm dù tháng được thể hiện trong nhạc điệu lục ngôn, hầu như chủ đạo vẫn là nhịp hai hoặc nhịp hai – bốn, đều đặn, trầm lắng, chỉ hai câu bắt đầu bằng hai từ “nhưng”, “nhưng lòng anh \ vẫn khôn nguôi” và “nhưng trái tim \ mang vĩnh cửu”, là nhịp 3 \ 3, như tiếng thốt nên lời phản đề nhức nhối, da diết. Thực sự có vĩnh cửu chăng? Đó là thời gian vô cùng vô tận? Là sự trường tồn nòi giống, huyết hệ? Là khát vọng về cái đẹp vĩnh hằng trần gian mặc dù đó là ảo vọng (tuy chỉ là ảo vọng nhưng khát vọng về cái đẹp vĩnh hằng trần gian ấy vẫn không bao giờ tàn lụi một khi loài người còn tồn tại)? Là hi vọng về giá trị văn chương vĩnh viễn không bao giờ đổ vỡ? Hay trái tim hữu hạn mang chân lí vĩnh cửu? Dẫu cho với một ý nghĩa nào đó hoặc bao gồm tất cả các ý nghĩa ấy, thì đoạn kết được thể hiện trong sự đối lập ý niệm (mong manh, thoáng chốc – vĩnh cửu, vĩnh hằng) cũng làm cho phù dung càng phù dung hơn, nhưng cái phù dung ấy vẫn là một hạt ngọc của sợi dây chuyền thời gian được xâu kết bằng muôn muôn triệu triệu hạt ngọc.

Phải yêu đời lắm, Hoàng Phủ Ngọc Tường mới buồn như thế về tính chất phù dung của thời gian, đời người…

Và cũng phải yêu nàng thơ (hoặc yêu vợ) lắm, Hoàng Phủ Ngọc Tường mới viết được Nơi tôi gửi bóng (23). Cũng kết cấu trình bày – gút lại như thế, bài Nơi tôi gửi bóng lại đạt được một cái kết bất ngờ. Cách cấu tứ này không phải là mới, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vận dụng một cách tài hoa và nhuần nhị, nhờ vào hình ảnh, ngôn từ và chiều sâu tư duy. Ẩn dụ hình tượng chiếc giếng nước được trình bày đến 06 khổ thơ, đến đoạn kết, bất ngờ bật sáng lên, trở thành hình ảnh nàng thơ (hoặc người vợ). Đây là hai khổ thơ làm nên đoạn kết ấy:

“Có gì đâu xa xôi / Sao mà em bỡ ngỡ / Giếng thẳm sâu đời tôi / Là đời em đó thôi // Giữ hoài cho màu nước / Sáng hoài như lòng tin / Đừng để thấy trong em / Gương mặt tôi tan vỡ”.

Cũng thuộc loại kết cấu trình bày – gút lại như thế, ta còn thấy anh sử dụng ở bài Bốn mùa (24). Xuân, hạ, thu, mỗi mùa đều có một loài hoa biểu trưng nhất theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, đó là bông cỏ dân dã, phượng đỏ thế hệ, cúc vàng nữ sĩ, duy mùa đông, bất ngờ và thú vị thay, khi “hoa vắng nở trên cành / gương mặt em xinh đẹp / làm hoa cho riêng anh?”. Nhưng đối với thơ, đâu chỉ là cách cấu tứ! Tứ thơ mới là điều không thể non kém.

Và điều tôi muốn nói, là Hoàng Phủ Ngọc Tường vốn là một trí thức, một văn nghệ sĩ đã từng nung nấu lí tưởng. Anh tham gia kháng chiến không phải vì nghĩa vụ quân sự bắt buộc hoặc không thể chọn lựa được con đường theo chính kiến mình (giả định chính kiến anh xưa nay không phải là “con đường” Hồ Chí Minh). Từ thành phố Huế, anh lên đường vào chiến khu vì lí tưởng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Có nung nấu khát vọng lí tưởng xã hội chủ nghĩa đến thế nên anh mới “vỡ mộng” đau đớn như thế khi nhìn thấy lí tưởng được thực hiện trong thực tế đáng chán, trì trệ, mất tự do, dân chủ như thế nào, và nhất là khi hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới hầu hết đã sụp đổ, thoái trào đến mức vô phương cứu vãn (?).Chịu đựng cơn đau đớn “vỡ mộng” này chưa nguôi, lại bị số phận giáng cho một nỗi đau riêng tư tức tưởi nhất. Điều này, tôi chỉ có thể đọc thấy trong thơ của anh như một sự phỏng đoán. Phỏng đoán qua thơ? Vâng, chỉ là phỏng đoán. Thơ vốn là thể loại hư cấu nữa! Chỉ tấm lòng anh, nỗi đau anh là thật. Phải chăng đó là sự đổ vỡ trong … chút tình thơ của anh? Một khi đã yêu nàng thơ đến thế (qua ba bài thơ Dù năm dù tháng, Nơi tôi gửi bóngBốn mùa, anh không đề tặng ai), bỗng dưng, tình yêu đương rất thơ đó đổ vỡ ngoài ý muốn của anh, Hoàng Phủ Ngọc Tường rơi vào nỗi buồn bi thảm nhất. Này đây là thơ anh viết, Về chơi với cỏ (25):

“Thưa rằng người đã quên tôi / Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may / Một đường hoang một dấu giày / Một người ngồi một tháng ngày bóng nghiêng // Cảm ơn người trái đào tiên / Tôi về lãng đãng nơi miền cỏ gai / Cỏ gai hoa thắm mặt người / Trinh nữ ơi trinh nữ ơi – tôi buồn / Thôi người ở lại soi gương / Tôi đi về phía con đường cỏ lau / Nợ người một khối u sầu / Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi // Mai kia rồi cũng xa người / Tôi về ngủ dưới khung trời cỏ hoa / Có nàng xoã tóc tiên nga / Quỳ hôn cát bụi khóc oà như mưa”.

Đó là sự ra đi, thoát khỏi nàng thơ cụ thể một cách cao thượng. Không những không oán trách, anh còn cho rằng mình dẫu sao cũng mang nợ. Nợ gì? Phải chăng trót để nàng thơ ấy trĩu một khối u sầu trong trống vắng, khiến nàng thơ không thể cam chịu được nữa, để rồi sau bao ngày tháng anh rong ruổi, lúc quay về, sự đổ vỡ không ngờ đã xảy ra? Mối tình Nàng Trương (Vũ Thị Thiệt) và chiếc bóng trên vách ư? Hay đó là sự thật nhãn tiền đau đớn giữa anh và sự lạt lòng của nàng thơ? Dẫu sao, anh cũng tự trách mình, vẫn gọi nàng thơ ấy là trinh nữ theo quan niệm “chữ trinh kia cũng có dăm bảy đường” của Nguyễn Du (trong ý hướng an ủi của ông)? Cuối cùng, anh vẫn hi vọng một ngày kia rồi anh cũng sẽ chết, nàng thơ ấy trót vì u sầu mà lầm lỡ với ai đó sẽ hối hận, “quỳ hôn cát bụi khóc oà như mưa”?

Tôi thấy hình như Hoàng Phủ Ngọc Tường còn có chất hiệp sĩ, như trong một lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Cửa Việt, anh tự nhận mình chính là “hiệp sĩ mặt buồn”. Phải chăng anh còn là “hiệp sĩ mặt buồn” cao thượng kiểu lãng mạn chủ nghĩa trong sự đổ vỡ chút tình thơ riêng tư này, giữa thời kì tục dụng chủ nghĩa, cạm bẫy giăng đầy này. Tôi cầu mong sao sự đổ vỡ chỉ là trong thơ, và chỉ trong thơ mà thôi.

Phải chăng không những lí tưởng cách mạng xã hội, và thời gian – kiếp người, cùng những giá trị như bàn tay lao động, tuổi trẻ ngày xanh, con người nhân văn, cuộc rượu tình bạn, Trường Sơn kháng chiến, ý thức hoài vọng, nghinh vọng con người lí tưởng đích thực (21)… đều là phù dung, mà cả tình thơ cũng quá đỗi phù dung! Tất cả chỉ là vẻ đẹp mong manh, thoáng chốc, có thật mà hư ảo. Còn nỗi đau khổ trong trái tim anh, nỗi cô đơn của anh, cũng phù dung chăng?

Có lẽ từ những nguyên nhân đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường ở giai đoạn về sau, càng có khuynh hướng suy tư, chiêm nghiệm lại chủ đề cô đơn, cái chết, hư vô – linh hồn…

Có một điều, tôi thấy anh không bao giờ nói đến Thượng đế theo quan niệm tôn giáo (đấng siêu hình được nhân hoá). Anh vẫn là một thi sĩ vô thần, mặc dù có lẽ anh tin có linh hồn (một dạng siêu vật chất).

Cô đơn của anh lắm khi là sự xa lánh mọi người, để một mình anh đối diện với chính anh trong thiên nhiên cỏ cây sương khói. Bài Thiền định (26) kể về một “ngày ấy” xa xôi nào đó và cả bây giờ: “Tôi vẫn ngồi trong gió heo may / Một phiến hồ thu, nước lại đầy / Ngày không thiên sứ / chiều không nắng / Chỉ một mình tôi với bóng mây // Em kể tôi nghe chuyện núi đồi / Chỉ là ảo tưởng đấy mà thôi / Tôi nhìn trong khoảng mông lung ấy / Chỉ có tôi ngồi với bóng tôi ”, và cuối cùng xa lánh với cả người con gái ấy: “Em gọi tên tôi khắp mọi nơi / Gọi tôi vang động cả vòm trời / Tôi ngồi im lặng như lau sậy / Mờ mịt như màu sương khói thôi”. Niềm cô đơn trong thời trẻ tuổi chưa dấn thân, chưa tranh đấu chính là sự tìm quên thực tại chiến tranh? Niềm cô đơn này ở một nhà thơ từng có cả cuộc đời dấn thân, kháng chiến quyết liệt, bền gan nhất, phải chăng là một sự phản kháng lại thực tại hậu chiến?

Bài thơ viết về hư vô – linh hồn được nhiều người đọc, bình và nhớ là Địa chỉ buồn (27). Đạm Tiên trong Truyện Kiều như một ám ảnh về định mệnh bất hạnh của kiếp tài sắc. Ở bài thơ này, đường phố âm hồn của tài sắc mang tên bóng quế Đạm Tiên! Đó là nơi có vầng trăng soi chiếu giấc ngủ anh, và từ chốn vĩnh hằng, nàng tiên nào đó lặng nhìn. Đó là nơi có những giọt lệ nến trong thơ Lý Thương Ẩn cứ chảy hoài từ thuở sơ sinh như tiền định. Và, “những chiều Bến Ngự giăng mưa / chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi / tôi ra mở cửa đón người / chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang // nhà tôi ở phố Đạm Tiên / “dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu” / cây sầu đông, cây sầu đau / thương tôi, cây cũng nở màu hoa râm”. Đây phải chăng là trạng thái tâm lí nhập thân (đồng nhất nhân vật Thuý Kiều với chính mình) của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường – anh bị ám ảnh (như Thuý Kiều bị ám ảnh) về kiếp nghệ sĩ tài hoa mà “bạc mệnh cũng là lời chung”? Phải chăng tận chiều sâu của trạng thái này chính là niềm phản kháng, phê phán xã hội như rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định về Truyện Kiều?

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho biết rằng, luận văn cử nhân triết học của Hoàng Phủ Ngọc Tường là “Cái chết (La mort)” (28) và Nguyễn Trọng Tạo, Hồ Thế Hà cũng đã bình luận nhiều về chủ đề này trong thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tôi cảm nhận thêm một điều là ở thời tuổi trẻ, Hoàng Phủ Ngọc Tường chấp nhận cái chết tích cực, chết vì sự sống như trong bài ca dao về cây sầu riêng, “một cây ngã xuống, vạn chồi mọc lên”; ở giai đoạn sau này, cái chết thường xuyên trở đi trở lại như ám ảnh không rời trong tâm thức một “gã tình si kêu gào vĩnh cửu” (29) Hoàng Phủ Ngọc Tường, một nhà thơ từng tiếc nuối thời gian chóng qua (Dù năm dù tháng), phải chăng tận chiều sâu là một thái độ phản kháng thực tại?

Điều quan trọng nhất, đáng quan tâm nhất là quan niệm về tự do. Ở bài Người khát vọng bầu trời (30), anh viết hồi kỉ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, 1980, bấy giờ, quan niệm tự do của anh mới mạnh mẽ biết bao! Đó là tự do cho cả dân tộc và cho mỗi con người. Cho dù trước kẻ thù ngoại xâm nhà Minh hay trước bọn gian thần bạo chúa nhà Hậu Lê, Nguyễn Trãi vẫn bất khuất. Kín đáo trong bài thơ này là khát vọng tự do, dân chủ của Hoàng Phủ Ngọc Tường và của cả dân tộc trong thời chưa Đổi mới (1986), chưa Cởi trói (1987). Nhưng tư tưởng tự do, dân chủ, cơ chế đối trọng của anh không thấy thể hiện trong thơ, mà chỉ loé lên trong vài bài báo! Tự do, dân chủ và cả công bằng, bình đẳng nữa, trong Người đi hái phù dung, thực chất chỉ là tự do cá nhân trong sự chối từ xã hội kiểu tiêu dao du, tề vật luận của Trang Tử, thể hiện qua Nam Hoa kinh:

“… Con chim nào giấu mặt trong sương / Khi chiều xuống cùng tôi trò chuyện / Chim hỏi tôi: Người từ đâu đến? / Thưa chim rằng: Tôi từ cỏ sinh ra // Tôi trở về tìm trong hương cỏ / Dịu dàng một chút bình yên / Tự do nhiều khi là im lặng / Để đừng nghe ai gọi tên …” (31).

Thật dễ thương biết bao trong đối thoại kiểu tề vật luận với tinh thần bình đẳng giữa vạn vật, muôn loài, nhưng tự do không chỉ là rong chơi, ngao du sơn thuỷ hoặc “dưới cây kia tôi ngồi hát nghêu ngao” (31) kiểu tiêu dao du nữa, mà còn là ý thức tự giải phóng ra khỏi thân thế (vốn như một thứ trói buộc cho dù tập ấm hoặc nô lệ truyền kiếp) và im lặng (vô công, vô vi), và vô danh.

Phải chăng đó cũng là một cách phản kháng tiêu cực, quá tiêu cực, của một trí thức, trong thời tuổi trẻ, vốn đã đấu tranh không chùn bước trong cơ chế dân chủ tư sản Miền Nam trước Ngày Thống nhất (1975), cũng đã lên đường kháng chiến chống Mỹ, từng hiểu thấu đáo thế nào là tự do, dân chủ, đối lập, đối trọng lẫn các mệnh đề của chủ nghĩa Marx? Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường như thể đã đành quên “tự do của người này là điều kiện tự do của người khác”, “tự do là sự nhận thức được tất yếu” (“tất yếu” phải là tất yếu khách quan, xét theo quan điểm đồng đại, so sánh với các nước trên thế giới, không phải là thứ “tất yếu” bị áp đặt, xuyên tạc để bảo vệ nền chuyên chế độc tài, ở các nước nào đó!).

Trong tất cả các nhân quyền, Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ đòi mỗi một thứ tự do được bày tỏ thái độ, mà nói theo ngôn từ của anh là “quyền được buồn”. Thực chất quyền được buồn là quyền được bày tỏ công khai trên báo chí, bằng văn chương thái độ bất bình trước những gì chướng tai gai mắt, và cũng theo cách như thế, được quyền bày tỏ cả nhân sinh quan riêng của mình, sáng tạo riêng của mình… Tôi nghĩ, thực chất đó là quyền biểu đồng tình hay phê phán (và chấp nhận sự đồng tình hay phê phán phản hồi) một cách xây dựng, đó là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản… Thật ra, “quyền được buồn” cũng còn hạn chế lắm, nhưng thử tưởng tượng không một ai trong nước được quyền bày tỏ nỗi buồn bực, buồn chán của mình trước bao điều trái tai gai mắt xem! Thật khủng khiếp!

Và như đã nói, khi buồn (âm) quân bình với vui (dương), con người mới thật sự cân bằng tâm lí, để không đến nỗi bất bình thường, máy móc hoá!

Dẫu sao, tôi vẫn cảm nhận được những nét tiêu cực một cách tích cực của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua Người hái phù dung.

Người hái phù dung là mảng thơ đẹp nhất của anh về ngôn từ, hình ảnh, nhạc điệu, màu sắc thơ, tuy có đôi chỗ (rất ít) có lẽ hơi sáo mòn như anh Nguyễn Trọng Tạo đã chỉ ra. Phải nói thêm, thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đẹp trong trẻo và uyên áo. Nếu vừa thích vì đẹp, vừa trách sao thơ anh càng về sau càng buồn đến tuyệt vọng, thì chỉ có một cách là đọc thêm truyện kí của anh. Thang thuốc, như đối với mọi nhà văn, trước hết là cho mình, anh cũng đã tự kê đơn, có đủ cả thứ hàn, thứ nhiệt và thứ bình, trong sự tương tác lẫn nhau giữa các thứ như thế!

5

Có lẽ Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà thơ đồng thời là một nhà văn có tấm lòng quý mến đặc biệt đối với những người làm văn thơ trẻ tuổi hơn anh.

Cách đây gần 20 năm, bấy giờ tôi còn ở Quảng Trị, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường và các anh trong Ban Biên tập Tạp chí Sông Hương, gồm nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, nhà thơ Võ Quê và nhà văn Nguyễn Khắc Phê, có một lần ghé đến nhà tôi để thăm hỏi. Đêm đó, tôi có viết một bài thơ rất mộc mạc để kính tặng:

Tấm lòng

bất ngờ trước những tứ thơ
những trang văn, vẫn có ngờ được đâu!
bàn tay tìm đến nỗi đau
trái tim nghe tận nguồn sâu mạch đời
tấm lòng rộng mở đến tôi
cái nhìn gắng trải khắp trời Nắng – Mưa
bao điều đã viết và chưa
cơ hồ thấm thía như vừa đọc xong
văn chương tự những tấm lòng
mãi trong veo ngan ngát dòng Sông Hương
các anh vào, nắng vườn dương
cứ bâng khuâng ở bên đường làng quê
tôi ngồi đến cạn đèn mê
ánh trăng vằng vặc lại về trong tôi.

T.X.A.
Quảng Trị, 1885

Bài lục bát Tấm lòng là một kỉ niệm đáng nhớ còn đọng lại trên giấy.

Về nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi còn nghĩ, chính anh mới là một chiếc cầu nối tuyệt vời nhất giữa hai bờ Bến Hải về văn học nghệ thuật. Không ai hiểu văn nghệ sĩ Miền Nam – Miền Bắc trước và sau Ngày Thống nhất (1975) hơn anh. Rất tiếc, anh đã bị bệnh suốt mấy năm nay, đến mức chỉ ngồi trên xe lăn, nói năng rất khó. Tôi vui mừng xen lẫn với ngạc nhiên như thể được chứng kiến một sự kì diệu, là anh vẫn tư duy rất minh mẫn, viết lách rất tài hoa, và càng cảm thấy mừng khi những ngày gần đây anh chuyện trò rõ tiếng hơn. Tôi cũng hi vọng 02 cuốn tiểu thuyết tôi mới xuất bản trong năm ngoái, Ngôi trường tháng giêngSen đỏ, bài thơ hoà bình (**), đã được anh đọc. Không rõ tình trạng sức khoẻ như thế, anh có đọc tiểu thuyết hay không. Trong Ngôi trường tháng giêng, nhà văn Đan Sử (có nghĩa là sử đỏ, sử viết bằng máu) chính là nhân vật được hình tượng hoá từ nguyên mẫu rất thật là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Trong những năm tháng anh bị bệnh tật đến mức ấy, chị Lâm Thị Mỹ Dạ đúng là một người vợ hiền, thuỷ chung, chịu thương chịu khó với sự nhẫn nại bền bỉ đến mức không một ai không kính phục.

Tôi vẫn cứ nghĩ rằng, nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ còn viết hay và viết nhiều hơn nữa. Hi vọng “phần chìm” ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh Nguyễn Trọng Tạo có nói đến, sẽ được viết ra trên hàng ngàn trang giấy hay ít ra cũng sẽ được ghi âm lại. Và giá như có một thư kí bên cạnh chị Lâm Thị Mỹ Dạ để cùng chị giúp việc cho anh! Đó là cả một tài nguyên quý báu, mất đi sẽ không bao giờ có thể tìm lại được.

TP. HCM., khởi viết từ 08 giờ 10 phút, ngày 22. 10. HB4 (09. 9. G. thân HB4);
viết xong lúc 16 giờ 28 phút, ngày 24 . 10. HB4 (11. 9. G. thân HB4).

TRẦN XUÂN AN

(*) Trước đó, vào năm 1973, tôi đã được một tuần báo ở Sài Gòn, cụ thể là nhà văn Từ Kế Tường (Nguyễn Đan Trường), giới thiệu là một người thơ mới với bài Tiếng chuông xưa (Tuổi Ngọc, số 103, năm 1973).

(1) Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tuyển tập (TTHPNT.), (4 tập, Trần Thức tuyển chọn từ Những dấu chân qua thành phố, tập thơ, Nxb. Giải Phóng, 1976 và Người đi hái phù dung [1995], Nxb. Thuận Hoá tái bản, có bổ sung, 1997), tập 4, thơ, Nxb. Trẻ TP. HCM. & Công ti Văn hoá Phương Nam, 2002.

(2) TTHPNT., tập 4, bài bạt của Nguyễn Trọng Tạo: Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, một cõi tâm linh, sđd., tr. 187.

(3) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 5.

(4) Trần Tam Tỉnh (linh mục), Thập giá và lưỡi gươm (nguyên tác tiếng Pháp: Dieu et Çésar, Nxb. Sudest-Asie, Paris, 1978), linh mục Vương Đình Bích dịch, Nxb. Trẻ, 1988, tr. 133 – 158… Chế độ độc tài Ngô Đình Diệm (1955 – 1963) thực chất là con đẻ của Mỹ và chủ yếu là con đẻ của Thiên Chúa giáo, một thế lực phản quốc kể từ thời Tự Đức (1847 – 1883), Hàm Nghi (1884 – 1885 – 1888) đến 1963, điều đó ai cũng rõ, nhân chứng lịch sử cho đến nay vẫn còn sống khá nhiều. Riêng cái gọi là chế độ đệ nhị cộng hoà do Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu, vì Thiên Chúa giáo rút kinh nghiệm từ vụ Ngô Đình Diệm, và vì Nguyễn Văn Thiệu không lộ liễu chường ra nhãn hiệu thập giá, nên nhiều người còn ngộ nhận. Để tiện tham khảo và để dễ hồi ức lại bối cảnh lịch sử giai đoạn 1963 – 1975, xin trích một vài đoạn từ sđd.: “Cuộc binh biến đầu tiên do “Minh đại ca” [Dương Văn Minh – TXA. chua thêm (ct.)] chỉ huy đã bị lật nhào ngày 30 tháng giêng 1964 bởi một nhóm tướng trẻ do Nguyễn Khánh điều khiển. Khánh lại phải cuốn gói ngày 13 tháng 9 để nhường cho một “tên Thổ trẻ”, tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ. Như một phép lạ, ngày 27 tháng 10 năm 1964, xuất hiện một chính phủ dân sự của Phan Khắc Sửu [tín đồ đạo Cao Đài, làm quốc trưởng đến 1966 [?] – ct.], chẳng mấy bữa lại bị lật đổ, ngày 20 tháng chạp trong một cuộc “đảo chính bỏ túi”. Nguyễn Khánh lại lên ghế chủ tịch, bằng một cuộc trở về yên ổn ngày 28 tháng giêng 1965, để ba tuần sau đó lãnh án “lưu vong”, làm đại sứ lưu động, rồi sau đó làm chủ một quán ăn tại Paris. Vụ lật đổ thứ sáu đưa ông tướng hung hăng Nguyễn Cao Kỳ lên cầm đầu chính phủ. […] Có một nhân vật ngồi ung dung trong văn phòng mình tại Sứ quán Mỹ cứ giật dây, điều khiển các con rối và thay đổi chúng tuỳ thích, đó là Cabốt Lốt [Lodge – ct.]…” (sđd., tr. 143 – 144); “Chẳng bao lâu, y [Nguyễn Cao Kỳ – ct.] đã đành chịu đóng vai nhì bên cạnh một tướng cao mưu, xảo kế hơn, đó là Nguyễn Văn Thiệu. Tay này đã trở lại đạo Công giáo dưới chế độ Diệm. Một số người cho rằng y theo đạo Công giáo vì những động cơ chính trị, hơn là vì lí do tôn giáo [và vợ y là một tín đồ Thiên Chúa giáo – ct.]” (sđd., tr. 145); “Trong bối cảnh như thế, thái độ của Giáo hội [Thiên Chúa giáo – ct.] Việt Nam như thế nào? Sau một lúc bị gạt ra rìa bởi nhóm tướng tá đảo chính và Hoa Kỳ đang muốn chơi con bài Phật giáo, người Công giáo lại giành được thế mạnh chính trị vào năm 1965. Quả thế, trong vụ khủng hoảng Phật giáo và sau khi Diệm bị đổ, người Mỹ cứ ngỡ rằng có thể dựa vào Phật giáo để thực hiện mục tiêu của mình. Nhưng Giáo hội Phật giáo thống nhất, mặc dầu có nhiều xu hướng và ý đồ khác nhau, vẫn không tán thành chiến tranh và không chống lại việc thương thuyết với Cộng sản. Một điều chắc chắn, theo cây bút Xunbecgơ trong tờ Nữu Ước thời báo [Newyork Time – ct.] ngày 15. 3. 1965, tổ chức Phật giáo không đồng tình với kiểu cách của Oasinhtơn [Washington DC., thủ đô Mỹ – ct.], mà lại nghiêng về phía các ước nguyện của Việt cộng. Mất hứng trước thái độ của Phật giáo, Lầu Năm Góc quay lại luôn phía Công giáo và chơi cho hết ván bài này…” (sđd., tr. 149 – 150); “Năm 1967, […]. Tại Việt Nam, các binh sĩ Mỹ đã đặt lên ngôi tổng thống một người Công giáo (Nguyễn Văn Thiệu) và đưa vào thượng viện đa số nghị sĩ Công giáo (35 ghế trên 60)…” (sđd., tr. 155).

Xin xem thêm: Trần Xuân An, Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, bản đã sửa chữa, bổ sung lần thứ ba, in vi tính ngày 19. 12. 2003 (trọn vẹn gồm 745 trang [kể cả phần chú thích, phụ lục] và phần ngoài sách gồm 15 trang [một bài thơ viết về Quang Trung cùng các chú thích sử học], cỡ sách 13 cm x 19 cm).

(5) TTHPNT., tập 4, sđd., phần gấp bìa 1.

(6) Xem thêm: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Như con sông từ nguồn ra biển (truyện kí, 1971), trong Tuyển tập HPNT., tập 2, Nxb. Trẻ, 2002, tr. 9 – 38.

(7) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 32 – 33 & bài Đường phố ấy, sđd., tr. 21 – 23.

(8) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 14.

(9) TTHPNT., tập 4, bài Câu hỏi, sđd., tr. 18 – 20.

(10) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 15 – 17.

(11) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 11 – 13.

(12) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 64.

(13) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 65.

(14) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 79 – 82.

(15) TTHPNT., tập 4, bài Tôi viết tên Người, sđd., tr. 26 – 28.

(16) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 52 – 56. Nậy có nghĩa là lớn.

(**) Chẳng hạn về cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 (báo chí Miền Nam gọi là “biến cố Tết Mậu thân”), bài thơ Dấu dép cao su trong vườn mẹ của Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ đúng và rất đúng với anh và đồng đội Giải phóng quân của anh cũng như với các gia đình cơ sở cách mạng ở Huế, kể cả ngoại thành. Trong hiện thực lịch sử, vào thời điểm đó, lính Mỹ đầy khắp Huế và cả Trị – Thiên, nên bộ phận thanh niên, sinh viên học sinh tiến bộ, nhất là thân cách mạng, rất căm phẫn. Chính tôi, thuở bé, đã chứng kiến được không khí căm phẫn ấy. Nhưng đó là một biến cố đau thương, tang tóc đối với một phân số khá lớn nhân dân Huế vốn là những người dân tộc chủ nghĩa (trung lập, bị kẹt giữa hai gọng kìm “tả đạo” và cộng sản), rất sợ hãi chủ nghĩa vô thần, đấu tranh giai cấp, nhất là những ai họ xem là “thân” Liên Xô, Trung Quốc (họ cho rằng Liên Xô, Trung Quốc cũng như Pháp, Nhật, Mỹ). Cho nên, không khí Huế sau Tết Mậu thân, cùng với chiến dịch tuyên truyền tâm lí chiến của Mỹ ngụy (về Khe Đá Mài với hàng trăm tử thi bị thủ tiêu…) là khá hãi hùng. Chính tôi, thuở bé, cũng đã chứng kiến được không khí tang tóc ấy.

Nhân chứng lịch sử cho cả hai phía ngụy và cách mạng, cũng như phía bộ phận nhân dân, ngụy quyền, ngụy quân lớp dưới (bất đắc dĩ phải làm công chức hoặc đi lính cho ngụy) hiện nay còn sống không phải là ít.

Cho nên, câu ngạn ngữ Phương Tây “bên này dãy Pyrénnées là chân lí, bên kia là sai lầm”, cũng có thể vận dụng ở trường hợp Tết Mậu thân Huế 1968 này chăng? Ở đây, tôi chỉ nói về quan hệ giữa thi ca và sử học cũng như đặc trưng của mỗi loại. Xin khẳng định lại một lần nữa để khỏi bị ngộ nhận: Tôi không có ý cho rằng bài thơ Dấu dép cao su trong vườn mẹ phản ánh sai sự thật lịch sử đối với nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và đồng đội Giải phóng quân của anh cũng như đối với bộ phận gia đình cơ sở cách mạng ở Huế và ngoại thành Huế. Nhưng đó không phải là sự thật lịch sử toàn cảnh Huế vào Tết Mậu thân 1968.

(17) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 132 – 134.

(18) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 137 – 138.

(19) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 135 – 136.

(20) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 121 – 122.

(21) TTHPNT., tập 4, bài Đêm qua, sđd., tr. 106 – 108.

(22) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 83 – 84.

(23) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 87 – 88.

(24) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 157 – 158.

(25) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 126.

(26) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 161 – 162.

(27) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 104 – 105.

(28) TTHPNT., tập 4, hai bài đã dẫn, sđd., tr. 190 & tr. 200 – 201.

(29) TTHPNT., tập 4, bài Tình sử Hy Lạp, sđd., tr. 91 – 93.

(30) TTHPNT., tập 4, sđd., tr. 95 – 96.

(31) TTHPNT., tập 4, bài Tôi biết nơi kia có một chỗ ngồi, sđd., tr. 109 – 110.

(**) Trần Xuân An, Ngôi trường tháng giêng (tiểu thuyết) & Sen đỏ, bài thơ hoà bình (tiểu thuyết), xuất bản cùng một lượt, Nxb. Thanh Niên, 2003.

(*) Trần Xuân An, Ngôi trường tháng giêng (tiểu thuyết), Nxb. Thanh Niên, 2003.

Phụ chú (ngày 9-7-2005): Xin chú thích thêm: 4 câu thơ về lá cờ Mặt trận Giải phóng và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Đó là lá cờ chính thức và chủ yếu ở Miền Nam, trước ngày Hiệp thương Thống nhất (1976). Đoạn thơ ấy trích trong trường ca “Nước non ngàn dặm” của Tố Hữu: “Lá cờ nửa đỏ nửa xanh, Màu đỏ của đất, màu xanh của trời, Ngôi sao chân lý của đời, Việt Nam – vàng của lòng người hôm nay”. Phải chăng đó là lá cờ ngược (sách lược tạm thời)? hay do vô thức chi phối khi Tố Hữu cấu tứ? Có nên truy kích nhau trong phê bình văn học? Tôi (Trần Xuân An), trong những năm về sau, đã mạn phép chữa nghịch lý lại cho hợp lý hơn: “Lá cờ nửa đỏ nửa xanh, Màu đỏ hừng sáng, màu xanh biển ngời, Ngôi sao chân lý của đời, Việt Nam – vàng của tim người hôm nay”. Tất nhiên, bấy giờ cũng như bây giờ, tôi không dám sửa thơ của người khác (nếu không phải bạn bè, thân quen và có trao đổi chân tình) như vậy, nhất là thơ của Tố Hữu (đã vào văn học sử khi ông còn sống). Ý tưởng này với những hình ảnh ấy, tôi đã thể hiện trong một bài thơ của mình vào năm 1976.

TXA.

Đã gửi:
Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường
& chị Lâm Thị Mỹ Dạ (để được góp ý trước khi gửi đăng báo, 25. 10. HB4);
Hoàng Dạ Thư (NXB. Trẻ, để chuyển giúp, 01. 12. HB4… ).

Ghi chú thêm:
Không phải riêng bài viết này về thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, mà hầu như tất cả mọi bài viết về các tác giả còn sống hay đã mất khác, tôi đều gửi cho họ hoặc thân nhân họ xem trước khi tôi gửi đăng báo, in sách. Nhưng rồi ra, cũng chỉ có vài người phản hồi để tôi điều chỉnh thông tin; đại đa số còn lại (gồm cả anh Tường và gia đình anh) đều đồng ý, không phản hồi một chút gì, vì tôn trọng người viết là tôi.
T.X.A.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

SÁU BÀI THƠ MỚI CÔNG BỐ TRÊN FACEBOOK & WEB-BLOG, WEBSITE

Posted by Trần Xuân An trên 06.01.2018

hidden hit counter

 
.

https://txawriter.files.wordpress.com/2018/01/6-bai-tho-moi-cong-bo_06-01hb18.jpg?w=300

SÁU BÀI THƠ MỚI CÔNG BỐ

TRÊN FACEBOOK & WEB-BLOG, WEBSITE

(đã đăng 3 bài trên trang thông tin điện tử Nhà văn TP.HCM.)
http:// nhavantphcm.com. vn/tac-pham-chon-loc/tho/ tran-xuan-an-mua-van-chuong-trai-dat-sinh-soi.html

(các bài 9, 10, 11, 12, 13, 14)
25-12-2017 – 03- 01-2018
__________________________

Bài 11
LỊCH NĂM MỚI
Trần Xuân An

ngày như nhau mặt trời dương lịch
nguyệt lịch mỗi đêm khác dáng trăng
cả vũ trụ tuần hoàn biến dịch
lịch từng tờ, viết thơ từng trang

thời khắc theo đường kim bán kính
quay vòng chữ số tháng và ngày
ta giao thừa mọi ngày, từng tháng
chữ cái ghép âm, mới mỗi bài

vẫn chữ số và kí tự cũ
cũ năm tháng, cũ cả xương da
tốt lành từ cũ sinh tươi mới
ta mới ta, sông núi mới ta

cổ xưa Tây cũng trăng làm lịch
Đông nhuận trăng, bằng lịch mặt trời
nhật nguyệt mọi phương đều toả sáng
mùa văn chương trái đất sinh sôi.

T.X.A.
30 & 31-12-2017 HB17

Bài 12
HẠNH PHÚC CUỐI TUẦN
Trần Xuân An

không gọi đầu tuần là Chúa nhật
quên luôn chủ nhật! Cuối tuần thôi
thứ hai, như gọi không anh cả
không thái tử, ngai vua sẵn ngồi

ngày trạng nguyên, thời gian sẽ chọn
ngày hoàng hậu, sắc cuối trăm năm!
ngày tình yêu, giữ lòng đừng khác
vẫn cuối tuần chiều hẹn đến thăm

đùa thôi, Chúa nhật là Ngày Chúa
ngày thánh thiêng đầu tiên của tuần
nay gọi Cuối tuần, trống thứ nhất
thứ hai như gấp đôi thời gian

đùa thôi, thứ nhất chia ra sáu
trong sáu ngày, nhiều lúc nhớ nhau
hạnh phúc cuối tuần dư hưởng thấm
thứ nào cũng thứ nhất, nồng sâu.

T.X.A.
31-12-2017 HB17

Bài 10
CHÚA GIÊ-SU, NGƯỜI YÊU NƯỚC
Trần Xuân An

Người yêu nước với lòng lành
chết trên thập giá, máu thành mưa rơi

từ đất Chúa ngự lên trời
thế gian hoài mãi cõi đời khổ nhau

cao xanh Chúa vẫn không màu
một trong ngàn vạn bề sâu loài người

sử Việt là Kinh Thánh tôi
chương buồn Thập giá, rõ rồi, xưa xa

ngàn năm truyền thuyết mù sa
sử Do Thái lại sáng loà Giê-su

đích thực Chúa mỗi câu từ
ngoại xâm La Mã thôi hư huyền lời

linh hồn kiếp kiếp nơi nơi
bao người yêu nước thành Trời Đất thiêng.

T.X.A.
sáng 27-12-2017 HB17
.
Tham khảo thêm:
Trích thư của hai linh mục Phạm Bá Trực và Vũ Xuân Kỷ gửi giáo hữu nhân dịp Nô-en (Noel) 1953, đăng trên báo Nhân Dân số 155, ngày 21-12-1953: “Hơn 30 năm ở dưới thế, Chúa đã đấu tranh không ngừng chống bọn đế quốc Rô-ma, bọn vua quan Giu-dêu gian ác và bị chúng đóng đanh trên cây thánh giá”… Trong số báo đó, cố chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có viết một bài với bút danh C.B., trong mục “Nói mà nghe” với ngôn từ hiện đại, không cụ thể – lịch sử, có nội dung khẳng định Chúa Giê-su là người lao động yêu nước, đại để tương tự như hai linh mục trên (từ ảnh chụp tư liệu của FB. Nhà văn Đặng Thân; nguồn: Thư viện quốc gia Việt Nam; Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, xuất bản lần 3, Nxb. CTQG., 2011, tr.375-376).
.
https://txawriter.files.wordpress.com/2017/12/hoa-giai-dan-toc_anh-man-hinh_facebook_22-12hb17.jpg?w=300
.

Bài 13
TẾT TÂY NHOÈ BÔNG
Trần Xuân An

triều đình thuở phải dùng dương lịch
trong kỉ nước ta mất, nhớ không? *
nay thế giới đều đành lịch ấy
Tết Tây, pháo độc lập, nhoè bông!

di sản thực dân nhiều nghẹn đắng
đau khi sực nhớ, cũng cười xoà
đành sàng lọc, nhãn ngoại thay hết
đâu chỉ Tết Tây với pháo hoa!

T.X.A.
14:21 – 15:01, 01-01-2018 HB18

(*) Kỉ Đồng Khánh (1885-1889), phàm lệ.

Bài 9
GIÁNG SINH, TRONG TÂM NGƯỜI
CÁI NHÌN MỚI
Trần Xuân An

Tự Đức và đại thần
          khát khao bậc cứu tướng
cứu tướng Việt và cứu chúa Giê-su,
     đâu phải khác chiều
bi kịch là khác cái nhìn,
     cái nhìn khác với giáo dân, cố đạo
một quét ngoại xâm,
     một lật đổ đương triều
.
cố đạo, giáo dân ước ao
     xô sập hay đục ruỗng,
     trơ không Nhà Nguyễn
khẩn cầu cứu chúa,
     từ ngoại bang
nên máu đổ,
     suốt Cần vương, Văn thân, thuở đó
do khác cái nhìn về Trương Định và về Giê-su,
     mà đúng, sai đều tan hoang
.
nếu chung một cái nhìn,
     cái nhìn đúng về Giê-su, đấng cứu chúa
thì làm sao giặc Pháp cướp,
     ta mất nước tan nhà
mong giáo dân chỉnh lại cái nhìn,
     hơn là oán hận thời sát tả
và cả “Quốc khánh Ba số Một” về sau,
     1963, với nhiều nguyên nhân gần, xa (1)
.
Chúa cứu nước,
     mong quét sạch ngoại xâm La Mã
hay thoả hiệp vì quyền lực,
     ngỡ chỉ cứu linh hồn?
sao thần học nghiêng về phản nghịch,
     lỗi nghĩa cùng Chúa?
nên “Văn thân sát tả”
     đến “Quốc gia 63 Sài Gòn”
.
giáng sinh,
     hoài niệm về cận sử
không buồn,
     mà nội dung mới
     kinh “Ăn năn tội” xưa xa (2)
giáng sinh trong tâm người:
     cái nhìn đúng về vĩnh hằng Cứu Chúa
về Quốc gia – Cộng hoà một thuở
     dù đã tiêu ma
.
Cứu Chúa Giê-su
     – biểu tượng của khát vọng độc lập
biểu tượng quét sạch ngoại xâm,
     nhưng không thành
còn là biểu tượng tôn giáo của vài tỉ người,
     nên không can dự vào chính trị
không ngự ở nước nào,
     mà chỉ ở cao xanh.

T.X.A.
sáng 25-12-2017 HB17

(1) 1-11-1963: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn…
(2) Kinh
“Ăn năn tội” (Thiên Chúa giáo):
“Lạy Chúa tôi, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên tôi, và cho Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì tôi, mà tôi đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì tôi lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội tôi trên hết mọi sự; tôi dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa thì tôi sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen”.

Bài 14
KINH THÁNH VIỆT NAM
Trần Xuân An

sử Việt Nam, thiêng xương thật máu
đã thành Kinh Thánh, để suy tư
thêm thi tuyển, đậm hồn dân tộc (1)
chống ngoại xâm, lòng chẳng tự tù

Kinh Thánh Việt Nam – quốc sử mới
mấy nghìn năm quét sạch quân Tàu
Hiền Lương bắn chéo năm cuồng ngoại (2)
không lệch bút, tâm không nhuộm màu

văn sử kết tinh và động não
sách tươi mật, đổ mồ hôi tim
không là tín hữu, mà người học
Kinh Thánh Việt Nam xoải cánh chim.

T.X.A.
07:45 – 11:47, 03-01-2018 HB18

(1) “Nhã ca” (hay “Diễm ca”) là tên một quyển sách thơ về yêu đương trong bộ Thánh Kinh (Bible) của dân tộc Do Thái. Ở đây là thơ Việt Nam đậm hồn dân tộc.
(2) Nhật, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Nga Xô…

.

.
Trang “Mục lục” trong “Kinh Thánh” – bấm vào đây
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

ĐĂNG LẠI CHÙM THƠ VỀ ĐỀ TÀI PHẬT GIÁO

Posted by Trần Xuân An trên 29.12.2017

hidden hit counter

 
.

ĐĂNG LẠI CHÙM THƠ VỀ ĐỀ TÀI PHẬT GIÁO
.
CHÙM THƠ VỀ ĐỀ TÀI PHẬT GIÁO
___________________________________

Trần Xuân An

1
ĐỨC PHẬT THÍCH CA
VÀ VÔ VÀN MÙA SEN
Trần Xuân An

dưới gốc vô ưu, sinh ra (*)
bước ban sơ, gót nở hoa sen hồng
gươm trai trẻ sáng cầu vồng
cung tên bắn loé vầng hồng tâm xa
sách uyên bác cưới ngọc ngà
cho thái tử được làm cha, vẹn toàn

im nhạc ngựa, lắng tiếng than
thấy đời nước mắt mênh mang ngoài thành
sống, khổ dài, vui thoáng nhanh
tuổi già gục úa như cành lá khô
trăm cơn bệnh, một nắm tro
người lạc phúc ngẫm sững sờ bi thương

tóc xoăn mượt, cắt khuya sương
cỗi cằn khổ hạnh trơ xương giữa rừng
dưới cội bồ đề, sáng bừng
lẽ trung đạo, tránh hai cùng cực xa
bốn bước diệt khổ, lòng ta
tám nẻo tu, cũng tâm và trí thôi

soi rọi cõi đời, hiểu đời
sát sanh: thóc giã, gạo sôi, xót hồn
nghe đau khi ngắt rau non
nói chi đến dĩa thịt ngon, đũa chùng!
kính Phật để lòng trung dung
trần gian thanh nhẹ bớt lừng men say

đời vẫn yêu cõi đời này
có quy luật trong mây bay giữa trời
hiểu tất yếu, tự do rồi
cái tất yếu không phải lời viển vông
chuông chùa thức đoá nhang hồng
đèn soi quốc sử tâm không quên đời

vẫn Đức Phật thoảng môi cười:
ngai vàng chính trị Người rời bỏ đi
bát khất thực, áo đắp y
vạn dặm đường, thuyết từ bi, không sờn
để quy luật nhẹ nhàng hơn!
Người viên tịch, nhắc khổ còn miếng ăn!

sen Phật đài, đầm thế gian
sen gần đời, mặc ngai vàng bệ cao
đi phương nao, sống thời nào
mãi còn Đức Phật ngọt ngào bảo ban
sen nhân dân, Phật nhân dân
triệu sen phật tính, căn phần bùn đen.

T.X.A.
15: 05 – 18:23, 07-9-2016 (HB16)

(*) Câu thơ thứ nhất này có thể được sửa lại như bản viết đầu tiên: “sinh ra dưới gốc sa la”
— Cây sa la (shorea robusta) khác với cây vô ưu (asoka). Có sự lầm lẫn giữa hai cây này trong một số tài liệu.

https://txawriter.files.wordpress.com/2016/09/quan-am-von-nhu-gio1.jpg?w=350

2
QUAN ÂM & NHÂN QUẢ
Trần Xuân An

ai một đời hoa sen
bị giày oan xéo khổ
suốt đời ai gieo cỏ
lại sen ngát tuổi tên

đường đời luôn sắc đen
tiền căn nào, gót đỏ?
ai thương ai gối hèn
phải đâu tiền kiếp nợ!

Quan Âm vốn như gió (*)
nhưng hiện thực thắp lên
chín kiếp bồ tát độ
oan nhân quả, tâm yên

mưa tuyết thành bông len
Cao xưa sang Việt cổ (**)
tượng Quan Âm không vỡ
sen vượt số, toả đèn.

T.X.A.
17 & 20-9-2016 HB16

(*) Lai vô ảnh, khứ vô hình (đến và đi đều không hiện ra bóng dáng).

(**) Hình tượng Quan Âm Thị Kính, căn cứ vào các bản truyện thơ, vốn có xuất xứ từ nước Cao Ly (Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên ngày nay). Tuy nhiên, có một số tài liệu cho rằng Cao Ly chỉ là biến âm của Câu Ly hay Câu Lại (Koli), quê hương của bà Maya, mẫu thân Phật Thích Ca. Hoặc giả, theo tôi, có thể đó chỉ là một địa danh biểu tượng về một nơi không xác định.

3
VU LAN
Trần Xuân An

rằm tháng bảy nghe Văn Chiêu hồn
cài hồng trắng tiếc thương hồng đỏ
nhớ tuổi nhỏ sắm vai chia cỗ
mẹ viếng chùa ấm nẻo hoàng hôn.

T.X.A.
15-8-2016
(tối 13 tháng bảy, Bính Thân HB16).

4
VU LAN, MỤC KIỀN LIÊN, HIẾU NGHĨA Y NGUYÊN
Trần Xuân An

.
Kiền Liên thương mẹ, thêm tâm Phật
người mẹ thương con, Ấn giáo truyền
xung đột nội tâm như nội chiến
ngỡ tan hiếu nghĩa, nhưng y nguyên

mẹ sa ngục đói, con tìm cứu
kẻ hận băm con, mẹ vọng hồn
chân lí chạm nhau, đời loé sáng
dội vào hiếu nghĩa mẹ cùng con

thánh chiến? Toạ thiền và lửa kiếm
Kiền Liên và mẹ, nạn nhân buồn
rồi sau tất cả là hiếu nghĩa
sâu thẳm Vu Lan ngân tiếng chuông

nhớ một tuần phim trong cõi Huế
bao nhiêu nước mắt sân chùa rơi
thấy trăm giáo thuyết đều phi nghĩa
nếu hiếu và ân khô cạn rồi!

thương quý Kiền Liên, lòng mẹ rộng
dẫu không kính Phật cùng chư tăng
Kiền Liên ơn mẹ, sâu muôn thuở
Đức Phật cùng tăng thương vạn năm.

T.X.A.
sáng Rằm tháng bảy HB16
(17-8-2016).

5
VU LAN, HIẾU VỚI DÂN VÀ NƯỚC
Trần Xuân An

chính Phật ba lần thân chặn giặc
xâm lăng còn lướt tới vây thành
Kiền Liên nghênh chiến, năm trăm lính
bình bát máu tràn cây cỏ xanh!

giọt máu cuối rơi càng rõ nghiệp
chánh tâm kháng cự, nghiệp tà tan
sử xanh thế giới đều tanh máu
dẫu bại, mãi ngời đức hiếu dân.

T.X.A.
tối 18 & sáng sớm 19-8-2016
(Vu Lan PL.2559 – HB16)

.

.
Đã đăng Facebook:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1758844254389518

.
Xem lại (bấm vào link hóa):
Bài 1
Bài 2
Bài 3
Bài 4
Bài 5
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.
.

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

HAI BÀI THƠ VỀ LỄ GIÁNG SINH 2017

Posted by Trần Xuân An trên 28.12.2017

hidden hit counter

 
.
Bài 10
CHÚA GIÊ-SU, NGƯỜI YÊU NƯỚC
Trần Xuân An

Người yêu nước với lòng lành
chết trên thập giá, máu thành mưa rơi

từ đất Chúa ngự lên trời
thế gian hoài mãi cõi đời khổ nhau

cao xanh Chúa vẫn không màu
một trong ngàn vạn bề sâu loài người

sử Việt là Kinh Thánh tôi
chương buồn Thập giá, rõ rồi, xưa xa

ngàn năm truyền thuyết mù sa
sử Do Thái lại sáng loà Giê-su

đích thực Chúa mỗi câu từ
ngoại xâm La Mã thôi hư huyền lời

linh hồn kiếp kiếp nơi nơi
bao người yêu nước thành Trời Đất thiêng.

T.X.A.
sáng 27-12-2017 HB17
.
Tham khảo thêm:
Trích thư của hai linh mục Phạm Bá Trực và Vũ Xuân Kỷ gửi giáo hữu nhân dịp Nô-en 1953, đăng trên báo Nhân Dân số 155, ngày 21-12-1953:
“Hơn 30 năm ở dưới thế, Chúa đã đấu tranh không ngừng chống bọn đế quốc Rô-ma, bọn vua quan Giu-dêu gian ác và bị chúng đóng đanh trên cây thánh giá”… Trong số báo đó, cố chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có viết một bài với bút danh C.B., trong mục “Nói mà nghe” với ngôn từ hiện đại, không cụ thể – lịch sử, có nội dung khẳng định Chúa Giê-su là người lao động yêu nước, đại để tương tự như hai linh mục trên (từ ảnh chụp tư liệu của FB. Nhà văn Đặng Thân; nguồn: Thư viện quốc gia Việt Nam; Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, xuất bản lần 3, Nxb. CTQG., 2011, tr.375-376).

ĐÃ CÔNG BỐ TRÊN FACEBOOK:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1981019848838623

https://txawriter.files.wordpress.com/2017/12/hcm_ve-gie-su_noel-1953.jpg?w=400

Bài 9
GIÁNG SINH, TRONG TÂM NGƯỜI
CÁI NHÌN MỚI
Trần Xuân An

Tự Đức và đại thần
          khát khao bậc cứu tướng
cứu tướng Việt và cứu chúa Giê-su,
          đâu phải khác chiều
bi kịch là khác cái nhìn,
          cái nhìn khác với giáo dân, cố đạo
một quét ngoại xâm,
          một lật đổ đương triều
.
cố đạo, giáo dân ước ao
          xô sập hay đục ruỗng,
          trơ không Nhà Nguyễn
khẩn cầu cứu chúa,
          từ ngoại bang
nên máu đổ,
          suốt Cần vương, Văn thân, thuở đó
do khác cái nhìn về Trương Định và về Giê-su,
          mà đúng, sai đều tan hoang
.
nếu chung một cái nhìn,
          cái nhìn đúng về Giê-su, đấng cứu chúa
thì làm sao giặc Pháp cướp,
          ta mất nước tan nhà
mong giáo dân chỉnh lại cái nhìn,
          hơn là oán hận thời sát tả
và cả Quốc khánh Ba số Một về sau,
          1963 *, với nhiều nguyên nhân gần, xa
.
Chúa cứu nước,
          mong quét sạch ngoại xâm La Mã
hay thoả hiệp vì quyền lực,
          ngỡ chỉ cứu linh hồn?
sao thần học nghiêng về phản nghịch,
          lỗi nghĩa cùng Chúa?
nên Văn thân sát tả
          đến Quốc gia 63 Sài Gòn
.
giáng sinh,
          hoài niệm về cận sử
không buồn,
          mà nội dung mới
          kinh “Ăn năn tội” xưa xa
giáng sinh trong tâm người:
          cái nhìn đúng về vĩnh hằng Cứu Chúa
về Quốc gia – Cộng hoà một thuở
          dù đã tiêu ma
.
Cứu Chúa Giê-su
          – biểu tượng của khát vọng độc lập
biểu tượng quét sạch ngoại xâm,
          nhưng không thành
còn là biểu tượng tôn giáo của vài tỉ người,
          nên không can dự vào chính trị
không ngự ở nước nào,
          mà chỉ ở cao xanh.

T.X.A.
sáng 25-12-2017 HB17

(*) 1-11-1963: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn
.
ĐÃ CÔNG BỐ TRÊN FACEBOOK:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1980150678925540
.
https://txawriter.files.wordpress.com/2017/12/hcm_pbtvxk_ve-gie-su_noel-1953.jpg?w=400
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »

THƯA RẰNG, HOÀ GIẢI DÂN TỘC LÀ GÌ VÀ THẾ NÀO?

Posted by Trần Xuân An trên 22.12.2017

hidden hit counter

 
.
THƯA RẰNG, HOÀ GIẢI DÂN TỘC LÀ GÌ VÀ THẾ NÀO?

https://txawriter.files.wordpress.com/2017/12/hoa-giai-dan-toc_anh-man-hinh_facebook_22-12hb17.jpg

.

Posted in Không phân loại | Tagged: | Leave a Comment »

CÔNG BỐ PDF TRỌN VẸN TẬP THƠ CHIẾC CẦU CHIẾN TRANH LẠNH (60 bài thơ)

Posted by Trần Xuân An trên 10.12.2017

hidden hit counter

 
.

CÔNG BỐ DẠNG SÁCH PDF

TRỌN VẸN 2 PHẦN

GỒM PHẦN 1 & PHẦN 2

(tổng cộng 60 bài thơ)

TẬP THƠ “CHIẾC CẦU CHIẾN TRANH LẠNH”:
https: //txawriter. files. wordpress. com/2017/12/txa_p1p2_chiec-cau-chien-tranh-lanh_60-bai_10-09-10-12hb17.pdf
Xin bấm vào đây
hoặc bấm vào 3 kí tự PDF bên dưới:
.
.
.

PDF

.
.
.
Tập thơ “Chiếc cầu Chiến tranh Lạnh”:

https://txawriter.files.wordpress.com/2017/09/bia-sach_jpeg.jpg?w=350

.

MỤC LỤC
30 BÀI
Chiếc cầu Chiến Tranh Lạnh – tập thơ (phần 1, 10-9-2017)

1. bài 1 ~ DÂY HOA MƯỚP ĐẮNG VÀ LỌ GỐM
2. bài 2 ~ KHÁT VỌNG THUẦN VIỆT
3. bài 3 ~ BẢN SẮC VIỆT
4. bài 4 ~ TRẦU CAU, RƯỢU – BÁNH THÁNH
& CHUÔNG CHÙA
5. bài 5 ~ TRẦN GIAN KHỔ ĐAU KHÔNG LỐI THOÁT
VÀ CÁNH CỬA TÔN GIÁO
6. bài 6 ~ TẤT YẾU VÀ LẠC QUAN
7. bài 7 ~ MẶN THƯA VỀ CHAY
8. bài 8 ~ 20-7-2017, CẦU Ý HỆ
9. bài 9 ~ GỖ MÀU ĐẤT, NƯỚC MÀU TRONG
10. bài 10 ~ BỤI MẦM, LINH HỒN ĐẦU THAI
11. bài 11 ~ CHIÊU TUYẾT LÍNH ĐỎ, LÍNH VÀNG
12. bài 12 ~ GHI CHÉP MỘT CÂU HỎI
THÁNG BẢY ÂM DƯƠNG
13. bài 13 ~ THƯA CÁC BÁC TIỀN BỐI
14. bài 14 ~ THOÁT CHIẾC CẦU Ý HỆ LỊCH SỬ
15. bài 15 ~ HAI CÂU
16. bài 16 ~ THẤP THOÁNG NGÂM KHÚC THỜI MÌNH
17. bài 17 ~ BỖNG HIỆN RÕ LĂNG BÀ HỌC PHI
18. bài 18 ~ NGẪM VỀ CÁC BIA MỘ DI TÍCH, LIÊN TƯỞNG
19. bài 19 ~ NỖI NHỚ CÔ GÁI THUỞ ĐÓ BÂY GIỜ
20. bài 20 ~ SỬ TRONG RẰM THÁNG BẢY
21. bài 21 ~ THUỞ ẤY, MIỀN NAM
22. bài 22 ~ GIÁ MẶC CẢ CỦA NGA XÔ
23. bài 23 ~ HOA VONG ƯU, ĐỔI MỚI VÀ ĐỔI MỚI
24. bài 24 ~ NGÀY TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NĂM NAY
25. bài 25 ~ NGÔI ĐÌNH PHAN HUYÊN
26. bài 26 ~ THƯỚC ĐO CỦA SỬ VÀ VĂN
27. bài 27 ~ MÙA HOA HỒNG BÁO HIẾU
28. bài 28 ~ BIỆN CHỨNG ĐỎ – VÀNG
29. bài 29 ~ HAI CHIẾC CẦU, HAI CHIẾC CÂN
30. bài 30 ~ BÌNH TÂM VỚI THƠ HOÀ GIẢI
~~~ Chú thích cần thiết
~~~ Danh mục tác phẩm của tác giả
~~~ Trân trọng mời xem

MỤC LỤC
30 BÀI
TẬP THƠ “CHIẾC CẦU CHIẾN TRANH LẠNH” (phần 2, ngày 10-12-2017)

31. bài 31 ~ HOÀ GIẢI LÀ KÊU ĐÒI
32. bài 32 ~ TỰ HÀO, MONG CÙNG TẠ LỖI
33. bài 33 ~ THÔI RỦA NGUYỀN NHAU NGỤY VÀNG, TAY SAI ĐỎ
34. bài 34 ~ KHI ĐỌC BÌNH LUẬN ĐẠI HỘI ĐẢNG TRUNG QUỐC XIX, VỀ BIỂN ĐÔNG
35. bài 35 ~ HÌNH TƯỢNG NỮ, LỜI QUÊ KHÔNG GÓP NHẶT
36. bài 36 ~ ĐÚC KẾT
37. bài 37 ~ LỚP TRẺ VIỆT NAM SAU 30-4-1975
38. bài 38 ~ NGÀY GIỖ, MẸ VỀ CHÙA
39. bài 39 ~ NGÀY GIỖ, MẸ VỀ NHÀ
40. bài 40 ~ BÃO LŨ CHIẾN TRANH
41. bài 41 ~ NGÀN NĂM LỊCH SỬ, KHỞI NGHĨA, CÁCH MẠNG
42. bài 42 ~ HAI GỌNG KÌM LỊCH SỬ ĐÃ GÃY
43. bài 43 ~ BẢY MƯƠI TƯ NĂM ĐỎ NGA
44. bài 44 ~ QUY LUẬT TỰ NHIÊN NHƯNG TRONG XÃ HỘI
45. bài 45 ~ LẠI GIẬT MÌNH, KIẾN NGHỊ
46. bài 46 ~ ĐẮNG CAY THÀNH ĐẤT NƯỚC
47. bài 47 ~ NẾN SINH NHẬT, HÌNH DUNG THEO ƯỚC LỆ
48. bài 48 ~ TUỔI THỜI ĐỎ VÀNG
49. bài 49 ~ HOÀNG SA, CỜ ẢO PHẢI THẬT
50. bài 50 ~ NHÀ-GIÁO-LƯƠNG-TRI TRONG MỖI NGƯỜI
51. bài 51 ~ LỌ HOA LOA ĐÀI, VÒNG TAY CHE CHỞ
52. bài 52 ~ ĐỘC LẬP THẬT, SAO ĐẾN NAY CÒN KHÁT VỌNG!
53. bài 53 ~ NẾP SỐNG GIỮA ĐỜI ĐA DẠNG
54. bài 54 ~ TỰ CHẨN BỆNH
55. bài 55 ~ VIẾT VỚI QUYỀN CÔNG DÂN
56. bài 56 ~ KẾT LUẬN TÔI LÀ NGƯỜI DẠI DỘT
57. bài 57 ~ QUỐC NGỮ ABC, YÊU KHÔNG ĐAU LÒNG
58. bài 58 ~ CHỮ THỊ QUỐC NGỮ
59. bài 59 ~ ÂM & DƯƠNG
60. bài 60 ~ GỬI VÀO NGÀN NĂM

61. Phụ lục: KHÔNG SỢ HÃI SỰ THẬT LỊCH SỬ,
Ý THỨC HỆ, DÙ GỐC ĐỎ HAY VÀNG (bài luận)

~~~ Danh mục tác phẩm của tác giả
~~~ Trân trọng mời xem

Tại http://www.tranxuanan-poet.net & http://www.tranxuanan-writer.net:

https: //sites. google. com /site/tranxuananpoet/danh-muc-tac-pham-txa/phat-hanh-tap-tho-chiec-cau-chien-tranh-lanh
http://www.tranxuanan-poet.net/ …

.

Posted in Không phân loại | Tagged: | Leave a Comment »

CÔNG BỐ DẠNG SÁCH PDF PHẦN 2 “CHIẾC CẦU CHIẾN TRANH LẠNH”

Posted by Trần Xuân An trên 10.12.2017

hidden hit counter

 
.
CÔNG BỐ DẠNG SÁCH PDF

PHẦN 2 (thêm 30 bài thơ)

TẬP THƠ “CHIẾC CẦU CHIẾN TRANH LẠNH”:
https: //txawriter. files. wordpress. com/2017/12/txa_p-2_30-bai60-bai_chiec-cau-chien-tranh-lanh_10-12hb171.pdf
Xin bấm vào đây
hoặc bấm vào 3 kí tự PDF bên dưới:
.
.
.

PDF

.
.
.
Phần 1 của tập thơ “Chiếc cầu Chiến tranh Lạnh” (30 bài thơ):
Xin bấm vào đây để đến trang có link
hoặc bấm vào 3 kí tự PDF bên dưới:
.
.
.

PDF

.
.
.
Tập thơ “Chiếc cầu Chiến tranh Lạnh”, phần 1 cộng với phần 2, gồm 60 bài thơ:

https://txawriter.files.wordpress.com/2017/09/bia-sach_jpeg.jpg?w=350

.

Posted in Không phân loại | Tagged: | Leave a Comment »

Thêm 5 bài thơ sau tập thơ Chiếc cầu Chiến tranh Lạnh (+30)

Posted by Trần Xuân An trên 10.12.2017

hidden hit counter

 
.
Bài 56
Bài 26 sau tập thơ Chiếc cầu Chiến tranh Lạnh
KẾT LUẬN
TÔI LÀ NGƯỜI DẠI DỘT
Trần Xuân An

đất nước là núi sông, đồng biển
mây che núi, rong giấu lòng sông
đồng khuất lúa xanh, biển thẳm đáy
tôi dại khờ hỏi hiểu nhau không

hiểu chiến tranh không, ơi hậu chiến
máu xương ơi, có hiểu máu xương
tiểu thuyết dại, mỗi tờ hai phía
trang đất, trang nước, một yêu thương

bút thơ giữa hai gọng kìm ngoại
phải nhìn thẳng mỗi khối, mỗi miền
buộc ngàn độ bút, nóng và lạnh
Cầu Ý Hệ: bút chẳng rã riêng

hiện thực bẻ hai gọng kìm ngoại
gãy, vẫn còn trong tay người mình
xin cất đi, cho nước hiểu đất
Cầu Ý Hệ vẫn bút yên bình

Hiền Lương vàng xanh hai khúc bút
mực Bến Hải, rõ đỏ và vàng
tôi dại dột, nối lòng nhân loại
đất hiểu nước, kết lại trần gian.

T.X.A.
06:39 – 09:11, 01-12-2017 HB17
.
Ảnh: Tác giả đứng giữa cầu Hiền Lương, Bến Hải, Quảng Trị — Nhiếp ảnh: TX. Thuận, 3-2017 .

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1968690213404920

Bài 57
Bài 27 sau tập thơ Chiếc cầu Chiến tranh Lạnh
QUỐC NGỮ ABC, YÊU KHÔNG ĐAU LÒNG
Trần Xuân An

chữ viết này, xưa là vũ khí
giặc làm mù kẻ sĩ văn thân
nhân dân thoát Tàu, rèn thêm chữ
đánh trả Tây tâm địa thực dân

quốc ngữ, giữ gìn và hiểu đúng
để lòng yêu chữ không đau lòng
vũ khí giặc, ta dùng đuổi giặc
hát hoài điệp khúc với non sông.

T.X.A.
chiều 01-12-2017 HB17
.
Bản đồ các hệ chữ cái trên thế giới. Nguồn: Wikipedia
https://txawriter.files.wordpress.com/2017/12/cac-he-chu-cai_ban-do_wikipedia.png?w=400

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1968821643391777

Bài 58
Bài 28 sau tập thơ Chiếc cầu Chiến tranh Lạnh
CHỮ THỊ QUỐC NGỮ
Trần Xuân An

cô gái Việt, nét vẽ Âu – bức tranh Quốc Ngữ!
là hai mươi chín chữ cái a b c, kẻ sĩ căm thù
nhưng lâu đời rồi, thuở cái học nhà nho bị phá hỏng
tranh mang tâm hồn Hàn Thuyên, Nguyễn Du

bức tranh bỗng thành tấm bia, hai mươi chín vết đạn
viên đạn nào cũng chẳng tội tình gì
thù kẻ ra lệnh bắn, thù chi chữ cái
nho sĩ gác bút lông, vẽ tranh bằng chữ bút chì

bức tranh, vẽ bằng hai mươi chín chữ cái
tôi như gã thư sinh ngủ thiếp trên sách thôi
tỉnh lại, tranh Quốc Ngữ, nét chỉ là kí hiệu
ghi âm tiếng nói giống nòi

kho sách chứa đựng cao sang và phàm tục
nhưng hai mươi chín chữ cái vô tư
từ điển cũng vô tư, giữ nguyên tiếng nói
không thể sửa tranh Quốc Ngữ, thiên thu

xưa vũ khí chữ la tinh, giặc bắn càn năm châu lục
chữ Nôm viết Truyện Kiều cũng đổ máu, hi sinh
cướp vũ khí giặc, cả trăm nước thắng giặc
nhìn bản đồ các hệ chữ cái cũng giật mình

cũng giật mình nhìn quanh, Hàn, Thái, Nhật
như chế tác chữ Nôm, chữ cổ họ tươi nguyên
họ phát triển, sáng bừng văn chương, công nghệ
những tên tuổi giáo sĩ xưa, nhoè ích kỉ, có còn thiêng!

giờ có thể sáng tạo lại chăng, tranh Quốc Ngữ mới?
sao lại không! Nhưng để làm chi!
cần gần giống nhau, mẫu tự truyền thông tin, giao tiếp
đâu cần độc sáng nét màu riêng, độc lập như quốc kì

chinh phụ, cung nữ, ca nhi thi sĩ
cùng bao cô gái ca dao thay lớp áo chữ Nôm
trong tranh Quốc Ngữ, điển hình gương vóc Việt
nguyên vẹn, lấp lánh sao mai, khi tắt sao hôm

tranh Quốc Ngữ, đã trau chuốt, định hình, không sửa nữa
luyện đọc và nói sáu thanh, chuẩn chữ, chuẩn vần
tiếng tổ tiên nguyên trên lưỡi, trên môi, nơi thanh quản
ngàn năm còn tròn vành, rõ giọng, vang ngân.

T.X.A.
tối 01 & sáng 02-12-2017 HB17

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1968924173381524

Bài 59
Bài 29 sau tập thơ Chiếc cầu Chiến tranh Lạnh
ÂM & DƯƠNG
Trần Xuân An

tôi trải hết lòng mưa, với nắng
và phơi gan ruột nắng, cùng mưa
kháng chiến, ngoại tranh trong nội chiến
chiến tranh trên mạng, đã thôi chưa?

nắng cũ cũng không còn nắng cũ
mưa xưa đã biến dịch mưa xưa
nguyên âm trừ nối nguyên dương cộng
trong từng sợi nắng, mỗi tơ mưa

thế giới đã chia đôi: nội chiến
nước ta nội chiến mọi nhà ta
bây giờ nội chiến riêng người một
mưa nắng, âm dương, thương thịt da

trái đất không thôi mưa, hết nắng
nắng mưa xanh lại mọi tâm hồn
chẳng ai mưa suốt hay toàn nắng
vũ trụ hài hoà mắt biết hôn.

T.X.A.
05:15 – 08:01, 03-12-2017 HB17

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/969627036644571

Bài 60
Bài 30 (kết) sau tập Chiếc cầu Chiến tranh Lạnh
GỬI VÀO NGÀN NĂM
Trần Xuân An

ba đoá đào đỏ *
hai bông mai vàng *
muôn đời thơm sử
dọc dài thời gian

chống năm giặc ngoại
dù ở hai miền
khăng khăng một phía
lương tâm sao yên

mong ngày giũ sạch
cờ quạt ngoại lai
người thắng vẫn thắng
không ai buồn ai

thơ dài câu chữ
điệp khúc cũng nhàm
mong hoài vang vọng
gửi vào ngàn năm.

T.X.A.
14:23 – 17:01, 03-12-2017 HB17
……………………

(*) “3 đoá đào đỏ, 2 bông mai vàng”, xin hiểu theo câu thơ sau đó: “chống 5 giặc ngoại…”.
.
Ảnh: Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, trước 1967 – tạp chí Life.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1969810463292895

MỤC LỤC
30 BÀI
SAU TẬP THƠ “CHIẾC CẦU CHIẾN TRANH LẠNH”

31. bài 31 ~ HOÀ GIẢI LÀ KÊU ĐÒI
32. bài 32 ~ TỰ HÀO, MONG CÙNG TẠ LỖI
33. bài 33 ~ THÔI RỦA NGUYỀN NHAU NGỤY VÀNG, TAY SAI ĐỎ
34. bài 34 ~ KHI ĐỌC BÌNH LUẬN ĐẠI HỘI ĐẢNG TRUNG QUỐC XIX, VỀ BIỂN ĐÔNG
35. bài 35 ~ HÌNH TƯỢNG NỮ, LỜI QUÊ KHÔNG GÓP NHẶT
36. bài 36 ~ ĐÚC KẾT
37. bài 37 ~ LỚP TRẺ VIỆT NAM SAU 30-4-1975
38. bài 38 ~ NGÀY GIỖ, MẸ VỀ CHÙA
39. bài 39 ~ NGÀY GIỖ, MẸ VỀ NHÀ
40. bài 40 ~ BÃO LŨ CHIẾN TRANH
41. bài 41 ~ NGÀN NĂM LỊCH SỬ, KHỞI NGHĨA, CÁCH MẠNG
42. bài 42 ~ HAI GỌNG KÌM LỊCH SỬ ĐÃ GÃY
43. bài 43 ~ BẢY MƯƠI TƯ NĂM ĐỎ NGA
44. bài 44 ~ QUY LUẬT TỰ NHIÊN NHƯNG TRONG XÃ HỘI
45. bài 45 ~ LẠI GIẬT MÌNH, KIẾN NGHỊ
46. bài 46 ~ ĐẮNG CAY THÀNH ĐẤT NƯỚC
47. bài 47 ~ NẾN SINH NHẬT, HÌNH DUNG THEO ƯỚC LỆ
48. bài 48 ~ TUỔI THỜI ĐỎ VÀNG
49. bài 49 ~ HOÀNG SA, CỜ ẢO PHẢI THẬT
50. bài 50 ~ NHÀ-GIÁO-LƯƠNG-TRI TRONG MỖI NGƯỜI
51. bài 51 ~ LỌ HOA LOA ĐÀI, VÒNG TAY CHE CHỞ
52. bài 52 ~ ĐỘC LẬP THẬT, SAO ĐẾN NAY CÒN KHÁT VỌNG!
53. bài 53 ~ NẾP SỐNG GIỮA ĐỜI ĐA DẠNG
54. bài 54 ~ TỰ CHẨN BỆNH
55. bài 55 ~ VIẾT VỚI QUYỀN CÔNG DÂN
56. bài 56 ~ KẾT LUẬN TÔI LÀ NGƯỜI DẠI DỘT
57. bài 57 ~ QUỐC NGỮ ABC, YÊU KHÔNG ĐAU LÒNG
58. bài 58 ~ CHỮ THỊ QUỐC NGỮ
59. bài 59 ~ ÂM & DƯƠNG
60. bài 60 ~ GỬI VÀO NGÀN NĂM

61. Phụ lục: KHÔNG SỢ HÃI SỰ THẬT LỊCH SỬ,
Ý THỨC HỆ, DÙ GỐC ĐỎ HAY VÀNG (bài luận)

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »