Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Posts Tagged ‘Ton That Thuyet’

THỬ TRẢ LỜI BÀI BÁO CỦA NHÀ BÁO KÌ CỰU PHAN QUANG

Posted by Trần Xuân An trên 13.03.2016

hidden hit counter

 
.
.
Bài đã được gửi đăng trên báo chí
THỬ TRẢ LỜI BÀI BÁO CỦA NHÀ BÁO KÌ CỰU PHAN QUANG
(Vua Hàm Nghi nghỉ lại nhà ai trên đường từ Huế ra Tân Sở năm thất thủ kinh đô 1885?)
Trần Xuân An

I. BĂN KHOĂN TỪ LỜI KỂ ĐẾN SÁCH SỬ

Trong một bài báo, đăng trên tạp chí Sông Hương năm 1989 (1), nhà báo Phan Quang nêu ra một băn khoăn từ thời tấm bé, liên quan đến lộ trình vua Hàm Nghi từ Huế bôn tẩu ra Tân Sở, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, sau cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ năm Ất Dậu (1885). Điều đó khiến ông không nguôi trăn trở, thắc mắc. Trong nhiều năm qua, bài báo ấy ông đã cho đăng ở nhiều báo khác và cũng in trong một cuốn sách ông viết về quê hương Quảng Trị. Mới nhất, ngày 05-3-2016, ông cho đăng lại trên báo Lao Động cuối tuần, với những bổ sung mới liên quan đến nghi vấn ấy, nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm. Ông viết: “Cha tôi thường kể: “Vườn mình xưa kia rộng lắm, nó trải từ bờ sông ra đến gần sát đường quan, cách đường có một dải ruộng rộc. Vì cảnh nhà sa sút, khoảnh vườn phải chia bốn xẻ ba, còn lại có thế này”. Cha lại kể: “Nhà mình xưa kia giàu lắm”. “Vì sao nhà mình nghèo đi?”. Cha thì thầm: “Vì vua đến rồi vua đi. Bất kỳ nhà ai, hễ vua ghé rồi vua đi thì không về nhà đó sẽ sa sút” (2). “Vua nào vậy?”. Trẻ thơ bao giờ cũng tò mò. Cha ghé sát vào tai tôi, tiếng thì thầm càng nhỏ hơn: “Đức Hàm Nghi” (3). Nhưng cả bài viết và phần bổ sung vẫn đọng lại ở một câu hỏi!

Như thế, băn khoăn, thắc mắc ấy vẫn còn đó, và ông chưa tìm ra lời giải đáp.

Điều người đọc nhận ra trước tiên, câu hỏi Phan Quang nêu ra, không phải khởi xuất từ sách vở, mà do chính chuyện thân phụ ông thầm thì kể lại cho ông. Người chị ruột của ông cũng như nhà báo Lê Bân, người gọi ông bằng cậu, cũng được nghe kể lại như vậy. Theo Phan Quang, sau này, khi ông lớn lên, có dịp đọc “Việt Nam sử lược” của học giả Trần Trọng Kim, câu hỏi ấy càng lớn dần trong ông. Phan Quang trích dẫn:

“… Lúc bấy giờ, vương tôn công tử, người đi ngựa, kẻ đi chân, dân gian thì trẻ cõng già, đàn bà dắt trẻ con, ai nấy chạy hốt hoảng tìm đường tránh cho khỏi chỗ binh đao.

Xa giá đến Trường Thi (*) vào nghỉ được một lát, thì Tôn Thất Thuyết lại giục lên đường, nói rằng quân Pháp đã sắp đuổi tới. Tối ngày 23 tháng 5, xa giá vào nghỉ nhà một người bá hộ, sáng ngày 24 ra đi, đến tối mới tới thành Quảng Trị. Quan tuần phủ Trương Quang Đản ra rước xa giá vào Hành cung và đặt quân lính để phòng giữ…” (4).

Do đó, nhà báo Phan Quang viết tiếp: “Tôi hằng trăn trở: “Người bá hộ” ấy có đúng là cụ Phan Duy Tân ông nội mình?” (3).

Và về sau nữa, trải qua mấy chục năm, mãi đến năm 2014, Phan Quang bắt gặp được một tư liệu khác, tuy không phải là sử kí hay nghiên cứu sử học, mà chỉ là hồi kí của một cá nhân: “Khúc tiêu đồng” của Hà Ngại. Viên quan triều Nguyễn ấy, làm quan sau thời 1885 khá xa, nên mức độ khả tín của cuốn sách cũng hạn chế. Dẫu vậy, Phan Quang trích dẫn:

“Vua và Thái hậu xa giá vừa đến Cửa Hữu, Nguyễn Văn Tường chực sẵn để xin hộ giá. Có chỉ truyền: “Tường nên ở lại lo việc nước”. Xa giá đến chùa Thiên Mụ, Tôn Thất Thuyết đến xin vua nghỉ một chút rồi tiếp tục đi ra Quảng Trị. Đêm ấy nghỉ tại nhà một bá hộ. Chiều ngày 24 đến Quảng Trị, quan Tuần vũ Trương Quang Đản rước vào Hành cung, tuần phòng cẩn mật…” (5).

Xem ra, riêng đoạn trích này, Hà Ngại (HN.) viết hầu như không khác gì Trần Trọng Kim (TTK.), như thể tác giả “Khúc tiêu đồng” đã chép lại của tác giả “Việt Nam sử lược”:

1) Vua Hàm Nghi cùng Ba Cung (thái hoàng thái hậu Từ Dụ, hai hoàng thái phi – vợ của tiên đế Tự Đức) và đoàn tuỳ tùng có nghỉ lại trong đêm 23-5 năm Ất Dậu (tức đêm 05-7-1885) tại nhà một bá hộ trên đường từ Huế ra đến hành cung tại Thành Quảng Trị;

2) Sáng 24 (tức 06-7-1885), vua Hàm Nghi cùng Ba Cung và đoàn lại đi tiếp, đến tối (theo TTK.) hoặc chiều (theo HN.) mới tới Thành Quảng Trị.

Chính Trần Trọng Kim (sách xuất bản lần thứ nhất, 1921) và Hà Ngại (sách xuất bản năm 2014) đã củng cố thêm, để lời kể thì thầm từ cha ruột trong thời tuổi nhỏ của Phan Quang trở thành như là một sự thật được xác nhận: Vua Hàm Nghi có nghỉ đêm tại nhà một bá hộ thật. Nhưng bá hộ ấy có phải là ông nội của Phan Quang, tức là cử nhân Phan Duy Tân, làm quan đến chưởng ấn (6), vì nhiều lần can vua, nhưng không hợp, nên bị huyền chức (theo gia phả), hay không, như thân phụ ông đã kể?

Riêng bản thân tôi (Trần Xuân An), tôi cũng đã nhiều lần từng nghe đọc lịch sử làng Diên Sanh, mỗi khi vào dịp tế lễ tại đình làng (7) trong những năm tôi có mặt tại làng ấy, và mới đây cũng đọc được một văn bản có nhan đề là “Sơ lược lịch sử làng Diên Sanh”, do ông Nguyễn Tín Thừa chấp bút ngày 20-02 Quý Tị (31-02-2013). Cả hai nguồn này, trong đó đều có thông tin: Đình làng Diên Sanh là nơi vua Hàm Nghi nghỉ lại, trên đường từ Huế ra Quảng Trị, sau khi kinh đô thất thủ (05-7-1885, tức ngày 23-5 Ất Dậu), tuy không xác định thời gian dừng chân, nghỉ lại là giờ nào, bao lâu.

Như vậy, đâu là sự thật? Vâng, đâu là sự thật, mặc dù phải nói thẳng rằng đây không phải là một tình tiết lịch sử cực kì quan trọng đối với sử học mà, đúng ra, nó vô cùng quan trọng đối với nhà báo lão thành Phan Quang chỉ vì liên quan đến kỉ niệm gia đình, quê hương và tuổi thơ ông, đặc biệt là đối với ngày giỗ chung của nhiều gia đình trong họ, trong làng, vì đã có người ra đi theo vua Hàm Nghi, từ sáng hôm sau của đêm hôm ấy, và mãi mãi không về nữa?

Dẫu sao, tôi không thể không mạn phép truy vấn vào vấn đề, vì Ngày Giỗ chung ấy ở Thượng Xá đã tác động vào tôi, một đứa cháu ngoại của làng quê đó (mẹ tôi thuộc họ Phan nhánh Văn).

Tôi ngẫm nghĩ, và thấy có hai điểm cần nêu ra từ bài viết trên của Phan Quang:

1) Theo thông tin trong bài viết ấy, thì người bá hộ có thể là thân sinh của cử nhân, chưởng ấn Phan Duy Tân, tức là ông cố nội (cụ nội) của Phan Quang, cũng là người gọi chưởng vệ, thống chế Phan Bân (8) là anh ruột, chứ không nhất thiết là ông Phan Duy Tân. Vị cố nội này, một người giàu có, nhưng không làm quan, nên gọi là bá hộ, hẳn hợp lí hơn.

2) Nếu vua Hàm Nghi cùng Ba Cung và đoàn tuỳ tùng nghỉ đêm tại nhà em ruột thống chế Phan Bân ở làng Thượng Xá, Hải Thượng, Hải Lăng, tức nhà của gia tiên ông Phan Quang, thì không được hợp lí lắm, nếu theo trích đoạn từ sách Trần Trọng Kim, sách Hà Ngại. Bởi lẽ, từ làng của Phan Quang ra đến Thành Quảng Trị (nay thường gọi là Thành Cổ hay Cổ Thành) chỉ khoảng 5 km đường bộ, không có sông giữa quãng đường ấy, mà phải đi từ sáng đến chiều hoặc đến tối mới tới sao? Vua và Ba Cung cùng tuỳ tùng đang chạy giặc, để tìm cách khôi phục kinh đô, nghĩa là trong tình huống cực kì khẩn cấp, chứ đâu phải nhẩn nha du ngoạn! Vì vậy, có thể đặt giả thiết: Vua Hàm Nghi và đoàn nghỉ đêm tại Văn Xá. Tuy nhiên, Văn Xá là nơi có nhà cửa ruộng vườn của gia tộc thân mẫu vua Minh Mạng và có đền thờ bên ngoại của tiên đế (ngoại từ nhà Nguyễn), sao Trần Trọng Kim, Hà Ngại lại gọi là nhà một người bá hộ, một từ dùng để phong cho nhà giàu thường dân (bá hộ, thiên hộ)?

Tôi phải tra cứu từ tư liệu chuẩn cứ là “Đại Nam thực lục”.

II. TRA CỨU TƯ LIỆU CHUẨN CỨ

Quốc sử quán triều Nguyễn viết trong “Đại Nam thực lục” như sau:

“(Khi đó, [đoàn] tùy [tùng và xa] giá, chỉ có xe loan [:xe vua Hàm Nghi, xe Tam Cung] và lính biền binh lẻ tẻ chầu chực, trên dưới ước một trăm (100) người. Còn dư [:số còn lại là] các dinh vệ, sau khi thua trận, đều [lập] tức tìm đường tản về quê quán).

Giờ ngọ [11 – 13 giờ], [đoàn tuỳ tùng, xa giá] mới đến xã Văn Xá [gần Huế]. Nghỉ một chút, [phụ chính Tôn Thất] Thuyết tức thì kèm vâng mệnh vua, [tường thuật] đêm qua, tình hình vua phải ra đi, thông báo cho thiên hạ cần vương (9). [Ông sai phái lính trạm] lần lượt [thông] tư cho Nam Bắc tuân làm.

Ngày bính thìn [hai mươi tư tháng năm (06.07.1885)], vua cùng với xa giá Ba Cung [Tam Cung] đến tỉnh Quảng Trị; dừng nghỉ ở hành cung” (10) (11).

Trước đoạn trích này, “Đại Nam thực lục” còn cho biết: “Giờ thìn [07 – 09 giờ sáng] hôm ấy, [xa giá vua Hàm Nghi và xa giá Tam Cung] bắt đầu từ cửa Tây Nam ra”; “[Nguyễn] Văn Tường vâng ý chỉ của Từ Dụ thái hoàng thái hậu và lưu lại giảng hòa” (12); “[Phụ chính Tôn Thất] Thuyết ra sau, gặp [xa] giá, bèn một mình hộ chuyển [xa giá] đến Trường Thi (ở xã La Chử). Nhân [thế, ông] kèm [xa giá] đi ra ngoài [phía] bắc (10).

Theo đó, mặc dù Trần Trọng Kim và Hà Ngại đều viết gần y hệt như vậy, chỉ khác là hai ông này có thêm chi tiết vua Hàm Nghi và đoàn nghỉ đêm 23-5 Ất Dậu tại một nhà bá hộ, còn “Đại Nam thực lục” không viết rõ nghỉ đêm tại nhà ai cả, cũng không phải tại đình làng nào.

Rút gọn và rõ hơn, theo “Đại Nam thực lục” về lộ trình:

1) Từ khoảng 7 đến 9 giờ, sáng ngày 23-5 Ất Dậu, vua Hàm Nghi và Ba Cung, với khoảng một trăm quan lính, từ Cửa Tây Nam Thành Nội ra khỏi thành, lên chùa Thiên Mụ, ra Trường Thi ở La Chử;

2) Từ khoảng 11 giờ trưa đến 13 giờ trưa mới đến Văn Xá;

3) Ngày hôm sau, 24-3 Ất Dậu (06-7-1885), mới đến Hành cung tại tỉnh Quảng Trị (tức là tại Thành Quảng Trị) (11).

Thử làm một phép tính, khi biết quãng đường từ kinh thành Huế đến thành tỉnh Quảng Trị là khoảng 54 km (tạm theo cách tính sau này), trong đó có các đoạn đường:

Từ kinh thành Huế ra đến Văn Xá, quãng cách là khoảng 13 km;

Văn Xá – Thượng Xá = khoảng 36 km;

Thượng Xá – thành tỉnh Quảng Trị = khoảng 5 km;

Mỗi giờ đi bộ được cỡ 5 km, theo cách tính thông thường;

5 km x 7 giờ = cỡ 35 km (cho tương đương 36 km)

Từ Văn Xá ra đến Thượng Xá có quãng cách là 36 km, phải đi trong khoảng 7 giờ đồng hồ. Vậy, nếu khởi hành từ Văn Xá lúc 12 giờ trưa, vua Hàm Nghi và đoàn đến Thượng Xá vào thời điểm sớm nhất là từ 18 giờ chiều đến 19 giờ tối, muộn nhất là 20 giờ tối (thời điểm đường đi tối tăm, không thể dùng đuốc, đèn lồng, vì sợ lộ, dễ trở thành mục tiêu). Có thể tính thêm vào đó quãng thời gian dừng chân uống nước tại đình làng Diên Sanh.

Nhưng điểm bất cập vẫn còn đó, nếu theo Trần Trọng Kim, Hà Ngại: Tại sao từ Thượng Xá đến thành tỉnh Quảng Trị chỉ 5 km mà vua Hàm Nghi và đoàn lại đi suốt cả ngày 24-3 Ất Dậu, đến chiều hay tối 24 ấy mới tới? Phải chăng nên viết là: mờ sáng tinh sương 24-3 Ất Dậu, lại đi tiếp, tới lúc trời còn tối đã đến thành Quảng Trị?

Chính Quốc sử quán triều Nguyễn, trong “Đại Nam thực lục”, không viết tới nơi vào giờ nào cả: “Ngày bính thìn [hai mươi tư tháng năm (06.07.1885)], vua cùng với xa giá Ba Cung [Tam Cung] đến tỉnh Quảng Trị; dừng nghỉ ở hành cung” (10). Theo đó, có thể vua Hàm Nghi và đoàn đã tới thành tỉnh Quảng Trị vào buổi sáng sớm 24-3 Ất Dậu, vì quãng đường 5 km, chỉ cần đi một giờ đồng hồ là tới rồi.

Như vậy, cho đến dòng chữ này, chúng ta thấy về thời gian đi đường có thể xem như là hợp lí, còn câu hỏi Phan Quang nêu ra: vua Hàm Nghi và Ba Cung cùng đoàn tuỳ tùng nghỉ đêm ở nhà bá hộ nào, thì cũng chưa chắc là nhà bá hộ, vì “Đại Nam thực lục” không xác nhận, còn bá hộ ấy tên gì, thì cả hai nguồn tư liệu Trần Trọng Kim và Hà Ngại đều không ghi, và dĩ nhiên “Đại Nam thực lục” đã không ghi nghỉ đêm tại nhà bá hộ hay tại đâu, thì cũng chẳng ghi tên chủ nhà có được hân hạnh đó. Chỉ còn mỗi một gia đình và những người cùng họ tộc của nhà báo Phan Quang có người ra đi cùng vua Hàm Nghi, vĩnh viễn không về, nên có chung Ngày Giỗ 23-5 Ất Dậu, là còn ghi nhớ.

Thật ra, với bài viết này, ngoài việc tôi góp phần vào việc phân tích, nhận xét, đánh giá tính hợp lí về lộ trình – thời gian của vua Hàm Nghi và đoàn, nếu Thượng Xá, Hải Thượng là nơi vua và đoàn ghé nghỉ đêm, tôi cũng đồng thời góp phần củng cố thêm “lời-thì-thầm-cha-kể” mà Phan Quang không bao giờ quên, bằng cách viết rõ hơn về nhân thân, hành trạng và tiết tháo của chưởng vệ (được truy phong thống chế) Phan Bân, để thấy rằng Tôn Thất Thuyết đã tin cậy khi chọn nhà của em ruột Phan Bân, kề nhà vợ con Phan Bân, làm chỗ nghỉ đêm cho vua và tam cung cùng tuỳ tùng: tính hợp lí về nơi nghỉ đêm. Thêm vào đó, ở đây, tôi bổ sung thêm một chi tiết: Thượng Xá là nơi có nhà trạm thuộc hệ thống bưu chính, liên lạc của nhà nước thời đó (13). Do đó, càng củng cố thêm về tính hợp lí trong việc vua Hàm Nghi và đoàn dừng chân, nghỉ ngơi tại đây.

Vả lại, có người đọc sẽ thắc mắc, vì sao không có vật chứng nào, như kỉ vật áo bào, thanh kiếm vua Hàm Nghi đã trao tặng như đã thưởng công cho những gia chủ các nhà vua ghé lại ở Cam Lộ, Hướng Hoá, Quảng Trị hay ở Hương Sơn, Hà Tĩnh? Lời đáp chỉ là thế này: Khi dừng chân nghỉ đêm tại Thượng Xá, Hải Thượng, vua Hàm Nghi và đoàn còn nhiều hi vọng trở về Huế, không nghĩ là ra đi biền biệt, không hẹn ngày về, nên cũng không vội trao kỉ vật như một cách tưởng thưởng, mà nghĩ rằng sẽ hậu thưởng về sau; còn khi trao kỉ vật tại Cam Lộ, Hướng Hoá, Hương Sơn là khi lòng vua và đoàn nhận thấy khó có dịp trở về Huế để hậu thưởng cho họ được nữa.

Tuy vậy, một khi “Đại Nam thực lục”, vốn là tư liệu chuẩn cứ, không ghi nhận, cả đến những tư liệu tham khảo khác cũng không ghi nhận, thì đó chỉ là gia sử, hương sử, dã sử. Như đã nói, có những vụ việc cực kì quan trọng đối với một gia tộc, đối với một số người, đặc biệt quan trọng đối với tuổi thơ một cá nhân như tuổi thơ nhà báo lão thành Phan Quang, nhưng đối với lịch sử dân tộc thì không phải là sự kiện trọng đại cần ghi chép.

III. THỬ ĐƯA RA LỜI GIẢI KHẢ TÍN

Cuối cùng, để tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi mà nhà báo Phan Quang nêu ra, tôi xin viết vắn tắt như sau: Trên đường từ Tử cấm thành – Đại nội (trong kinh thành thuộc kinh đô) tại Huế ra đến tỉnh thành Quảng Trị (thành gạch tại phường Thạch Hãn, nay gọi là Thành Cổ, chứ chưa phải là Tân Sở, thuộc huyện Cam Lộ, Quảng Trị), vua Hàm Nghi và Ba Cung cùng đoàn tuỳ tùng đã dừng chân tại nhiều nơi, như Trường Thi (La Chử), Văn Xá, và chắc thêm vài nơi khác nữa trên đường đi, trước khi ra Diên Sanh, Thượng Xá (hai điểm dừng chân cuối cùng trên lộ trình này), rồi mới tới tỉnh thành Quảng Trị. Chúng ta chỉ nói là vua và đoàn có dừng chân, nghỉ ngơi, chứ đừng xác quyết có nghỉ đêm. Vả lại, trên đường chạy giặc, không thể không lo giặc Pháp sẽ truy kích, mặc dù đã phân công Nguyễn Văn Tường chịu hi sinh ở lại Huế để cản hậu giặc bằng ngoại giao, thì việc vua và đoàn nghỉ đêm là đáng ngờ! Do đó, việc các tộc phả tại Diên Sanh có ghi chép và việc nhà báo Phan Quang có nghe thân phụ kể đều đúng, đúng là vua và đoàn có ghé lại, nghỉ chân.

Với thông tin từ “Đại Nam thực lục” (không nói việc nghỉ đêm), chúng ta có thể lí giải như vậy. Lời giải này cũng khớp với thông tin truyền lại từ thuở đó đến bây giờ tại Diên Sanh và khớp với điều nhà báo Phan Quang nghe kể từ thân phụ ông (“Vua Hàm Nghi ghé làng tôi”, tôi nhấn mạnh từ “ghé”).

Kết luận này không vượt ra khỏi “Đại Nam thực lục”, cho nên mức độ khả tín là rất cao.

Tuy vậy, nếu đẩy vấn đề đến tận cùng, chúng ta cũng có thể hình dung ra, cho dù không thể đoan chắc, rằng: Nhóm chủ chiến triều đình Huế đã lường trước lộ trình nhà vua, Tam Cung sẽ chạy ra thành tỉnh Quảng Trị, lên thành Tân Sở, nên có thể có khả năng là họ đã tổ chức các điểm phục kích chặn đường quân Pháp truy kích, họ cũng đã tổ chức dàn cảnh nghi binh, đánh lừa giặc Pháp, chẳng hạn như xa giá và tuỳ tùng (giả) dừng chân ở điểm X, nhưng thực ra xa giá, tuỳ tùng (thật) đã ở điểm Y.

IV. ĐỀ XUẤT THÊM

Riêng tôi, tôi xin tỏ bày lòng trân trọng và quý mến một trang gia sử của nhà báo Phan Quang, một kỉ niệm đầy ấn tượng từ lời-thì-thầm-cha-kể của tuổi thơ ông. Và đối với tôi, tôi cũng xin cảm ơn bài báo của ông, trong đó có những chi tiết về một nhân vật lịch sử mà tôi vô cùng ngưỡng mộ, đã viết thành một đoạn truyện kí lịch sử và thành một bài thơ. Đó là chưởng vệ, thống chế Phan Bân (Phan Thanh Bân), ông cụ nội thúc bá (ông cố bác), tức là anh ruột của cụ nội nhà báo Phan Quang:

1
PHAN BÂN (? – 1869), QUAN CHƯỞNG VỆ ANH HÙNG,
TỬ TIẾT TRÊN MẶT TRẬN CHỐNG PHỈ “GIẶC CỜ” Ở BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

“… Ngoài những trận đánh tán tương Nguyễn Văn Tường trực tiếp xung trận, ông còn thu thập, nghiên cứu nhiều trận đánh tiễu trừ bọn phỉ ở các quân thứ khác trên khắp núi rừng biên giới phía Bắc. Trận quân Thanh phối hợp với thảo nghịch tả tướng quân Nguyễn Hiên ở Kỳ Lừa, Chu Quyển, Đồng Đăng cũng rất đáng nhớ. Đáng nhớ nhất là bọn phỉ Thái bình thiên quốc đã chia rẽ nhau đến mức trầm kha. Phỉ Cờ vàng do Hoàng Sùng Anh (Hoàng Anh) làm đầu sỏ đang quyết đánh với phỉ Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc. Giữa chúng với nhau đã nhiều phen máu đổ thịt rơi. Lưu Vĩnh Phúc từng toan chiếm cứ Cao Bằng, giết chóc dân ta ở biên giới không ít, nhưng nay chừng như muốn quy thuận quan quân ta. Hắn quyết đánh Hoàng Sùng Anh để lập công chuộc tội. Hắn không dám về nước Thanh, sợ sẽ bị xử tử hình! Tuy nhiên, có lẽ không việc nào gây xúc động cho ba quân, và chắc hẳn không bao giờ phai nhạt trong trí nhớ Nguyễn Văn Tường, trong kí ức quan binh như cái chết tử tiết dũng cảm của đề đốc quân thứ Thái Nguyên Phan Bân. Phan Bân người huyện Hải Lăng, thuộc tỉnh Quảng Trị. Vị tướng này vốn là quan chưởng vệ, lãnh đạo một vệ quân lớn ở Hải Dương – Quảng Yên. Dân làng quê ông thường gọi là Ông Chưởng. Tướng Phan Bân, trước đây sung làm đề đốc quân thứ Lạng – Bằng, sau đó được điều chuyển qua quân thứ Thái Nguyên để truy kích tên tướng phỉ Ngô Côn. Năm ngoái, Phan Bân bị giặc bắt sống được, khi ông dẫn quân đánh đồn Chợ Mới. Vua Tự Đức rất buồn khi được tin, liền chuẩn cho các quan quân thứ tìm cách đòi về cho bằng được. Nhưng, cảm phục thay người đã giữ tiết tháo! Phan Bân đã không chịu khuất phục bọn phỉ Tàu, quyết tự tử để khỏi chịu nhục. May là các quan quân đã tìm được hài cốt mang về. Vua Tự Đức thương tiếc, truy phong hàm thống chế…” (14).

2
TÌM MỘ ÔNG CHƯỞNG PHAN BÂN (?-1869)

mộ Người tìm ở nơi đâu
để dân hương khói, nghìn sau vẫn còn

phỉ Tàu thuở quấy nước non
nghe Phan Bân đã lạnh hồn trốn xa
máu tử tiết mãi chói loà
người Hải Lăng, phút trót sa bẫy thù

đọc ngàn vạn sách vẫn mù
một hôm sáng mắt tuổi ngu ngơ nào
phải đâu huyền thoại trời cao
đất quê là sử, trót xao lãng lòng!

bỗng thèm học tại nguồn sông
mạch khe chóp núi cánh đồng quê xa
(15).

(19: – 21:07, 27-10 HB10)

Việc dựng tượng đá, tượng đồng vị tướng anh hùng Phan Bân trong khu vườn của ông (nay của hậu duệ ông), nơi vua Hàm Nghi và Tam Cung ghé lại, nghỉ chân trên đường chạy giặc, khởi đầu phong trào Cần vương là thể hiện sự phối hợp thực lục chính sử với kí ức gia sử, vừa chân thật tuyệt đối vừa lung linh tương đối. Tính chân thực lịch sử về nhân vật lịch sử Phan Bân là rất đỗi minh xác. Còn chuyện vua Hàm Nghi và đoàn ghé lại, nghỉ chân vẫn còn lung linh, lung linh đẹp vì sự tồn tại của mẩu chuyện này chỉ có ý nghĩa, tác dụng tốt, không gây hại gì, tổn thương đến ai.

T.X.A.
13:10 – 23:05, 06-3-2016 & 07-3-2016 (HB16)
_________________________________

(1) Phan Quang, “Vua Hàm Nghi ghé làng tôi”, hồi kí, Tạp chí Sông Hương, số 37, tháng 05 & tháng 06-1989.

(2) Lỗi gõ phím. Có lẽ nguyên văn đúng là thế này: “Bất kỳ nhà ai, hễ vua ghé, rồi vua đi, không về, nhà đó sẽ sa sút”. Theo bản trên tạp chí Sông Hương, số 37, tháng 05 & tháng 06-1989: “Bất kỳ nhà ai, hễ vua ghé rồi vua ra đi thì nhà đó sẽ sa sút”.

(3) Báo điện tử Lao động: Lao Động cuối tuần, mục văn hoá – xã hội, đăng lúc 10:5 AM, 05/03/2016:
http://laodong.com.vn/lao-dong-cuoi-tuan/vua-ham-nghi-nghi-lai-nha-ai-tren-duong-tu-hue-ra-tan-so-nam-that-thu-kinh-do-1885-524812.bld
Xem thêm ở chú thích (6).

(4) Trần Trọng Kim, “Việt Nam sử lược”, bản in lần thứ 7, Nxb. Tân Việt, 1964, tr.552. Chú thích của Trần Trọng Kim: Trường thi thuở bấy giờ ở làng La Chử (in sai: Đa Chử), cách kinh thành Huế 10 cây số.

(5) Hà Ngại, “Khúc tiêu đồng – Hồi ký của một vị quan triều Nguyễn”, Nxb. Trẻ TP.HCM., 2014, tr.5-14.

(6) Cao Xuân Dục và Quốc sử quán triều Nguyễn, “Quốc triều hương khoa lục”, bản dịch, Nxb. TP.HCM., 1993, tr.402: cử nhân số 2768, khoa Canh Ngọ 1870, triều Tự Đức, trường thi Thừa Thiên, vị thứ 17: “Phan Duy Tân, người Thượng Xá, huyện Hải Lăng, làm quan đến chức chưởng ấn”.

(7) Xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, ở phía nam và cách làng Thượng Xá, xã Hải Thượng, cùng huyện, của ông Phan Quang, khoảng 5 km.

(8) Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục, chính biên” (ĐNTL.CB.), tập 32, Nxb. KHXH., 1975, tr. 11; Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện” (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 395 – 396.

(9) Đây là thông báo cần vương, chưa phải là “Dụ Cần vương” phát đi vào ngày mồng 02 tháng 6 Ất Dậu (13.7.1885), từ Tân Sở, cùng lúc, cùng điểm xuất phát với “Dụ Nguyễn Văn Tường”.

(10) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 221. Các chữ trong dấu móc vuông [ ], tôi chua thêm.

(11) Thành tỉnh Quảng Trị (có thời gian cấp tỉnh đổi thành cấp đạo, rồi trả lại cấp tỉnh), theo Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 1, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr.117: “đầu đời Gia Long, thành ở địa phận phường Tiền Kiên, huyện Đăng Xương”, sau đó, “dời đắp ở xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng”. Đó là Thành Cổ trước 1972, hiện nay chỉ còn là di tích.

(12) Tác dụng quan trọng và trước hết của việc Nguyễn Văn Tường nhận sự phân công của Nhóm Chủ chiến, mà ông là một trong hai người đứng đầu, và nhận lệnh Thái hậu Từ Dũ (hay Từ Dụ, cùng nghĩa, khác âm đọc) ở lại là bằng các động tác ngoại giao, ông đã CẢN HẬU (tôi nhấn mạnh: cản hậu) thành công đối với De Courcy, ngăn chận sự truy kích của tên tướng giặc Pháp này và quân lính của y đối với vua Hàm Nghi và đoàn trên lộ trình ra tỉnh thành Quảng Trị, kinh đô kháng chiến Tân Sở.

(13) Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 1, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 180, ghi rõ: “Trạm Trị Xá: ở xã Thượng Xá, huyện Hải Lăng…”.

(14) Trích nguyên văn từ bộ sách “Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824-1886)” của Trần Xuân An, Nxb. Văn Nghệ, 2005, tr.200-201.

(15) Trích từ tập thơ “Thơ sử và những bài thơ khác” của Trần Xuân An, Nxb. Thanh Niên, 2011, tr. 47.

——- 0o0o0o0o0o0 ——-

XEM THÊM:
TRẦN XUÂN AN,
bài “NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824-1886)
VỚI NHIỆM VỤ LỊCH SỬ
SAU CUỘC KINH ĐÔ QUẬT KHỞI (05 THÁNG 7. 1885)”
, trong đầu sách “Nguyễn Văn Tường (1824-1886), một người trung nghĩa”, Nxb. Thanh Niên, 2007
http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/nvt-mot-nguoi-trung-nghia/tep-1b1

.

ĐÃ ĐĂNG TRÊN FACEBOOK:

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1677660015841276?pnref=story

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1675761956031082&set=a.1398271570446790.1073741831.100007918808885&type=3&theater
.
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com ( cauyhe.net )
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

CHÙM THƠ SỬ VỀ QUẢNG TRỊ (7 bài)

Posted by Trần Xuân An trên 29.10.2010

hidden hit counter

27 — 29-10 HB10: Trần Xuân An — CHÙM THƠ SỬ VỀ QUẢNG TRỊ, 07 bài

Nguồn ảnh bản đồ: Photosvietnam – Ảnh bản đồ lớn và rõ hơn

Để tham khảo về địa điểm và địa danh

Lời thưa trước: Thơ ca vốn rất phong phú về đề tài. Có thơ đời (xã hội), cũng có thơ nước (yêu nước), thơ nhà (kính thương cha mẹ, yêu vợ quý con), thơ tình (yêu đương thời trẻ tuổi). Lại có thơ triết (triết lí, triết học), thơ đạo (như thơ thiền chẳng hạn). Tất nhiên cũng lâu rồi, đã có thơ sử, rất đậm nét trong thơ thế giới và thơ Việt.

Tuy thơ yêu đương luôn luôn được người đọc mọi nơi, mọi lứa tuổi đón nhận, đồng cảm nhiều nhất, nhưng bó hẹp thơ trong lĩnh vực ấy là làm nghèo thơ đi, thậm chí là đẩy thơ vào lối nhỏ, so với con đường truyền thống thơ và ca dao Việt vốn rộng rãi, khiến thơ thua kém những thể loại khác, như truyện ngắn, kí tiểu thuyết, kịch…

Thơ sử, không phải diễn ca lịch sử, mà là thơ trữ tình về lịch sử, góp phần làm phong phú thơ và cũng rất cần thiết cho cuộc sống.

Cho dù viết về lĩnh vực nào, cái tôi của tác giả trong thơ trữ tình chỉ cần có một thái độ nhất định với ý thức về tính lịch sử – cụ thể, để khỏi đưa tâm hồn, tư tưởng mình và người đọc đi lạc. Thiết nghĩ như thế là đã đủ trách nhiệm cầm bút.

TXA.
02-11 HB10 &
26-11 HB10 (2010)

Bài 1
Trần Xuân An

SÔNG ÁI TỬ VÀ OA OA THẦN NHÂN

mở cõi, thuở đầu xa xăm
nhan sắc cũng đành ra trận
nước mắt đoá sen lấm bẩn
thành rừng ngọc sáng Nàng Lâm (1)

thần sông Ái Tử thương con
chẳng muốn phải nhiều máu đổ
nội chiến là điều đáng sợ
oa oa báo mộng chập chờn

Lập Bạo một mình trôi sông
quân Mạc vạn nghìn được sống
Cồn Tiên mấy làng trải rộng
rừng ngời thóc quả, mênh mông

chợt nhớ nơi nào Đào nương (2)
tiếng hát cũng đành vào trận
thành hoàng mừng và ân hận
Oa Oa chiến thắng và thương! (3)

sống giữa Quảng Trị bao năm
quê hương – ngoại xâm – cởi trói
rời xa, lắng từng đổi mới
yêu sao sử với hương trầm.

TXA.
21:20 – 22:05, 27-10 HB10

(1) Ngô Thị Ngọc Lâm (Ngô Thị Trà, làng Thế Lại, Thừa Thiên). Qua Qua, Trảo Trảo là các âm gọi khác của Oa Oa nữ thần, và có thể cũng biểu đạt hai ẩn dụ: tiếng khóc trẻ con; tiếng bới cát để mai phục. Xem sự tích này ở “Đại Nam thực lục”, tiền biên, kỉ Gia Dụ Nguyễn Hoàng, “Đại Nam nhất thống chí”, kinh sư (Thừa Thiên – Quảng Trị).

(2) Làng Đào Đặng (cũng gọi là làng Ả Đào), tỉnh Hưng Yên. Danh từ đào nương, từ đời Lý, vốn xuất phát từ làng này. Đào Nương dùng giọng hát của mình để quyến rũ giặc Minh (Trung Hoa) và tiêu diệt chúng. Xem: Ngô Đức Thọ, “Từ điển di tích văn hoá Việt Nam”, Nxb. TĐBK., 2007.

(3) Ngô Thị Ngọc Lâm và Đào Nương (và cả An Tư công chúa đời Trần), đều hi sinh trinh tiết vì nghĩa lớn, nên dân làng, dinh tổng trấn, triều đình có thể hiện niềm ân hận, tủi thương trong sự tôn vinh.

Bài 2
Trần Xuân An

TƯỞNG NIỆM NGƯỜI ANH HÙNG
TRẦN XUÂN HOÀ (?-1861)

đã đành hoa trắng Thâm Khê
thơm vào Mỹ Quý tư bề phương Nam
bao năm ở, mấy lần thăm
tìm đâu, Quảng Trị, đền trầm hương xưa? (1)

người anh hùng sáng lòng vua
đỏ lòng dân thuở bốn mùa nến chong
những gì tàn phá, trống không
chỉ còn trang sử rêu phong, quê mình!

phố phường quốc tế, rộng rinh
tên anh hùng sáng lặng thinh tên đường
tên Người – ngọn lửa cố hương
nung gươm Phủ Cậu Định Tường diệt Tây (2)

sáu lần toả đánh, giải vây
chí bền bĩ luỹ tre dày, hào sâu
rơi vào tay Pháp, lòng đau
giữ thơm danh tiết nghìn sau đất này

vẫn nghe Thành Cổ xót cay
đền thờ thuở ấy, lâu nay đâu rồi?
biển quê sóng nhắc khôn nguôi
Trần Xuân Hoà, xương rồng ngời sáng quê.

TXA.
15: – 17:45, 27-10 HB10

(1) Quê gốc: làng Thâm Khê, xã Hải Khê, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị; từ đời thân sinh, đã vào Nam bộ. Mỹ Quý (Quí), tỉnh Định Tường (Tiền Giang) là nơi ông lập căn cứ, liên kết với Trương Định, Võ Duy Dương, Thủ khoa Huân và các lực lượng nghĩa binh Nam Kỳ khác để chống Pháp. Xem “Quốc triều hương khoa lục”, “Đại Nam thực lục”, kỉ Tự Đức, “Đại Nam liệt truyện”, nhị tập (bản dịch: tập 4).

(2) Người dân địa phương thường gọi quan tri phủ Trần Xuân Hoà của mình một cách vừa kính trọng, vừa thân mật là Phủ Cậu (ông cũng là con trai của bố chính sứ Trần Tuyên).

Bài 3
Trần Xuân An

MỘ ÔNG CHƯỞNG (?-1869),
MỘT ĐỊA DANH QUÊ HƯƠNG

(đã chỉnh sửa nhỏ, 11-11 HB10)

tự bao giờ dân khắc sâu
thành tên trảng cát nghìn sau vẫn còn (1)

phỉ Tàu thuở quấy nước non
nghe Phan Bân đã lạnh hồn trốn xa (2)
máu tử tiết mãi chói loà
người Hải Lăng, phút trót sa bẫy thù

đọc ngàn vạn sách vẫn mù
một hôm sáng mắt tuổi ngu ngơ nào
phải đâu huyền thoại trời cao
đất quê là sử, trót xao lãng lòng!

bỗng thèm học tại nguồn sông
mạch khe chóp núi cánh đồng quê xa.

TXA.
19: – 21:07, 27-10 HB10

(1) Mộ Ông Chưởng ở vị trí rất gần với thị trấn mới của huyện Hải Lăng, Quảng Trị hiện nay.

(2) Người huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị (Có thể xác định xã nguyên quán là Hải Lâm, Hải Thọ hay Hải Thượng? Vui lòng xem bài vị ở Trung Nghĩa từ, Huế). Ông vốn là chưởng vệ (chỉ huy một vệ quân), sung đề đốc hải phận Hải Dương – Quảng Yên, nên gọi là Ông Chưởng. Xem “Đại Nam thực lục”, kỉ Tự Đức, “Đại Nam liệt truyện”, nhị tập (bản dịch: tập 4).

Bài 4
Trần Xuân An

LÂM HOÀNH (1824-1883)

lòng muốn thét to, kìm khẽ giọng
– làm chi, cầm cự, hai mươi năm?
quân nhu luỹ chiến sơ sài quá! – …
nhận lệnh, cúi đầu, Ông nghẹn thầm (*)

Ông cũng hiểu ra mưu giặc Pháp
luyện quân mua súng, chúng khuyên hoà
dàn tàu doạ dẫm, kích lương – giáo
cưỡng ước, vượt ngoài bao khoản xa

súng thép, Ông nhìn, đầy trái phá
lời chưa kịp nói, đạn vang rền
chia thuyền đánh úp, quân ta vỡ
gươm Pháp xô Ông xuống biển đen

phụ chính chỉnh triều, Ông đã mất
Lâm Hoành tử trận vội vàng sao!
hết lòng chiến đấu, quân thương khóc
bi tráng Thuận An, biển hận trào!

TXA.
17:30 – 18:15 & 21:37, 28-10 HB10

(*) Lâm Hoành, còn có âm đọc khác là Lâm Hoằng, người xã Gio Bình, huyện Gio (Do) Linh, Quảng Trị. Cuối đời, khi Pháp ngày càng bộc lộ dã tâm, vua Tự Đức có sai ông đi tu bổ hệ thống đồn luỹ ở cửa biển Thuận An (Huế). Xem “Đại Nam thực lục”, kỉ Tự Đức và phần phụ chép vua bị truất bỏ (Dục Đức, Hiệp Hoà), “Đại Nam liệt truyện”, nhị tập (bản dịch: tập 4), “Quốc triều hương khoa lục”, “Quốc triều đăng khoa lục” (phó bảng, tuẫn tiết).

Bài 5
Trần Xuân An

TÂN SỞ VÀ DỤ CẦN VƯƠNG

Dụ Cần vương dậy Trường Sơn
Giải Triều, trung nghĩa, tờ son gửi về (1)
bình Tây, sát tả-tà-mê
cho Tân Sở – Huế tư bề hoa giăng
lễ tần viết sắc “hòa” ban (2)
Tôn Thuyết chiến để Nguyễn Văn Tường đàm
Pháp tung cáo trạng Bắc – Nam
lưu đày Kì Vĩ, chết thầm đảo xa (3)
súng rền, khâm sứ bôi nhòa
hòm tù đỏ, Hạnh Thục ca hoen vàng
Vè Thất thủ giữa dân gian
giọng run lệch bởi chuông vang giáo đường
thơ Nguyễn Thượng Hiền buốt sương
thương thái phó, ngó sen vương, dặm về (4).

TXA.
1985 – 1999

(1) “Giải triều…”, tên một bài thơ của Nguyễn Văn Tường (1824-1886), được viết sau cuộc Kinh đô quật khởi và bị thất thủ. Tờ son: “Dụ Nguyễn Văn Tường”, do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết bí mật gửi về cho Nguyễn Văn Tường, cùng một ngày ban “Dụ Cần vương”, tại Tân Sở (02-6 Ất Dậu: 13-7-1885), theo sách lược “kẻ ở, người đi”.

(2) Lễ tần Nguyễn Nhược Thị Bích, tác giả “Hạnh Thục ca”. Theo “Đại Nam liệt truyện”, bà là người viết tất cả các bản dụ của Thái thái hậu Từ Dũ, sau ngày Kinh đô quật khởi, bị thất thủ, từ Quảng Trị quay về Huế.

(3) Nguyễn Văn Tường còn có mĩ hiệu vua Tự Đức ban: Kì Vĩ. Ông bị giặc Pháp lưu đày ra Côn Đảo, rồi tiếp tục bị lưu đày sang quần đảo thuộc địa Tahiti (Thái Bình Dương, gần Trung – Nam châu Mỹ), và qua đời ở đó (30-7-1886).

(4) Thơ Nguyễn Thượng Hiền: “Không quá Tây môn, bi thái thó” (Cái hư không đến cửa Tây, thương xót thái phó = Trời vượt cửa Tây, thương thái phó). Nguyễn Văn Tường có cung hàm là thái phó.

Bài 6
Trần Xuân An

TÌM NGUYỄN TỰ NHƯ,
HỘI NGUYÊN NĂM MẬU TUẤT (1898)

Pháp chém anh, và cha Pháp trói
tim Ông nung núi rựa rừng liềm
cờ Cần vương gió xoay nghiêng ngả
đành nộp mình, nhờ bại tướng Viêm (1)

nộp thân mình, xóm làng thôi cháy
cam rụng đầu thay tuổi hạc già
bia tiến sĩ, mộc che ẩn nhẫn (2)
nước suy trầm, chí có phôi pha?

quãng cuối đời rơi vào khuyết sử
sách đèn vui? áo mũ buồn rầu?
thương hùng tâm gác câu chờ nước
Nguyễn Tự Như! Tìm Ông ở đâu?

TXA.
8:30 – 10:43, 28-10 HB10

(1) Nguyễn Tự Như, người xã Hà Thượng, tổng An Xá, huyện Gio (Do) Linh, tỉnh Quảng Trị, cùng Trương Đình Hội và nhiều thủ lĩnh khác khởi nghĩa Cần vương ở tỉnh nhà. Thân sinh ông là Nguyễn Tự Cường, anh ruột ông là Nguyễn Tự Khiểm. Bại tướng Viêm: Hoàng Tá Viêm. Xem “Đại Nam thực lục”, kỉ Đồng Khánh.

(2) Xem “Quốc triều hương khoa lục” (cử nhân), “Quốc triều đăng khoa lục” (tiến sĩ) và bia tiến sĩ ở Huế.

Bài 7
Trần Xuân An

HOÀNG HỮU XỨNG (1831-1905)

Ông mắng giặc Tây và tuyệt thực
về kinh lầm lũi trước ngai rồng (1)
vận suy thế nước nhoà mê tỉnh
(giặc đánh, thép trui lẫn mật hồng!)

nước mất, Ông lặng thầm chép sử (2)
quản chi xuôi ngược, cứ gom đầy
muôn đời mặt nước là công lí
phun ngược đổ xuôi vẫn thẳng ngay

chống Pháp, Pháp đày, sử gọi giặc
nghìn sau hậu thế sẽ tôn vinh
(dăm đời nhân vật đành lem nhọ
sử thắt tâm Ông như cực hình!)

yêu sử, Ông đau thời khuyết sử
cam làm nghịch sử, khỏi hư không
nhưng ai đảo được cân công lí
Sử quán giữ tâm – tâm ẩn trong.

TXA.
14: – 15:45, 28-10 HB10

(1) Thất thủ thành Hà Nội lần 2 (1882). Xem “Đại Nam thực lục”, kỉ Tự Đức. Bài thơ này chủ yếu viết về giai đoạn làm sử của Hoàng Hữu Xứng.

(2) Hoàng Hữu Xứng, người làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, là phó tổng tài Quốc sử quán triều Nguyễn, khi làm “Đại Nam thực lục”, kỉ Kiến Phúc. Đây là kỉ vẫn còn đậm tinh thần dân tộc, yêu nước, chống Pháp, mặc dù ít nhiều còn bị hạn chế. Kỉ này vượt trội và hơn hẳn so với kỉ Đồng Khánh thân Pháp.

Tranh ảnh minh họa:

1)

Miếu Qua Qua, Ái Tử, Quảng Trị

2)

Căn cứ Mỹ Quý & Trần Xuân Hòa (?-1861)

3)

Cửa biển Thuận An 1883 & Lâm Hoằng

4)

Cửa thành Tân Sở, Quảng Trị (mô phỏng)

5)

Bia tiểu sử Nguyễn Văn Tường (1824-1886)
dựng trong Lễ minh oan do Hội KHLS.Việt Nam
Hội KHLS. Thừa Thiên – Huế tổ chức

6)

Sách địa dư: “Đại Nam quốc cương giới vựng biên”

Đã đăng trọn 07 bài (30-10 HB10):

Tập thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM:
http://www.nhavantphcm.com.vn…

PhongDiepNet:
http://www.phongdiep.net…

Cũng có thể xem tại:
http://www.tranxuanan-writer.net…


_______________________________________________ 

 


 


Đồng hương với anh hùng Trần Xuân Hòa (?-1861)

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , , , , | 4 Comments »

Chùm thơ 10 bài về Phú Yên

Posted by Trần Xuân An trên 15.09.2010

hidden hit counter

Cập nhật: 15-10 HB10: BÀI THỨ 10 ĐÃ ĐƯỢC BỔ SUNG 2 KHỔ THƠ VÀ 3 CHÚ THÍCH.

mừng hết lạm mù trong đáy mắt
bói trong thư ấy (8), vướng mê lầm
mõ vang khẽ thức hồn yêu nước
sử học là chuông, không quẻ xăm!

dịch biến tùy thời, mong chính trực
đâu ai tạ sự, nổ hay ngầm
Mai Xuân, án kết (9), nào sư Trứ
tuyệt mệnh thơ Người, mãi hát ngâm (10).

(Xem tiếp trọn bài 10 ở cuối khung này)

Cập nhật: 10-10 HB10 (2010): ĐÃ BỔ SUNG THÊM MỘT BÀI THỨ 10

Cập nhật: 03-10 HB10 (2010): ĐÃ ĐĂNG TRỌN VẸN 09 BÀI

CHÙM THƠ 3 BÀI KHI SẮP ĐI PHÚ YÊN

Trần Xuân An

1). Hình dung khi đến Phú Yên
2). Kính nghĩ về Lê Thành Phương (1825-1887), nghĩa tướng Cần vương (*)
3). Gành Đá Đĩa

_____________________

(*) Theo một số tài liệu gần đây cho biết, Lê Thành Phương là tác giả “Hịch Chiêu quân”. Trong đó, có câu không đúng với sự thật lịch sử. Phải chăng đó là một văn bản đáng ngờ? (Giới sử học và bản thân tôi đã làm sáng tỏ). Cũng nên nói thêm: Ngoại trừ các chi tiết bôi nhọ, xuyên tạc, chính các bản dụ, cáo thị của thực dân Pháp, nguy triều Đồng Khánh – Nguyễn Hữu Độ cũng vô hình trung ghi nhận lòng trung thành của nhân dân, phong trào Cần vương các tỉnh tả kì đối với Nguyễn Văn Tường (1824-1886), Tôn Thất Thuyết (1839-1913). Do đó, “Hịch Chiêu quân” chắc hẳn đã bị thêm bớt do người đời sau.

Lê Thành Phương không được sách sử trong Nam ngoài Bắc, từ trước đến nay đề cập đến, mặc dù đều có viết về phong trào Cần vương ở Phú, Khánh, Thuận (?). Đền thờ ông mới được người dân địa phương (?) xây dựng từ 1956, tu bổ vào năm 1971. Xin đánh 2 dấu hỏi khoa học ở 2 điểm này.

Xin xem thêm bốn (04) đầu sách của Trần Xuân An đã xuất bản và các bài khảo cứu khác của tác giả về đề tài Nguyễn Văn Tường (1824-1886).

TXA.
12 &14-9 HB10 (2010)

SẼ CÔNG BỐ SAU

—————————————–

Cả thảy 9 bài
ĐÃ NỘP (27-9 HB10):
Trưởng trại, nhà văn Đỗ Viết Nghiệm (cùng một số nhà thơ, nhà văn trại viên)
& ĐÃ GỬI ĐĂNG, PHÁT (23 & 27-9 HB10):
Nhà thơ Phan Hoàng, nhà văn Thu Trân (tạp chí Đương Thời) & các báo, đài ở Phú Yên
Nhạc sĩ Ngọc Quang (chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Yên)
Tttđt. Hội Nhà văn Việt Nam (29-9 HB10)

Cập nhật: 29-9 HB10 (2010):

Các bài thơ Trần Xuân An viết tại Đồi Thơm, Tuy Hòa, Phú Yên, trong thời gian dự Trại sáng tác do Hội Nhà văn TP.HCM. tổ chức, phối hợp với Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Phú Yên, với sự hỗ trợ của Công ti Du lịch sinh thái Sao Việt, từ 18 đến 28-9 HB10 (2010):

4). Bài toán đố về trung thu
5). Cuộc khởi binh nâu sồng 1898
6). Tùy bút ở Phú Yên
7). Từ Sông Cầu, ngắm Phú Yên như tranh sơn thủy
8). Ở Gành Đá, Huế bỗng dưng Tuy Hòa
9). Tiền Chiến và Đồng Cam

Bản đồ lớn hơn: Nguồn: khudothimoi. com

Ảnh lớn hơn

TXA. nhiếp ảnh tại Phú Yên, trong thời gian tham dự Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM., từ 18 đến 28-9 HB10 (2010)

Trần Xuân An

KÍNH NGHĨ VỀ LÊ THÀNH PHƯƠNG (1825-1887),
NGHĨA TƯỚNG CẦN VƯƠNG

Lệnh người đi – Dụ về kẻ ở (1)
chiếncần; “hòa” quyết bất đồng (2)
Ông yêu nước trách Người yêu nước?
hay cáo giặc làm ai nhiễu lòng? (3)

năm thập niên gần đây tưởng nhớ (4)
nước mắt buồn chảy ngược vào hồn
trang sử cũ giờ đây lật mở
Ông và Người chung trái tim son

Người gục chết, đảo đày – châu Mỹ (5)
bến Cây Dừa, máu đẫm vai Ông
Hịch Chiêu quân, chữ nào đã lỡ?
chú giải đành khắc giữa núi sông (6)

hay chỉ từ một chín bảy mốt
Hịch thêm vào nét nghĩa vu oan
tranh thờ Ông, cũng sai trang phục
quản hương binh, hệt tướng vua Càn! (7)

nghìn đời sau dâng hương lễ hội
trán trang nghiêm, ánh mắt trong hơn
kế li gián, giặc gieo, đã rõ
Ông và Người cùng sáng nước non.

TXA.
15:40, ngày 13-9 HB10 (2010)
và sáng sớm 14 – 9 HB10, tại TP.HCM.

(1) “Lệnh dụ thiên hạ Cần Vương” và “Dụ Nguyễn Văn Tường”, từ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị), được phát đi khắp nơi và gửi về Huế trong cùng một ngày, 13 – 7 – 1885 (02 – 6 Ất Dậu), với sách lược “kẻ ở, người đi”.

(2) Kháng chiến là cần vương (giúp vua [cứu nước]); “hòa”, nhưng quyết không cùng lòng với giặc Pháp. “Hòa” ở trường hợp Nguyễn Văn Tường, trong thời điểm sau ngày 05 – 7 – 1885, thực ra là chiến. Nguyễn Văn Tường vốn là người đứng đầu nhóm chủ chiến (xem: bản án chung thẩm trong “Đại Nam thực lục”, kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., tr. 35).

(3) “Hịch Chiêu quân” của Lê Thành Phương có câu không đúng với sự thật lịch sử. Từ lâu, giới sử học cùng bản thân tôi đã làm rõ. Cũng cần nói thêm: đồng thời với các chi tiết bôi nhọ, xuyên tạc, chính các bản dụ, cáo thị của thực dân Pháp, ngụy triều Đồng Khánh – Nguyễn Hữu Độ cũng vô hình trung ghi nhận lòng trung thành của nhân dân, phong trào Cần vương các tỉnh tả kì đối với Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), Tôn Thất Thuyết (1839 – 1813). Do đó, “Hịch Chiêu Quân” chắc hẳn đã bị thêm bớt do đời người đời sau (“hay cáo giặc làm ai nhiễu lòng?” – TXA) (*). Xin xem thêm bốn đầu sách đã xuất bản chính thức của Trần Xuân An cùng các bài khác của tác giả (trong cuốn “Bàn thêm về mấy vấn nạn sử học”) về đề tài Nguyễn Văn Tường.

(*) Năm 1971, mới công bố “Hịch Chiêu quân”. Trích dẫn từ các nguồn tài liệu:

— “Do các ông Lê Thành Thao, Lê Thành Lược, Võ Toàn Lưu, cháu nội ngoại 4 đời của Lê Thành Phương sưu tầm. Các bài này hiện còn ghi tại đền thờ Lê Thành Phương” (Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật Phú Khánh, xuân Giáp Tý, số 2 – 1984, tr. 32 – tài liệu tại Thư viện Phú Yên).

— “Bài hịch này, đọc trước ba quân tướng sĩ (*1), vào tháng 8-1885, ở núi Một, thôn Tân An, tổng Xuân Vinh, phủ Tuy An. Thân quyến Lê Thành Phương đã ghi chép và lưu giữ bản hịch này. Đến năm 1971 (đền thờ Lê Thành Phương xây dựng xong), ông Võ Toàn Lưu và ông Lê Thành Thao chép bài hịch thành văn bản để thờ tại đền thờ Lê Thành Phương” (Đặc san “Danh nhân lịch sử Lê Thành Phương”, Bảo tàng tỉnh Phú Yên xuất bản, 2-1997, tr. 17 – tài liệu của ThS. Nguyễn Quang Trung Tiến)

(*1) Lê Thành Phương chỉ là một vị chỉ huy lực lượng hương binh ở một địa phương mà thôi.

Thêm vào đó, tấm chân dung Lê Thành Phương được đặt ở bàn thờ trong đền thờ ông là một bức họa được vẽ, cho chúng ta thấy ông mặc quan phục (trang phục quan võ triều Nguyễn?). Rõ ràng đó là chi tiết phi lịch sử. Suốt đời Lê Thành Phương chưa hề làm quan (chỉ đỗ tú tài, ở nhà dạy học) và lúc khởi nghĩa Cần vương (sau 5-7-1885), chắc chắn ông không có điều kiện kịp thời để mặc quan phục võ tướng. Mặt khác, các sĩ phu lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa Cần vương chỉ chỉ huy hương binh và cung cách ăn mặc cũng theo cách của các nghĩa sĩ, nghĩa là không mặc quan phục võ tướng như thế.

(4) Lê Thành Phương không được sách sử trong Nam ngoài Bắc từ trước đến nay đề cập đến, mặc dù đều có viết về phong trào Cần vương ở Phú, Khánh, Thuận. Thậm chí, A. Laborde còn cho rằng phong trào Cần vương ở Phú Yên (1885-1887) là do người Bình Định thúc đẩy, cụ thể là Mai Xuân Thưởng (1860-1887) (bài “Tỉnh Phú Yên”, trong “Những người bạn cố đô Huế” [B.A.V.H.], tập XVI, năm 1929, Nguyễn Cửu Sà dịch, Lưu Nguyễn, Nhị Xuyên hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 2003, tr. 389-391 [tr. 382-454]). Đền thờ Lê Thành Phương mới được dựng từ 1956, tu bổ vào năm 1971. Xin đánh dấu hỏi khoa học ở điểm này.

(5) Quần đảo Tahiti, thuộc Pháp, trên Thái Bình Dương, gần châu Mỹ.

(6) Hiện nay, thực hiện yêu cầu khoa học cần thiết là chú giải vào “nguyên bản” lưu hành. Gọi là “nguyên bản” nhưng thực ra bản gốc “Hịch Chiêu quân” không còn.

(7) Khổ thơ này, tôi viết thêm sau khi từ Phú Yên về (29 – 30-9 HB10), để sát hợp với thông tin – tư liệu hơn. Xem lại bị chú của chú thích 3.

 



____________________________________________________
 
Cập nhật bổ sung (ngày 05-10 HB10 [2010]):
 
 
 



Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 101, 9+10-2010 – mục lục

Xin lưu ý trang này:



T.chí Huế Xưa và Nay, số 101, 9+10-2010 – 2 tr. cuối b. khảo cứu

 


________________________________________________

 

Ảnh lớn hơn

Các nhà văn, nhà thơ Đoàn Thạch Biền, Trần Xuân An, Trần Hữu Dũng, Ngô Liêm Khoan, trại viên Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM. tại Phú Yên, và một phóng viên, từ 18 đến 28-9 HB10 (2010) —- Nhiếp ảnh: Nguyễn Nhân (photo . net)

Ảnh lớn hơn

8 nhà thơ, nhà văn dự trại Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM. tại Phú Yên, 18 — 28-9 HB10 (Thu Trân, Trần Xuân An, Đỗ Viết Nghiệm – trại trưởng -, Đặng Hồng Quang, Phố Giang, Nguyễn Bính Hồng Cầu, Quang Chuyền, Trần Hữu Dũng), nhạc sĩ Ngọc Quang (chủ tịch HVNNT.PY.), nhà thơ Phan Hoàng (UV.BCH.HNV.TP.HCM.). Ảnh được chụp lúc đến thăm Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Phú Yên —- Nhiếp ảnh: anh Bình (tài xế Cty Sao Việt)

Xem thêm: Các bản tin của báo chí (links) về Trại sáng tác HNV.TP.HCM. tại Phú Yên.

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

Cập nhật: 03-10 HB10 (2010)
Đã đăng trọn vẹn:

Bài 1

Trần Xuân An

HÌNH DUNG KHI ĐẾN PHÚ YÊN

xe với sao mai cùng lúc tới
Phú Yên, nhụy sáng, xinh Tuy Hòa
mình, con đom đóm nhiều năm trước
gùi trăng Chiau Mạa, có lần qua

đèn đuốc thuở nào hiu hắt lắm
sáng nhau, nguồn sáng là trăng trời
sớm nay còn xám, thơ bừng thắp
tâm kết mỗi từ, trăm ngọc tươi

đâu phải Tản Đà thơ quán gió:
đa tình con mắt Phú Yên xưa
duyên hơn lửa, nắng, trăng và điện
tim ngời, sao liếc, nghe đong đưa!

lòng hòa, nốt nhạc vin dây vút
đất giàu thương mến, rất bình an (*)
ngày đầu khẽ lắng chuông trong ngực
đom đóm – ngọc trai – sao biếc ngân.

TXA.
Lúc 17giờ, 12-9 HB10 (2010)
& lúc 12 giờ, 17-9 HB10 tại TP.HCM.

(*) Phần nào theo nghĩa chữ Hán của hai địa danh Tuy Hòa, Phú Yên.

Bài này được viết
sau khi nhận được thông báo sẽ đi dự trại sáng tác Phú Yên
từ 18 đến 28-9 HB10 (2010)
& có sửa ít chữ sau cuộc họp nhóm nhà văn, nhà thơ dự trại ở cơ quan HNV.TP.HCM.

Bài 2
(xem ở bên trên)

Bài 3

Trần Xuân An

GÀNH ĐÁ ĐĨA

thơ tiên đĩa gốm huyền vàng?
kìa em, hoành tráng đã ngàn năm đây

chồng chồng đĩa nhạc say say
ngắm cao lớp lớp ảnh đầy đĩa ghi?

núi trào cảm xúc, lạ chi
tận nơi, mắt mới ngợp kì công ai

ta xây thêm nhé, tháp đài
đĩa ngời biển chữ vun hoài tượng em.

TXA.
7:10, 14 – 9 HB10
tại TP.HCM.

Bài 4

Trần Xuân An

BÀI TOÁN ĐỐ VỀ TRUNG THU

mỗi tháng một lần tròn đầy
mỗi năm một lần sáng nhất
nếu chia đều trên trái đất
mỗi người đẹp mấy đêm ngày?

bài toán đố rất thơ ngây
mãi mãi loài người nát óc
trăng bạc phai dần mái tóc
vẫn trăng nhắc nhở giữa trời

nhưng đó là trăng xa xôi!
trăng đời: chén cơm đều trắng
trăng đời: bóng đèn đều rạng
cho dù sáng – mờ, đầy – vơi

sáng và tròn trên cõi đời
lại là vượt lên hiện có
mỗi người, mấy thời vượt khó?
lời giải là ở mình thôi!

TXA.
6g – 6g45’, 20.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

Bài 5

Trần Xuân An

CUỘC KHỞI BINH NÂU SỒNG 1898

tam quan, bình phong nứt
khu bảo tháp gió lùa
chùa cổ đồi Đá Trắng
còn chăng dăm nét xưa?

am nghĩa binh Võ Trứ
vọng hoài vó ngựa khua
gạch vôi sao quá mới
dưới gốc thu trăm mùa

tìm đâu thư tịch cũ
qua lửa bão đạn mưa
kí ức rêu bụi phủ
chuyện sử đành phai thưa

rộng cửa thiền xưa đón
giúp vua lẫn không vua
duy một điều: yêu nước
là chung tấm lòng chùa

tượng bồ tát từng lấp
chuông đồng đau vết cưa
Phật nguyên nụ cười Việt
lung linh bóng nắng trưa.

TXA.
13- 16:40, 23.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM.

Bài 6

Trần Xuân An

TÙY BÚT Ở PHÚ YÊN

Đà Diễn xưa, có một nguồn Thạch Hãn (*)
Quảng Trị ơi, vào đây tự bao giờ?
thời mở cõi dẫu khuyết hao lịch sử
nhưng địa chí kia nào phải mơ hồ

chiều Sông Hinh, mưa mịt mờ
nghe một thoáng đăm chiêu áy náy
quán cà phê sớm mai, nhã nhạc dăm đời xa ngái
ca từ mỗi thời mỗi khác rồi chăng?

một nguồn Đà Rằng: mấy đời tiên tổ đã dừng chân
ở Quảng Trị của cõi miền Thuận – Quảng?
chỉ mang vào Phú Yên tên sông Thạch Hãn
vẫn giữ gốc xa xưa: Thanh Hóa, Nghệ An?

nghe cây lá gật gù, nắng bớt phân vân
và chiếc xe băng qua ban trưa ngẫu hứng
ngỡ xoay quanh núi Đá Bia sừng sững
tôi tình cờ tìm thêm một góc nhìn riêng

Đá Bia: Phượng hoàng dợm cánh bay lên!
bay lên tầm nhìn Tây Sơn – Gia Long nhất thống
bay lên tầm nhìn Vũng Rô thâm sâu lặng sóng
bay lên tầm nhìn biển bờ Mũi Điện – Trường Sa

Tháp Nhạn như cây xương rồng nâu non không già
từ Đa Đảo sóng giạt vào, mấy trăm năm còn lại
đôi mắt Phật, đôi mắt Shiva
trông ra Biển Đông thức mãi
bóng áo lam
như bay lên
trong lời khấn nguyện cuối chiều tà

đón chuyến xe về là trăng sáng giữa xanh xa
một trung thu trên Đồi Thơm, thơm ngát
giữa những ước mơ, có ước mơ:
không sai lạc
trên trang sách tuổi thơ.

TXA.
Chiều 22.9 HB10 (16.8 Canh Dần), lúc 15:00 – 17:12
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

(*) Đà Diễn: sông Đà Rằng ngày nay. Trong các nguồn, các nhánh sông Đà Rằng, có một dòng mang tên Thạch Hãn (theo Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 3, Bản dịch Viện Sử học (người dịch: Phạm Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh), Nxb. Thuận Hóa, 1992, phần viết về Phú Yên, tr. 72).

Bài 7

Trần Xuân An

TỪ SÔNG CẦU,
NGẮM PHÚ YÊN NHƯ TRANH SƠN THỦY

1
ai trên gành cát Phú Yên
quê xa, ai cũng trên triền cát xa?
– biển trời soi chiếu bóng ta
lên mây xuống cát cho xa thành gần
cũng dương liễu rất quen thân
cát muôn đời vẫn trắng ngần Miền Trung

nhưng dạt dào sóng Cửa Tùng
thiết tha Mỹ Thủy, trầm hùng Việt Yên! (1)
biển Xuân Đài lại rất thiền
Vịnh Hòa, Xuân Hải nếp phiền phẳng phiu
vuông Ô, lồng Lấm hiu hiu
nuôi bao nguồn sống dưới trìu mến xanh

2
giấc trưa Bến Ghé ngọt lành
vương chiều Gành Đỏ nhớ quanh quất nào
mướn Xiêm khẩn đất, tiễn chào (2)
đưa miền Thuận – Quảng gắn vào Phú Yên
Thành Hồ, xe chỉ lướt nghiêng
nghe An Thổ vọng tiên hiền: thần Lương (2)

3
khi không chín nhớ mười thương
bạc rồi một nhớ quê hương trong mình!
trội hơn thi sĩ đa tình
hai đèo – guốc võng, trùng trình: Phú Yên
đẹp xinh sơn thủy nên tiên
chút đa tình để chiêu hiền, thuở xưa ?

Phú Yên: mười ngón xòe thưa –
núi non – múc cát, thêu thùa Biển Đông
chỉ tay nối lại bao sông?
xe mình đi cũng trong lòng tay thiêng
bạc tình quê, bạc tình riêng
Sông Cầu một sáng còn miên man chiều…

TXA.
6:30 – 11:03, 25.9 HB10 (2010)
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn Hội Nhà văn TP.HCM. –

(1) Cửa Tùng, Mỹ Thủy, Việt Yên (Cửa Việt) ở Quảng Trị.

(2) Theo Quốc sử quán Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện”, tiền biên (tập 1), bản dịch VSH., Nxb.Thuận Hóa, 1993, tr. 89.

Bài 8

Trần Xuân An

Ở GÀNH ĐÁ, HUẾ BỖNG DƯNG TUY HÒA

cách đây ngàn năm xa
hình như lũ phù sa
tràn về gần lút núi
hay từng năm, dần dà
núi thành cụm đá gửi
trên cánh đồng Tuy Hòa

bao mùa vàng rộng ra
sóng lúa thay sóng biển
vỗ Gành Đá thơ ca
sông Ba cùng cất tiếng
trầm đục và ngân nga
trên bao la Tuy Hòa

tóc em là sông Ba
tay em, mùa vàng đó
ôm anh trong tình ca
cho Gành Đá anh thở
đừng bắt anh khuyụ đổ
trên mênh mông Tuy Hòa

tình ta ngàn năm qua
bao vun bồi, không đếm
bao lần chung môi nếm
sao ào ạt, khi xa
một mình, không chăn đệm
Huế bỗng dưng Tuy Hòa!

TXA.
14:30 – 16:19, 26.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

Bài 9

Trần Xuân An

TIỀN CHIẾN VÀ ĐỒNG CAM

rất nhiều nơi hẳn bình thường
ở nước mình sao thấy lạ
nỗi chiến tranh còn vật vã
phu phen nô lệ được thờ!

giặc Pháp thương chi đồng khô
sợ đói khiến dân nổi dậy
chúng mong thóc đầy hạt mẩy
tàu viễn chinh há họng to

nhưng ta thương bao nhà thơ
phần nào văn nô thuở đó
ép lệ tình duyên òa đổ
cũng như dòng kênh Đồng Cam!

thắp hương, cháy nỗi đau thầm
chết đập khác gì chết giấy
Tiền Chiến là Đồng Cam đấy
chừng nay tim ấm lòng no

chiến tranh đau đến bao giờ?
cách nào niềm đau chóng dứt?
người thắng khơi trong – vớt mục
lạ, nhưng bỡ ngỡ gì đâu!

TXA.
6:00 -9: 27, 9 HB10 (2010)
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV. TP.HCM. –

Đã đăng 09 bài ở Tcđttl. TranNhuongCom

Cũng có thể xem tại điểm mạng chính của TXA.

Đã đăng 02 bài ở Tcđttl. PhongDiepNet

Bài 10

Trần Xuân An

TRONG ÂM HƯỞNG SỬ PHÚ YÊN,
NHỚ TÊN TRƯỜNG CŨ TRẦN CAO VÂN Ở TAM KỲ
(thêm một bài bổ sung vào chùm thơ về Phú Yên – 10-10-10)

quân sư của Võ – truyền đơn đỏ (1)
dù cũi Phú, Bình, ngục Quảng Nam
Côn Đảo, lưu đày, lòng chẳng khác
chí ngời khởi nghĩa lắng sen Tâm (2)

học đón Duy Tân như Trị – Tĩnh (3)
đầu rơi, Cống Chém ngập hờn căm (4)
ai người Mai – Hãn tìm xương lấp
cải táng trong đêm Huế tối tăm? (5)

nhà sư mãi sáng Trung Thiên dịch
Trời với Đất thân, Người xứng tầm (6)
mấy thuở đuổi thù, bao thuở kính:
chuông chùa Đá Trắng vọng ngàn năm (7)

mừng hết lạm mù trong đáy mắt
bói trong thư ấy (8), vướng mê lầm
mõ vang khẽ thức hồn yêu nước
sử học là chuông, không quẻ xăm!

dịch biến tùy thời, mong chính trực
đâu ai tạ sự, nổ hay ngầm
Mai Xuân, án kết (9), nào sư Trứ
tuyệt mệnh thơ Người, mãi hát ngâm (10).

TXA.
10-10-10 (HB10 – 2010)

(1) Theo A. Laborde, “Tỉnh Phú Yên” (BAVH., 1929): Võ Trứ (1855? – 1900?) dán và rải truyền đơn màu đỏ với nội dung Cần vương (cũng có thể hiểu là nhân danh vua Thành Thái?).

(2) Hồ Tịnh Tâm (Huế), 1916, nơi Trần Cao Vân (1866-1916) và Thái Phiên tìm gặp vua Duy Tân.

(3) Các căn cứ của triều đình kháng chiến (1885-1888): Tân Sở (Quảng Trị), Hương Khê (Hà Tĩnh) và còn dự kiến một sơn phòng ở Thanh Hóa.

(4) Cống Chém (An Hòa, Huế).

(5) Theo vài tài liệu, bà Trương Thị Dương, người Quảng Trị — xứ non Mai sông Hãn –, đồng chí của Trần Cao Vân, đã âm thầm cải táng di cốt ông cùng Thái Phiên vào năm 1925.

(6) Tác phẩm lập thuyết của Trần Cao Vân, chỉ mới phổ biến trực tiếp bằng trò chuyện và bằng bài thơ “Vịnh Tam tài”: Thiên (tả, thượng) – Nhân (trung) – Địa (hữu, hạ), cũng cùng ý tưởng thể hiện trong bài thơ tuyệt mệnh: “Đứng giữa Trời – Đất, không dựa vào Thượng đế”, đề cao vai trò chủ thể của Con Người.

(7) Chùa Đá Trắng (Từ Quang) ở Tuy An, Phú Yên.

(8) Các loại thư từ thuộc lĩnh vực bói toán, địa lí phong thủy… Ngoài ra, còn có các văn thơ thư từ liên lạc tại Phú Yên, kí tên Chánh Minh, Chơn Diện (xem: Tô Đình Cơ, “Thân thế và sự nghiệp Trần Cao Vân (1866-1916)”, Sở VHTT. Bình Định, 1995, tr. 27). Riêng bức thư gửi vua Duy Tân, theo tác giả Trần Trúc Tâm, “Chí sĩ Trần Cao Vân (1886-1916)”, Nxb. Đà Nẵng, 1999, tr. 53-54: “Thư dài nhưng tựu trung mang 3 ý ‘Tha Mỹ quốc… chung nhược’; ‘Thiên khải… chi quyền’; ‘Phụ hoàng đế… kiến quật’…” và tất nhiên, còn có ý kiến nghị vua đứng đầu cuộc khởi nghĩa, như nhiều sách đã chép lại và diễn ý, ngoài ra không có gì khác.

(9) Bản án ngụy triều Đồng Khánh và thực dân Pháp về Mai Xuân Thưởng: “Dương vị Hàm Nghi khởi nghĩa, âm vị ngụy Nhạc phục thù” (Mặt phải, vì Hàm Nghi mà khởi nghĩa; mặt trái, vì ngụy Nhạc [Tây Sơn] mà phục thù). Bản án về Võ Trứ (1898? / 1900?) hẳn không phải vậy.

(10) TXA. mới viết thêm hai đoạn cuối (2 khổ thơ thứ 4, thứ 5), theo tinh thần bài viết về cụ Trần Cao Vân trong một đặc san từ 1974 (1995, đăng lại trong kỉ yếu Trường THPT. Trần Cao Vân, Tam Kỳ), đồng thời theo yêu cầu của nhiều người đọc, và cũng để công bằng hơn trong nhận định, tuy là nhận định bằng thi ca.

Đã đăng ở PhongDiepNet & TranNhuongCom – 11-10 HB10

http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=11275
http://trannhuong.com/… NHỚ-TÊN-TRƯỜNG-CŨ-TRẦN-CAO-VÂN-Ở-TAM-KỲ

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , | 11 Comments »

Thông tin: HTKH. “Tân Sở và phong trào Cần vương”

Posted by Trần Xuân An trên 16.07.2010

hidden hit counter

Trân trọng giới thiệu & quảng bá: ĐIỂM MẠNG VI TÍNH TOÀN CẦU “KỈ NIỆM 125 NĂM TÂN SỞ DẤY NGHĨA CẦN VƯƠNG” CỦA TỈNH QUẢNG TRỊ  

 

     Thông tin về Ban Chỉ đạo, Ban tổ chức Hội thảo khoa học: Thành Tân Sở với phong trào Cần Vương

12/07/2010 07:53:54
 
UBND TỈNH QUẢNG TRỊ  — HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM 

UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ  

SỞ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH QUẢNG TRỊ 

 

HỘI THẢO KHOA HỌC:

THÀNH TÂN SỞ

VỚI PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG

 

* CƠ QUAN CHỦ TRÌ:

– UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

– HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM 

* ĐƠN VỊ THỰC HIỆN:

– UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ

– SỞ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH QUẢNG TRỊ 

* ĐOÀN CHỦ TỊCH VÀ ĐIỀU HÀNH HỘI THẢO:

 1. Đồng chí Nguyễn Đức Chính – Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch Thường trực Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị 

2. Đồng chí Nguyễn Công Phán – Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch UBND huyện Cam Lộ 

3. PGS.TS Nguyễn Văn Nhật – Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam 

4. PGS.TS Đỗ Bang – Phó Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 

5. TS. Nguyễn Bình – Phó Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị 

 …xem hết 

 

 1. Diễn văn khai mạc của đồng chí Nguyễn Công Phán – Bí thư Huyện ủy – Chủ tịch UBND huyện Cam Lộ

11/07/2010 22:51:4 …xem hết

2. Phát biểu của đồng chí Nguyễn Đức Chính, UVTV TW – Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Trị

11/07/2010 22:51:11 …xem hết

3. Báo cáo tổng thuật về đề dẫn hội thảo của PGS.TS. Đỗ Bang – Phó Tổng thư ký Hội KHLS Việt Nam

11/07/2010 22:50:43 …xem hết

4. Miền Tây Cam Lộ dưới triều Nguyễn – TS. Nguyễn Văn Đăng

11/07/2010 22:50:08

5. Thành Tân Sở: Quá trình xây dựng và diện mạo kiến trúc – ThS. LĐức Thọ

11/07/2010 22:49:38

6. Vai trò Nguyễn Văn Tường đối với vùng đất Cam Lộ và trong quá trình xây dựng thành Tân Sở (1856-1885) – PGS.TS. Đỗ Bang

11/07/2010 22:48:50

7. Vua Hàm Nghi với dụ Cần Vương ở Tân Sở – ThS. Nguyễn Quang Trung Tiến

11/07/2010 22:48:07

8. Sau ngày thất thủ kinh đô 5-7-1885, những nhân vật ra Tân Sở để phát động phong trào Cần Vương – Nguyễn Đắc Xuân

11/07/2010 22:47:32

9. Văn thân, sĩ phu Quảng Trị với công cuộc Cần Vương cứu nước cuối thế kỷ XIX – TS. Trương Công Huỳnh Kỳ

11/07/2010 22:46:51

10. Vua Hàm Nghi trên lộ trình thiên đô sau ngày 5/7/1885 – ThS. Nguyễn Tất Thắng

11/07/2010 22:45:54 

11. Nhân vật thời Tân Sở – Cần Vương – ThS. Lê Tiến Công

11/07/2010 22:44:23 

12. Tính chất Quảng Trị được thể hiện trong vè “Thất thủ Kinh Đô” – Lê Quang Thái

11/07/2010 22:43:51 

13. Địa cuộc Tân Sở dưới gốc nhìn kinh đô kháng chiến Cần Vương qua khảo sát thực địa – ThS. Lê Đình Hào, Nguyễn Thanh Tùng

11/07/2010 22:43:13 

14. Thành Tân Sở nhìn trong sự so sánh – TS. Phan Thanh Hải

11/07/2010 22:41:52 

15. Một số giải pháp góp phần bảo tồn, tôn tạo khu di tích thành Tân Sở – TS. Nguyễn Bình

11/07/2010 22:41:19 …xem hết 

16. Phương án bảo tồn, tôn tạo Khu di tích thành Tân Sở – Ngô Thanh Bảo

11/07/2010 22:40:06 …xem hết

17. Mấy ý tưởng về việc phục hồi, tôn tạo di tích thành Tân Sở – TS. Trần Minh Đức & KTS. Đỗ Thị Khánh Mai

11/07/2010 22:38:51 …xem hết

18. Tân Sở và phong trào Cần Vương – Ý nghĩa và bài học lịch sử – PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật – TS. Hà Mạnh Khoa

11/07/2010 13:29:19 …xem hết

15-7 HB10
(bản sao từ điểm mạng vi tính toàn cầu đã dẫn)
_________________________________________________

 

Một số giải pháp góp phần bảo tồn, tôn tạo khu di tích thành Tân Sở
(trích)

TS. Nguyễn Bình

Đi sâu vào công tác quy hoạch đầu tư, định hướng cho nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo di tích thành Tân Sở, chúng tôi xin đưa ra các nhóm giải pháp theo từng lĩnh vực như sau:

– Nhóm giải pháp bảo tồn các yếu tố gốc: Như phần đánh giá thực trạng di tích đã nêu, di tích thành Tân Sở chỉ còn lại là địa điểm ghi dấu, các công trình như thành lũy, hào thành, cổng thành cùng những kiến trúc khác hầu như không còn lại gì! Do đó, việc bảo tồn, tu bổ các yếu tố gốc hầu như không được đặt ra.

– Nhóm giải pháp phục dựng, tái tạo: Thành Tân Sở là một di tích thuộc loại hình kiến trúc thành lũy, do đó, căn cứ vào các nguồn tư liệu đã mô tả cũng như tư liệu điền dã, để phục dựng, tái tạo các yếu tố chính của di tích như: thành đất, lũy tre, hào thành, cổng thành… là rất cần thiết. Việc làm này một mặt cho chúng ta cảm nhận, gợi nhớ về dáng dấp của thành Tân Sở xa xưa, mặt khác nó cũng tạo ra một không gian cảnh quan để tổ chức lễ hội mang tính tái hiện lịch sử theo định kỳ tại di tích Tân Sở. Nếu điều kiện ngân sách và tư liệu hội đủ chúng ta có thể tái hiện công trình Hành cung, cột cờ, giếng nước, súng thần công…

– Nhóm giải pháp tôn tạo, tôn vinh: Tại khuôn viên di tích trên cơ sở kiến trúc của Hành cung, cần thiết phải xây dựng một công trình Bảo tàng Cần Vương; nhằm trưng bày các tư liệu, hiện vật liên quan đến di tích thành Tân Sở và phong trào Cần Vương chung trong cả nước là hết sức cần thiết. Thông qua trưng bày bảo tàng là nhằm tư liệu hóa, các sự kiện lịch sử về Tân Sở – Cần Vương tại một di tích hầu như chỉ còn là phế tích, địa điểm ghi dấu; đồng thời với vai trò là trung tâm dấy nghĩa Cần Vương, Tân Sở xứng đáng có một Bảo tàng Cần Vương mang tầm vóc Quốc gia.

+ Hình ảnh vị vua trẻ tuổi, yêu nước Hàm Nghi rời bỏ kinh thành Huế với cung vàng, điện ngọc, để cùng quan quân đi kháng chiến, hạ chiếu “Cần Vương” tại Tân Sở, kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên đánh giặc cứu nước và 2 vị quan Đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường là linh hồn của phái chủ chiến, những nhân vật lịch sử đã gắn bó với Tân Sở – Cần Vương cần phải được suy nghĩ để có giải pháp tôn vinh, khắc họa bằng các hình thức như tượng đài, phù điêu…

+ Thành Tân Sở là một di tích độc đáo và duy nhất của phong trào Cần Vương của cả nước. Với những ý nghĩa đó, bài Hịch Cần Vương đã trở thành lời hiệu triệu, tiếng kèn xung trận, dấy lên một phong trào từ Nam chí Bắc… Do đó, nên tìm tòi, lựa chọn giải pháp để chuyển tải toàn bộ nội dung bài Hịch tại di tích Tân Sở thì hiệu quả tái hiện lịch sử sẽ cao và tính giáo dục truyền thống yêu nước sẽ sâu sắc, sinh động.

+ Ngoài ra trong khuôn viên di tích cần quy hoạch một không gian lễ hội rộng, có sức chứa 2 đến 3 ngàn người, nơi sẽ được diễn ra các lễ hội gắn với phong trào Cần Vương theo định kỳ. Các điểm di tích liên quan, nơi đã từng gắn bó với các sự kiện hoặc các nhân vật lịch sử của phong trào Cần Vương tại vùng Cùa, cần phải được nghiên cứu để có hình thức bảo tồn như cắm bia biển ghi dấu sự kiện…

+ Một hình thức tôn vinh, ghi dấu khá hiệu quả, đó là đặt tên các nhân vật lịch sử, các phong trào tiêu biểu gắn với các công trình công cộng và các con đường trên địa bàn. Tại vùng Cùa hiện nay đã có một ngôi trường Trung học Cơ sở được mang tên trường Hàm Nghi, đây là việc làm có ý nghĩa; còn những con đường trên vùng Cùa thuộc hai xã Cam Chính và Cam Nghĩa đã được nhựa hóa hoặc đã quy hoạch mở rộng, nên chọn tên các nhân vật lịch sử gắn với Tân Sở – Cần Vương để đặt tên đường như: Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp, Phan Đình Phùng, Lê Trực, Trần Xuân Soạn, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích…

Qua hội thảo “Thành Tân Sở với phong trào Cần Vương”, với những đóng góp tâm huyết của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn, chúng tôi mong rằng một đề án quy hoạch bảo tồn, tôn tạo di tích Tân Sở sớm được hình thành và thực thi.”

TS. NGUYỄN BÌNH

http://www.baoquangtri.vn/default.aspx?TabID=99&modid=488&ItemID=27358

Cũng có thể xem với dạng quét chụp (scan) theo nhan đề link-hóa ở bảng danh mục tham luận bên trên.

______________________________________

Trân trọng mời xem ngay tại điểm mạng “txawriter.wordpress.com” này:

BÀN THÊM VỀ
THÔNG BÁO CHO THIÊN HẠ CẦN VƯƠNG (CÁO DỤ CẦN VƯƠNG),
LỆNH DỤ THIÊN HẠ CẦN VƯƠNG
VÀ CỤM TỪ “TỜ CHIẾU CẦN VƯƠNG CỦA VUA HÀM NGHI”

Trần Xuân An

TXA.

CÁC BÀI LIÊN QUAN

(xem trong: Trần Xuân An — “Bàn thêm về mấy vấn nạn sử học”, khảo luận – phê bình – trao đổi, 2005-2008)
http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/tieu-luan-2

I. Khảo luận (chính):

(số thứ tự trong sách)

4. Gs.Ts. Yoshiharu Tsuboi hiểu lầm bản tuyên cáo 16-6-1874 của Tôn Thất Thuyết

5. Sách lược “hai mặt” ở Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi — trả lời một thắc mắc

6. Về cái được gọi là “Chiếu Cần vương – D’Argenlieu – 1889”

7. Bàn thêm về Thông báo cần vương (Cáo dụ Cần vương), Dụ Cần vương, Chiếu Cần vương

8. Phan Bội Châu trong quan hệ với Thiên Chúa giáo

9. Về tấm ảnh Phan Bội Châu và Cường Để chụp chung

10. Chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề của Phan Bội Châu

II. Trao đổi (phụ):

(số thứ tự trong sách)

2. Trao đổi với nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân về bài viết: “Sau ngày thất thủ kinh đô (05-7-1885) Đại thần Nguyễn Văn Tường (1824-1886) khó thoát khỏi bước đường cùng”

6. Báo chí giới thiệu, bình luận sách mới của Trần Xuân An nhưng vẫn tránh né một trong hai mảng chủ đề cốt yếu thuộc nội dung chính (thêm một vài lời)

7. Nghĩ về các trích đoạn đề cập đến phong trào Văn thân & Cần vương chống Pháp (1883-1885-1886) từ bài viết “Cố Điện” của cố học giả Hoàng Xuân Hãn

8. Tiếp thu sự góp ý của ông Vương Đình Chữ về các ông Nguyễn Hoàng (Hoằng), Nguyễn Hữu Cư và Thierry D’Argenlieu

10. Ý kiến ngắn: Từ chân lí, sự thật lịch sử & tiêu chí nhận định: Có nên tôn vinh những nhân vật lịch sử đầu hàng, thoả hiệp (Phan Thanh Giản, Võ Trọng Bình, Hoàng Tá Viêm, Hàm Nghi, Duy Tân)? — Cải táng di cốt vua Hàm Nghi tại Tân Sở, Cam Lộ, Quảng Trị, nơi phát Dụ Cần vương bi tráng

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , | 2 Comments »

ẢNH HƯỞNG GÌ ĐẾN BẢN QUYỀN NGHIÊN CỨU SỬ CỦA TXA. KHÔNG?

Posted by Trần Xuân An trên 16.07.2010

hidden hit counter

Trả lời thư một người đọc:

“Vì sao ông Trần Xuân An không ra Quảng Trị tham dự hội thảo khoa học về “Thành Tân Sở và phong trào Cần vương”? Như vậy có ảnh hưởng gì đến bản quyền công trình nghiên cứu về Nguyễn Văn Tường của ông không?”

Xin trả lời: Tôi không được Ban Tổ chức nội thảo mời. Việc không mời này là có hệ thống.

Dẫu sao tôi cũng đã xuất bản chính thức với dạng sách in giấy và cũng đã đăng kí bản quyền bốn (04) đầu sách của tôi viết về Nguyễn Văn Tường (1824-1886) rồi:

BẢN QUYỀN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824-1886) CỦA TRẦN XUÂN AN:

https://txawriter.wordpress.com/ban-quyen/

Các thư viện trong nước (trung ương & một số tỉnh, thành phố), các thư viện lớn trên thế giới (kể cả thư viện đại học, thư viện quốc hội) đều có lưu trữ bốn (04) đầu sách về đề tài này của tôi.

Rất tiếc là còn một số đầu sách (bản in vi tính & bản công bố trên mạng toàn cầu) là còn bị gây khó dễ (hay bị quấy nhiễu bởi những kẻ tị hiềm?).

15-7 HB10 (2010)

TXA.

______________________________________
 
MONG VIỆC TÔN TẠO DI TÍCH TÂN SỞ, 
DỰNG TƯỢNG ĐÀI VUA HÀM NGHI
CÙNG CÁC ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG, TÔN THẤT THUYẾT… 
SỚM HOÀN THÀNH & HOÀN THÀNH TỐT ĐẸP
______________________________________

 

*****************************************************

 

14-04 HB8:

KIẾN NGHỊ CHỌN TÂN SỞ (QUẢNG TRỊ) LÀM NƠI CẢI TÁNG DI CỐT VUA HÀM NGHI VÀ NHÂN DỊP NÀY ĐẶT TÊN ĐƯỜNG, TÊN TRƯỜNG HỌC BẰNG DANH TÍNH NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824-1886)

Báo Lao Động điện tử và các báo, tạp chí khác như Văn chương Việt cùng nhiều điểm mạng liên thông toàn cầu (website, webblog) trong hai ngày vừa qua đã đưa tin “Di hài vua Hàm Nghi sắp về đến Huế”.

Theo bản tin của ông Hoàng Văn Minh (Lao Động online), các cơ quan hữu trách và các nhà nghiên cứu sử học ở Huế đã bàn bạc về nơi sẽ cải táng di cốt của vị vua vốn được nhận định là “linh hồn của Phong trào Cần vương” trong những năm đầu của phong trào này (1885-1888), mặc dù sau đó, 1904, Hàm Nghi đã kết hôn với con gái của một quan toà thực dân Pháp tại Alger. Như vậy, phải chăng sự nghiệp đáng tôn vinh của Hàm Nghi thực sự chấm dứt từ 1888 hoặc 1904? Dẫu sao, theo đó, cần chọn một vị trí thích đáng, và nơi ấy cũng sẽ là nơi cải táng di cốt Tôn Thất Thuyết (hiện còn táng ở Trung Hoa) cũng như nhiều vị khác để trở thành “Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Cần Vương”. Bài báo cũng nhắc lại một vài nét về cuộc kinh đô quật khởi, bị thất thủ (05-7-1885) và ngày tuyên Dụ Cần vương, phát động phong trào (13-7-1885), tại Tân Sở (Quảng Trị).

Nhân đây, WebTgTXA. trân trọng kiến nghị:

a) Nên chọn một phần đất thuộc Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) để cải táng di cốt vua Hàm Nghi, đồng thời làm “Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Cần Vương” như ý kiến đề xuất trong bài báo;

b) Trong những năm qua, đã có các hội thảo, hội nghị sử học, lễ phục hồi trọn vẹn danh tiết, kể cả 2 tháng ở lại Huế, những tháng cuối đời tại Tahiti của Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và lễ dựng bia lịch sử cuộc đời ông, đây cũng là một dịp để chọn một vài con đường hay trường học, tại Huế, tại Quảng Trị và ở các tỉnh, thành khác để đặt tên bằng danh tính của nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường. (WebTgTXA.).

(Kiến nghị này đã được đăng trên nhiều điểm mạng vi tính toàn cầu, từ 14-04-2008)

TXA.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , | Leave a Comment »