Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Posts Tagged ‘tháng giêng tháng hai tháng ba tháng bốn tháng khốn tháng nạn’

SONG SINH KẺ DIÊN – truyện ngắn Trần Xuân An

Posted by Trần Xuân An trên 04.01.2016

hidden hit counter

 
.
.

Link: Xem truyện viết tiếp – truyện thứ 2: ĐẦU ĐẠN LƯU CỮU

SONG SINH KẺ DIÊN
Trần Xuân An

— truyện ngắn —

“bài ca sức sống Kẻ Diên
hát trong tuyệt vọng, sáng thêm cách nhìn
oán thù? Vẫn sẵn ngọt lành
bát nước đổ xuống, bưng lên, lại đầy
nhân tình, cười ấm lòng say
rất nhân hậu, nhẹ nhàng thay nụ cười”.

(T.X.A. – Cảm nhận bên dòng sông, 1985)

1

Ngôi nhà xây gạch, lợp ngói thuộc loại giản dị nhất vẫn vậy, chỉ thấy cũ kĩ đi theo năm tháng. Nhưng mảnh vườn phía trái đã khác, từ khi anh em Tre và Trưng quyết định xin ba mạ cho dựng hai cái quán liền nhau, trổ cửa ngõ ra đường làng, lưng quán kề sát với mảnh sân trước ngôi nhà. Hai cửa ngõ của hai quán cũng giản đơn thôi, chỉ bứng đi mươi gốc chè tàu lá nhỏ vốn làm bờ rào cho mỗi bên, và biến thành hai chiếc cổng tre. Trên mỗi cổng, có tấm biển làm bằng ván gỗ, ghi “Cà phê Tre”“Cháo bột Trưng”. Hai cái quán lợp tôn, đóng trần và thưng bốn phía bằng phên tre cật, cũng song sinh như anh em họ.

Sáng nay, Tre không trông có nhiều khách vào nhâm nhi cà phê như mọi buổi sáng khác. Anh đang nhấp nhổm ngồi phía sau quầy, muốn gọi ra Đông Hà hỏi thử việc thu âm hai bài ca dao của làng Kẻ Diên, quê anh, với giọng ngâm của một giáo viên trung học đồng thời là nghệ sĩ trẻ được khá nhiều người ưa chuộng, đã xong chưa.

Tre bấm số trên bàn phím điện thoại di động của mình.

– Xin chào… Tôi là Tre ở Kẻ Diên đây. Cho tôi hỏi về cái đĩa CD tôi nhờ cô diễn ngâm, thu âm giúp, không biết đã xong chưa? – Tre cười thân thiện trong khi hỏi –.

– Xong rồi đó anh Tre. Cũng may là phòng thu âm tốt nhất tại Đông Hà mới vừa nâng cấp thêm, nên chất lượng âm thanh cũng khá lắm. Anh ra lấy đi nghe! – Giọng của nữ nghệ sĩ trẻ –.

– Vâng, vâng. Khoảng 12 giờ, tôi có mặt ở Đông Hà. Chắc giờ đó sẽ được gặp cô.

Tre kết thúc cuộc điện thoại với nụ cười hài lòng.

Một người bạn cũng là khách của quán, ngồi ở bộ bàn ghế gần với quầy nhất, hỏi Tre:

– Thu âm nhạc à? Có nhạc mới gì hay không?

Tre bước ra ngồi với bạn:

– Không phải nhạc. Mình nhờ nghệ sĩ Sông Hiếu ngâm thơ và thu âm giúp hai bài ca dao nổi tiếng của làng Kẻ Diên mình đó mà!

– À! Cũng hay đó! – Người bạn lại cười hóm hỉnh –. Tre thích thu âm hai bài đó thật, hay chỉ là cái cớ để làm quen với nghệ sĩ Sông Hiếu?

Tre cười:

– Không dám mô! Người ta là giáo viên trung học phổ thông, nghệ sĩ nổi tiếng, mặc dù còn quá trẻ!

– Trẻ thì cũng cỡ tuổi bọn mình, hay nhỏ hơn vài tuổi chứ mấy! Về trình độ, bằng cấp, Tre cũng cử nhân đó chứ thua kém gì!

– Thua kém chứ, thua vì cái thất nghiệp của mình.

Ngồi với nhau thêm một lúc, người bạn trả tiền cà phê và bước ra cửa, quay mặt lại với nụ cười:

– Chúc may mắn!

– Không có chi đâu! – Tre cũng cười xoà –.

Trong quán, chỉ còn dăm người khách trẻ, cũng là dân trong làng cả. Tiếng nhạc êm dịu vẫn lan toả khắp không gian của quán.

.
2
.

Khi Tre chuẩn bị đóng cửa quán, khép lại cánh cổng tre để ra Đông Hà, anh nhận được cuộc gọi từ Sông Hiếu. Nghệ sĩ trẻ này bảo chiều nay cô không có tiết dạy, nên anh cứ thư thả, khoảng 2 giờ chiều ra đến Đông Hà là được rồi.

Gần đúng 14 giờ, Tre dựng chiếc xe gắn máy trước cổng nhà Sông Hiếu. Thấy không có nút chuông, Tre bấm số điện thoại.

Sông Hiếu ra mở cổng, mời Tre vào nhà với nụ cười tươi tắn.

Trong phòng khách đã có sẵn đầu máy đĩa và những chiếc loa.

– Anh có cần nghe thử không? – Tự tin trong vẻ tự nhiên, Sông Hiếu hỏi –.

– Nếu không có chi phiền hà, nghe thử được, cũng… đỡ sốt ruột. – Tre cười nhẹ –.

Chiếc đĩa được lấy ra khỏi hộp, đặt vào máy. Tiếng ngâm thơ xen lẫn đọc diễn cảm vang lên trên nền tiếng sáo trúc, tiếng đàn tranh phụ hoạ. Tre xúc động đến ngẩn ngơ.

.
Bài 1
.

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn
tháng khốn, tháng nạn
đi vay, đi tạm
được mấy quan tiền
ra chợ Kẻ Diên
mua một con gà mái
về nuôi
hắn đẻ ra mười cái trứng

cái thứ nhất: ung
cái thứ hai: ung
cái thứ ba: ung
cái thứ tư: ung
cái thứ năm: ung
cái thứ sáu: ung
cái thứ bảy: ung
còn ba cái nở ra ba con
con – diều tha!
con – quạ bắt!
con – mắt cắt lôi!

đừng than phận khó, ai ơi
còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây.

Bài 2

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn
tháng khốn, tháng nạn
đi vay, đi tạm
được mấy quan tiền
ra chợ Kẻ Diên
mua một vác tre
về che cái quán
ai thù, ai oán
phá quán tôi đi
tôi thương cái cột, tôi nhớ cái kèo
tôi thương cái đòn tay, tôi nhớ cái cửa
bạn nghèo gặp nhau!

Tre cảm thấy chỉ nên nói ngắn gọn về cảm xúc của mình. Anh muốn ánh mắt mình nói lên hết lời cảm phục. Có lẽ vậy, nên Tre chỉ buông ra một lời:

– Không biết cảm ơn nghệ sĩ Sông Hiếu thế nào cho đủ đây!

Và Tre mở xách tay mang theo, lấy ra một phong bì đựng số tiền thù lao nghệ thuật, đặt trên bàn, cạnh tách trà trước mặt Sông Hiếu. Sông Hiếu cũng đã lấy đĩa CD ra khỏi máy, đặt vào hộp, đặt trước tách trà của Tre.

– Anh Tre là người làng Kẻ Diên?

– Đúng rồi, cô Sông Hiếu. – Tre cười thân thiện –.

– Chiều nay, mạ tôi và tôi không có tiết dạy, còn ba tôi vẫn đang ở trường, đứng lớp. Tôi là giáo viên, nhưng cũng nghệ sĩ lắm. Nếu anh không ngại, và không mất thì giờ, tôi xin được hỏi anh đôi điều về hai bài ca dao của làng anh. Như rứa có bất tiện không anh?

Tre hơi bối rối:

– Tôi thích là bởi chúng xuất phát từ làng Kẻ Diên tôi. Một trong hai bài đã được đưa vào sách giáo khoa trung học phổ thông. Nhưng đây là ca dao cổ…

– Tôi chỉ thắc mắc một chi tiết nhỏ thôi. – Sông Hiếu cố gắng cười nhưng thật ra, cô đang tự hiểu mình quá bộc trực –. Tôi thắc mắc thật đó. Có người bảo câu “Ra chợ Kẻ Diên …” chứng tỏ hai bài ca dao này xuất phát từ mấy làng ở phía nam của làng Kẻ Diên, chứ không phải do người dân làng Kẻ Diên sáng tác, truyền khẩu.

Nhìn vào gương mặt Tre, Sông Hiếu cảm thấy mừng, vì Tre không phân vân, lúng túng, mà rõ ràng ngay trước mặt cô, Tre đang sáng lên những tia lấp lánh trong đôi mắt, tỏ vẻ sẵn sàng bàn cãi cho vui.

– Tôi không giỏi về phân tích văn chương. Nhưng đây là hai bài ca dao tôi rất yêu thích, vì nhiều lẽ, trong đó có một lẽ là chúng có chứa đựng địa danh Kẻ Diên làng tôi – Tre nói –.

– Anh nói tiếp đi!

– Và thế này, tôi có quen một người cũng quan tâm, yêu thích hai bài ca dao đó. Chú ấy có giải đáp thêm cho tôi, qua điện thoại, rằng chúng có thể xuất phát từ Giáp Phước, tức là Phe Tư hoặc ở Xóm Đông, tức cuối Phe Nhất của làng Kẻ Diên. Thật ra ở giáp nào hay còn gọi phe nào của làng Kẻ Diên, người ta cũng nói là “ra chợ”, vì chợ ở trước đình làng, mà phía hậu của chợ liền kề với con kênh đào, kênh đào lại kế tiếp với đồng ruộng rồi. Nói gọn là các xóm dân cư của làng ở phía trong, còn chợ ở phía ngoài, giáp đồng ruộng, nên nói “ra chợ” là đúng. Thêm vào đó, việc đưa tên làng mình vào ca dao cũng xuất phát từ tâm lí tự hào, chút tự hào cần khẳng định với mục đích để rồi tiếp ngay sau đó, thể hiện tâm trạng tự buồn của người dân trong làng. Và có thể có ai đó vội nghĩ, chợ chi mà bán gà, bán tre xui xẻo đến tận mạng! Với hoàn cảnh quá đen tối, bế tắc trong bài ca dao, việc xác định rõ địa danh làng mình là phù hợp nhất, chứ chẳng lẽ lại công khai khắc hoạ sự đen tối, bế tắc gắn liền với chợ thuộc địa phương khác! Công khai bày tỏ buồn phiền gắn liền với chợ địa phương khác? Thiếu tế nhị quá! Rồi kế tiếp, trong bài ca dao này, là phẩm chất tốt đẹp ẩn kín, trong sự tự động viên mình, khích lệ người khác, trong tình nghĩa với người cùng cảnh ngộ, chỉ thể hiện thêm ở một, hai câu kết mà thôi! – Tre nói thêm –. Nếu giả thiết, làng Trường Sanh, làng Kẻ Văn, Kẻ Đâu, Kẻ Vịnh, Kẻ Lạng… chi đó ở phía nam làng Kẻ Diên là nơi xuất phát bài này, hoá ra các làng ấy nói xấu chợ huyện trên đất làng Kẻ Diên à? Trong ứng xử văn hoá, tội nói xấu làng khác, cụ thể là chợ trên đất làng khác, mang tên làng khác, không ai dám phạm phải một cách công khai!

Sông Hiếu chờ Tre nói thêm. Tre cũng cảm thấy cần nói cho trọn lẽ:

– Xét mặt khác, ở các làng hơi xa chợ Kẻ Diên, như Trường Sanh, Bến Đá, Kẻ Văn, mua chỉ một con gà mái, chỉ một vác tre đủ để làm quán, người ta cần gì phải đi xa vậy! Ngay trong mỗi làng, hầu hết nhà nào cũng có tre, có gà, người đó có thể đề nghị láng giềng để lại, bán cho, chứ cần chi phải ra đến tận chợ Kẻ Diên! Hai món này với số lượng chừng ấy thôi, thì chỉ có người ở ngay tại làng Kẻ Diên mới ra chợ, vì chợ quá gần, quá tiện.

Hai người im lặng suy nghĩ thêm, mặc dù Sông Hiếu đã cảm thấy cách giải thích theo cấu trúc bài ca dao như vậy là sâu sắc đến không ngờ, và về mặt kiểm chứng thực tế, là thoả đáng nhất.

– Ca dao vốn có nhiều dị bản! Nhưng dù cách nào người dân của Kẻ Diên cũng phải đưa địa danh làng mình, là Kẻ Diên, vào đó mới thật thích hợp với tâm thế của người trong làng. Mà tâm lí, cách ứng xử văn hoá của con người nói chung là rứa cả. Vả lại, nhờ có thêm địa danh, nên có màu sắc địa phương hơn, và đến nay hậu thế mới biết nó là sản phẩm của Kẻ Diên. – Tre nói –. Tôi muốn nói thêm một ý quan trọng: Ở ngôn từ đối thoại thông thường trong cuộc sống hằng ngày, với khung cảnh mà không gian, thời gian mặc nhiên đã xác định, thì chỉ nói tắt là “Ra chợ” cũng đủ nghĩa rồi. Nhưng ngôn từ trong văn bản, dù văn bản ca dao truyền khẩu, việc xác định rõ “Ra chợ Kẻ Diên” cũng rất cần thiết và bình thường.

Quả thật bài thơ có thể hiện nỗi niềm tự buồn, chứ không phải tự trào, cho dù cười ra nước mắt. Nhắc đến tự trào, tự biếm, tự trách, Sông Hiếu nhớ đến Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà… Các thi sĩ ấy đều nhắc tên bản thân mình, quê quán mình trong thơ để tự chê trách, tự châm biếm. Tuy vậy, họ cũng có khi nêu đích danh đối tượng khách thể đáng châm biếm trong thơ của mình! Trường hợp cười mình thì tế nhị, trường hợp cười người thì mang tiếng cay độc, cho dù cay độc một cách nhẹ nhàng. Nhưng đây đúng là tự buồn, nên tự nêu lên địa danh làng mình là tế nhị nhất. Bài ca dao chẳng ám chỉ chợ nào khác. Và, Sông Hiếu thấy, nhận xét về ngôn từ chuyện trò, trao đổi trong đời sống hằng ngày, về ngôn từ văn bản, dù văn bản truyền khẩu, như Tre nói là hoàn toàn hợp lí.

Một khoảng lặng đăm chiêu, ngẫm nghĩ xuất hiện giữa câu chuyện của hai người.

Ý tưởng chìm lắng đâu đó lại chợt hiện ra trong đầu, Sông Hiếu nói:

– Nhưng thật ra, hai bài ca dao Kẻ Diên có hai chủ đề chính. Đó là đề cao ý chí vượt qua khó khăn, hoàn cảnh sống ngỡ chừng như tuyệt vọng, ở bài thứ nhất, còn ở bài thứ hai, đó là lòng nhân hậu, không nuôi thù oán, và yêu thương người nghèo khổ cùng cảnh ngộ. Hai điều ấy mới thật là thông điệp mà tác giả là nhân dân làng Kẻ Diên tự nhắc nhở mình và gửi đến người nghe, với niềm tự hào thầm kín về nghị lực, về tình cảm, về tấm lòng không lấy oán báo oán. Thật ra không phải chợ xui xẻo (người ta chỉ cảm nhận vậy thôi), mà chính là thời vận chung, hoàn cảnh khốn đốn chung, đặc biệt đối với những phận người nghèo khổ, trong hoàn cảnh đó, càng khốn cùng hơn. Nói cho cùng, thấy gà khoẻ, tre tốt mới mua chứ. Người mua có quyền chọn lựa mà! Làm sao biết con gà nào, vác tre nào mang tới xui xẻo! Cho nên, không có chuyện chợ bán gà đang sống, bán tre còn tươi, mà gây xui xẻo! Người dân Kẻ Diên, qua hai bài ca dao đó, nói về chợ trên đất làng mình, mang địa danh làng mình, và nói về phẩm chất của chính người dân Kẻ Diên. Không phải chợ Kẻ Diên “bán” xui xẻo cho người mua! – Sông Hiếu ngừng lại, rồi tỏ ý muốn nói tiếp. Cô nhấn mạnh –. Tóm lại, đó chỉ là một tứ thơ, có cách cấu tứ là khắc hoạ hình tượng nhân vật chủ thể trong thơ bị lâm vào cảnh huống tận cùng tuyệt vọng, để cuối cùng, làm bật sáng lên phẩm chất cao quý của nhân vật.

– Đúng! Cảm ơn… Ai cũng đều mơ hồ cảm nhận ra chủ đề, tứ thơ chính là vậy. Cảm ơn cô Sông Hiếu đã nói rõ ràng, khúc chiết, và thật trọn vẹn như rứa. – Tre thật lòng cảm kích –. Nhưng… Mặc dù ánh sáng bật lên ở câu kết, nhưng cảm giác về sự đen tối, bế tắc mà bài ca dao diễn tả là có thật đó.

Sông Hiếu như vỡ lẽ trước lời chú giải từ Tre và chính ngay từ lời khẳng định lại của chính mình, cô có cảm giác phấn chấn hẳn.

Bỗng dưng, Sông Hiếu đưa tay ra, thu lại hộp đĩa CD vào lòng mình:

– Tôi sẽ ngâm lại, thu âm lại hai bài ca dao ni. Phải ngâm lại cho thật đúng với tinh thần của chúng, anh à!

Tre ngạc nhiên, mặc dù cũng hiểu thiện chí của Sông Hiếu:

– Thôi, được rồi, cô Sông Hiếu! Phiền hà cho cô quá!

– Không sao đâu! Tôi sẽ cố gắng ngâm tốt hơn… – Sông Hiếu lại ngẫm nghĩ –. Thôi thì thế này, anh cứ mang vào nghe. Vài hôm nữa, tôi sẽ gọi điện thoại, anh cảm phiền đem đĩa này ra, đổi lại. Tôi sẽ huỷ đĩa này.
Sông Hiếu lại khẽ đặt chiếc hộp đĩa ở chỗ cũ, trước mặt Tre.

Chừng như Sông Hiếu đã tìm ra cách ngâm hay hơn, đúng hơn, nên cô càng phấn chấn.

– Tôi cũng muốn cảm ơn anh về những thông tin vừa rồi. Chiều nay tôi rảnh rỗi, anh cũng chẳng mấy khi ra Đông Hà, tôi muốn mời anh đi cà phê, thăm vài đường phố Đông Hà cho vui.

Tre hơi sửng người khi thấy Sông Hiếu rất cởi mở, hiếu khách một cách tự nhiên. Cô gái này đúng là có phẩm chất nghệ sĩ từ trong máu thịt.

– Tôi rất vui. Được cô mời đi quán cà phê, ngắm phố sá, tôi vui lắm.

Sông Hiếu đã mặc sẵn áo quần ra phố để đón tiếp Tre, nên cô đứng dậy, nói ngay:

– Vậy thì mình đi. Đi xe anh nghe! Anh đợi tôi một chút, tôi vào nhờ mạ tôi đóng cổng đã nghe!

Đợi một chốc, Tre thấy Sông Hiếu bước ra với mẹ. Sau cái cúi đầu và lời chào hướng về phía mẹ của Sông Hiếu, Tre xin phép ra phố cùng cô.

Khi ngồi sau lưng anh, trên chiếc xe máy đang phóng đi với tốc độ chậm, vừa phải, Sông Hiếu nói:

– Về chi tiết nêu đích danh tên làng để thể hiện chút tự buồn xen lẫn tự hào, tôi thấy thú vị lắm. Nhưng cái gì cũng tuỳ trường hợp, phải không anh? Không phải nhất nhất đều rứa cả!

Tre chợt nhớ:

– Tôi quên một chi tiết, đó là từ “ung”. Hiện nay, ở làng không mấy ai còn dùng từ đó khi nói về trứng. Họ dùng từ “ung” cho trường hợp khác. Cũng khá lâu rồi, họ nói “trứng hư”, “trứng thúi”, chứ không nói “trứng ung” nữa. Có lẽ “trứng ung” thuộc lớp từ do lớp người di dân vào sớm nhất, chứ lớp di dân kế tiếp, từ Thanh Hoá, nhất là từ Nghệ – Tĩnh vào (như “Ô châu cận lục”“Phủ biên tạp lục” đã ghi nhận), người ta nói “trứng hư”, “trứng thúi” mà thôi. Nhưng cũng có thể, chắc chắn hơn, đó là ngôn từ văn chương, nên dùng từ một cách linh hoạt để phong phú hơn, khác với ngôn từ thường dùng trong đời thật chút ít.

– Tuyệt! Đúng là thêm một thông tin thú vị! – Sông Hiếu như reo lên –. Cảm ơn anh nhiều. – Sông Hiếu cười thành tiếng, một cách sảng khoái –.

Cô lại nói:

– Anh rẽ sang phía tay phải, khi đến ngã tư thứ hai, trước mặt nghe!

– Tôi hoàn toàn nghe theo sự điều khiển của cô! – Tre cười, nói theo giọng vui đùa –.

Vẫn theo sự hướng dẫn của Sông Hiếu, Tre cho xe máy dừng lại trước cổng một tiệm cà phê khá sang trọng. Một cô gái có lẽ lớn tuổi hơn Sông Hiếu mỉm cười nhìn ra, và đưa tay đón chào. Tre đoán, có thể đó là tiệm cà phê thân thuộc của nghệ sĩ trẻ này, mà cô gái kia là chủ, hoặc giả, lúc vào nhà sau thưa với mẹ, cô đã luôn thể dùng điện thoại gọi bạn của mình đến đây.

.
3
.

Tối hôm đó, trong khi anh Trưng của Tre cùng mẹ và hai người phụ giúp khác đang vừa lo xắt bột thành từng con nhỏ, từ những ống tre tròn đã được lăn bột ướt, thả ngay xuống soong nước đang sôi với những miếng cá trắng ngần, đầy đủ gia vị nêm nếm, vừa lo múc cháo, bưng ra cho khách, Tre ở bên này, tại quán cà phê, cũng đang lo những công việc của mình. Đúng là công việc của Tre nhàn nhã hơn, nhưng phải trải dài từ sáng sớm đến gần 10 giờ đêm. Công việc của anh Trưng chỉ tập trung vào buổi chiều, đặc biệt vất vả trong khoảng hai, ba tiếng đồng hồ, từ 5 giờ chiều đến 8 giờ tối.

Sau buổi chiều gặp cô giáo trung học phổ thông cũng là nghệ sĩ ngâm thơ trẻ Sông Hiếu, Tre cảm thấy mình bổi hổi bồi hồi khó hiểu.

Anh đã nghe đi nghe lại đến ba lần hai bài ca dao Kẻ Diên, đã được ngâm nga, đọc diễn cảm bởi một chất giọng tràn đầy cảm xúc, lúc ngân vang, lúc sâu lắng, trên nền sáo trúc, đàn tranh. Những người khách phần lớn là dân làng đều cảm thấy quá tuyệt vời, trước hết là bởi đó chính là ca dao từ xa xưa tổ tiên họ để lại, truyền qua nhiều đời, và vì chất giọng quý báu của Sông Hiếu.

Trong những quãng thời gian ngồi sau quầy thu ngân, sau mỗi lần pha cà phê, bưng ra cho khách, rồi chờ dọn li tách vào, Tre nhận thấy những lời chuyện trò với Sông Hiếu và bạn của cô, Lá Xuân, cứ vọng về trong anh rõ từng từ, từng ngữ điệu.

– Không phải ngẫu nhiên anh tên là Tre, phải không anh? – Sông Hiếu tỏ ra thân tình hỏi –.

– Đặt tên cho con, có người cũng ngẫu nhiên thật, nhưng phần lớn cha mẹ nào cũng ít nhiều có ngẫm nghĩ. – Tre trả lời chung chung, như muốn né tránh –. Nhưng… – Tre ngập ngừng rồi nói tiếp –. Tôi nghe ba tôi kể, sở dĩ tôi tên Tre và người anh song sinh của tôi tên Trưng là cũng vì hai bài ca dao Kẻ Diên này. Trưng là trứng đó, như nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Hai Bà Trưng, chính là Trứng Chắc, Trứng Nhì, viết và đọc theo mặt chữ và âm Hán ngữ. Với anh Trưng, trưng là trứng gà Kẻ Diên… Nguyễn Hoàng Trưng, tên ấy gợi nhớ đến quả trứng thứ mười một, đó là quả trứng vàng may mắn, quả trứng vàng hi vọng, nghị lực vượt qua gian khổ cùng cực. Còn tôi là Tre, Nguyễn Miền Tre, cũng khởi xuất từ bài ca dao “Một vác tre” Kẻ Diên.

Hai cô gái cười khúc khích, thú vị.

– Không ngờ hai bài ca dao đó gắn bó sâu xa, máu thịt đến như vậy đối với anh em anh Tre và ba mạ anh… – Lá Xuân nói –.

– Như rứa có thể định nghĩa trong văn cảnh này, Trưng là nghị lực, hi vọng, Tre là nhân hậu, không oán hận, phải vậy không anh? – Sông Hiếu cười với nét vui rất chân thành –.

Tre cũng chỉ biết cười, tỏ vẻ cảm ơn.

Đêm hôm đó, sau khi dọn dẹp quán xong, Tre kê chiếc chõng tre, ngủ ngay trong quán của mình như thường lệ.

Điều đọng lại trong giấc ngủ anh, khá mơ hồ, nhưng nếu diễn đạt lại cho rõ ràng, thì chính hai anh em song sinh Trưng và Tre là sự hiện thực hoá hình tượng của hai bài ca dao Kẻ Diên. Có thể liên tưởng đến chùm hoa lài ngát thơm trên chậu đặt ở thềm nhà, bỗng nửa đêm thoắt biến hoá thành những tiên nữ vận xiêm y trắng ngời phảng phất hương. Có điều, hoa lài thành tiên nữ trong giấc mộng, còn hai bài ca dao song sinh Kẻ Diên lại trở thành tên của hai anh em song sinh có thật. Trưng và Tre là hiện thực hoá, chứ không phải mộng ảo hoá.

Trời đã hửng sáng. Tre bước ra, sau khi mở cửa phía sau quán, thấy anh Trưng đã đứng đó, kề ảng nước, bên thau vỏ trứng gà, đang định làm gì đó, có lẽ sắp vút gạo, ngâm gạo để xay thành bột bánh canh, trong buổi sáng nay, chuẩn bị cho buổi chiều tối, như thường lệ. Trưng ngoảnh mặt lại, nhìn Tre đang ngái ngủ, cười:

– Mau mau mà ăn sáng, rồi mở máy lại cho anh nghe cái đĩa diễn ngâm “Mười cái trứng”“Một vác tre” đi!

–. Trưng đùa, chỉ tay vào thau vỏ trứng –. Mười cái trứng thì ăn thua chi! Đây nì, gần cả tám chục cái trứng gà, số trứng gà tươi tối hôm qua khách ăn cháo yêu cầu thêm đó! Có lẽ đó là hiệu quả của cái đĩa diễn ngâm… Tre biết đó, anh đang gầy một đàn gà đẻ. Và biết đâu, sẽ tiến lên trang trại luôn! “Mười cái trứng” sẽ thành vạn cái trứng, vạn con gà!

– Còn em? – Tre cười trong khi nói –. Một chuỗi tiệm cà phê vách xây, mái đúc, nhưng đều được trang trí bằng chất liệu tre, hình tượng tre, và mãi giữ thương hiệu “Tre”!

Hai anh em song sinh cùng cười vang.

.
4
.

Năm ngày sau, Tre thất vọng vì Sông Hiếu không vào Kẻ Diên như cô đã hứa, qua cuộc điện thoại gần đây nhất. Cô chỉ nhân tiện nhờ một người quen từ Đông Hà về lại Cu Hoan thăm nhà, mang vào cho Tre hai chiếc đĩa CD y như nhau, cô mới thu âm lại lần thứ hai, kèm với một phong thư để ngỏ.

Anh Tre quý mến,

Khi anh nhận được chiếc đĩa mới này, có nghĩa là hợp đồng giữa anh và tôi về việc diễn ngâm, thu âm hai bài ca dao song sinh về chợ Kẻ Diên đã hoàn tất. Vâng, hoàn tất tốt đẹp rồi đó anh.

Cảm ơn anh nhiều về những thông tin xác định xuất xứ của hai bài ca dao như cặp bài trùng đó, nhất là về kết cấu theo biến chuyển tâm trạng được thể hiện ở bài ca dao “Mười cái trứng”, mà một nhà thơ thân quen của anh, của Kẻ Diên quê anh đã gọi là “Bài ca sức sống Kẻ Diên” trong “Nắng và mưa”, một tập thơ ông ấy đã xuất bản từ năm 1991, cách đây đã 24 năm!

Anh Tre thân mến,

Về xuất xứ, tức là “quê gốc”, “quê sinh” của hai bài ca dao đó, anh đừng bận tâm quá lắm. Nền văn học viết hiện đại, có tên tác giả hẳn hoi, rõ ràng, nhất là ở sách in giấy và sách điện tử đã xuất bản, đã công bố, thì 100% là chính xác rồi (trừ những kẻ đạo văn!). Còn ca dao, nhất là ca dao xưa, là văn học dân gian, truyền khẩu, dĩ nhiên tác giả của chúng là nhân dân, chứ đâu phải của một ai. Việc nó có “quê gốc”, “quê sinh” ở làng nào cũng không quan trọng đâu. Mặc dù lập luận anh Tre đưa ra 99% là hợp lí, nhưng xác định cho được tuyệt đối 100% cũng khó. Các làng phía nam Kẻ Diên (nam Diên Sanh) hay chính Kẻ Diên là tác giả tập thể thì cũng đều là nhân dân Quảng Trị cả thôi. Điều đáng tự hào là trong hai bài ca dao rất giá trị ấy có địa danh KẺ DIÊN, quê hương bản quán của anh Tre và anh Trưng. Đó là niềm tự hào vĩnh cửu, vì văn bản đã cố định trong nhiều sách rồi, kể cả sách giáo khoa, cho dù phải hiệu đính lại vài từ vốn bị hiệu đính sai, như “tạm” đúng hơn “dạm”, “lôi” đúng hơn “xơi”

Anh Tre quý mến,

Cuối thư, xin đùa một chút cho vui: Giọng ngâm thơ của nghệ sĩ diễn ngâm Sông Hiếu này, có giới thiệu trong CD, là đã xác định “quyền liên quan” của Sông Hiếu đó nghe! “Quyền liên quan” là một thuật ngữ trong quy ước bản quyền đó, chứ chẳng đùa đâu! (Cũng xin vô duyên cười hic hic hic để chấm dứt thư này).

Chào tạm biệt anh hí!

Mong anh Tre và Sông Hiếu có dịp gặp lại nhau trong một ngày rất gần.

Trân trọng,

– Sông Hiếu –

Tre mân mê, ngắm hai chiếc đĩa CD song sinh.

Ca dao song sinh. Anh em song sinh. Quán cũng song sinh… Liệu có gì song sinh nữa không? Biết đâu, sẽ có hai cô gái đến với anh em Trưng và Tre, để hai mối tình yêu đương bừng nở, song sinh cùng lúc?

T.X.A.
09:31, 12-12 –
05:20, 13-12 HB15 (2015)

ĐÃ GỬI ĐĂNG Ở TẠP CHÍ CỬA VIỆT (giữa tháng 12-2015).
.

Đã đăng trên FACEBOOK:
.
https://www.facebook.com/notes/trần-xuân-an/song-sinh-ke-dien-truyen-ngan-tran-xuan-an/1653900198217258
.
ĐỂ TRÁNH NHỮNG NGỘ NHẬN ĐÁNG TIẾC, XIN LƯU Ý, CÁC NHÂN VẬT CHỈ LÀ SẢN PHẨM CỦA TƯỞNG TƯỢNG, ĐƯỢC TÁC GIẢ HƯ CẤU ĐỂ PHẢN ÁNH CHÂN THẬT HIỆN THỰC, CHUYỂN TẢI NHỮNG NỘI DUNG CẦN THIẾT
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | 1 Comment »

ĐẦU ĐẠN LƯU CỮU – truyện ngắn Trần Xuân An

Posted by Trần Xuân An trên 29.12.2015

hidden hit counter

 
.
.

Link: Xem truyện thứ nhất SONG SINH KẺ DIÊN

ĐẦU ĐẠN LƯU CỮU
Trần Xuân An

truyện ngắn

1

Ông Trảng đang đứng trên chiếc thang tre, cầm cọ để cùng với bạn cũ sơn lại, làm mới cái chuồng bồ câu nhà bạn. Bất ngờ, một chiếc xe máy từ ngoài ngõ lao vào, chạy băng qua mấy luống hoa trên sân, húc vào cột chuồng, khiến ông ngã xuống. Ông nằm ngửa bên chiếc thang. Sơn xanh đổ tung toé. Bạn ông, cũng như ông, ngã xuống phía kia, cách ông dăm mét. Còn chiếc xe Wave, cùng người lái nó, nằm ngay dưới cột chuồng bồ câu.

Hoá ra, đó là một người say rượu!

Không có gì trầm trọng lắm, cả ba người chỉ trầy chợt, bầm tím vài chỗ. Sau một ngày, hai người kia vẫn đúng là vậy, nhưng riêng cẳng chân ông Trảng, lại sưng to lên, đau nhức, bắp chân tím bầm. Ông ngờ là gãy xương hay vết thương cũ tái phát.

Người bạn cũ chở ông Trảng đến bệnh viện. Bác sĩ chỉ định ông đi qua phòng X-quang. Một tiếng đồng hồ sau, ông được khám lại. Bác sĩ đọc phim, bảo cẳng chân ông có một đầu đạn nằm ở trong đó đã lâu lắm rồi, cần phải mổ để lấy ra.

– Trường hợp sống chung với đầu đạn, miểng mìn này, báo chí thỉnh thoảng đăng tin. Tôi cũng đã xử lí trực tiếp vài bệnh nhân như vậy. Nay lại đến trường hợp anh. – Bác sĩ nói, nhếch môi cười nhẹ, trấn an –.

Ông Trảng lại lo về xương chân, còn đầu đạn lưu cữu ấy ông đã biết. Ông hỏi, bác sĩ bảo chỗ xương bị mẻ ngày xưa, nay hơi rạn lại, cần phải bó bột, khiến ông vừa mừng, vừa lo ngại. Mừng là không đến nỗi nào, lại gặp dịp lấy đầu đạn ra, nhưng lo ngại là phải mất ít ra cũng cả tháng trời bị cố định chân bằng thạch cao.

Ông Trảng phải nằm lại tại bệnh viện, sau khi được phẫu thuật và bó bột. Trên khúc băng tẩm bột trắng, từ quá đầu gối cho đến tận nửa bàn chân phải, có chừa một cái lỗ, đúng nơi miệng vết mổ ở cẳng chân, để y tá làm thuốc hằng ngày.

Đầu đạn được gói trong tấm gạc, đã rỉ sét, chỉ mới rửa bằng cồn và oxy già, nhưng ông biết, nếu cạo rửa, nó vẫn có thể sáng lên màu đồng nguyên vẹn. Đặt nó trong túi áo, thỉnh thoảng ông Trảng lại lấy ra, cầm trên tay, mân mê, ngắm nghía, rồi mắt lại xa vời, như nhìn ngược vào bên trong kí ức thời chiến tranh cách đây đã hơn 43 năm.

2

Ông Trảng nằm bệnh viện đến ngày thứ hai, anh em Trưng và Tre đã vào đến nơi. Chuyến xe khách chạy suốt Đông Hà – Thành phố Hồ Chí Minh chỉ mất hơn 24 giờ. Từ chỗ đỗ là Bến xe Miền Đông, hai anh em thuê xe thồ đến bệnh viện luôn, và cùng nhau lo chăm sóc ông Trảng thay người bạn cũ của ba.

Ông Trảng vui mừng khi thấy hai đứa con trai. Sau mấy câu thăm hỏi chuyện nhà ở Kẻ Diên, ông nói:

– Có cái may là nhân tiện lấy đầu đạn cách đây 43 năm ra luôn, nhưng xui thì cũng là xui thật!

– Cứ xem như trong cái rủi có cái hên đi ba. Ba cứ yên tâm tĩnh dưỡng, đừng âu lo chi hết, ba à. – Trưng nói –.

Chiều hôm đó, ông Trảng bảo Tre cầm đầu đạn ra tìm chỗ rửa, cạo thật sạch. Ông còn cẩn thận dặn dò Tre đừng để lỡ tay làm rơi mất. Hai anh em kéo nhau ra hành lang xem kĩ, rồi một mình Tre đi về phía dãy phòng vệ sinh, tìm vòi nước.

Hơn nửa tiếng đồng hồ sau, Tre mang vào phòng bệnh cho ba. Ông Trảng ngắm nghía đầu đạn đã sáng lại màu đồng. Ông buột miệng:

– Đúng là đầu đạn AK! Chưa cạo, rửa, đã biết chắc như rứa rồi! Bây chừ, càng rõ! Rứa mà mấy chục năm nay không biết đạn AR15 hay AK47!

– Như vậy là sao hở ba? – Tre hỏi –.

Ông Trảng không nói gì. Ông chìm sâu vào kí ức của mình.

Mãi đến tối, sau khi dùng bữa khá lâu, ông mới chuyện trò khe khẽ với hai đứa con trai, trong khi ba bệnh nhân khác và người nhà của họ đang chăm chú dán mắt vào khung kính máy truyền hình.

– Tại vì lúc đó là thời chiến tranh. Trận chiến ấy lại rất khốc liệt. Quân của cả hai phía lẫn lộn vào nhau, bắn nhau loạn xạ, bùn đất bê bết, tùm lum. Bóng đêm chỉ thỉnh thoảng loé sáng lên bởi lựu đạn hay mìn. Với lại, lựu đạn sáng, hoả châu chắc cũng hết sạch, hoặc vẫn còn nhưng không ai dám ném, không ai dám bắn lên trời, vì người ném, nhất là người bắn, sợ chính họ trở thành mục tiêu, lãnh đạn ngay. – Ngừng một lát, ông Trảng nói như trong cơn mê hồi ức –. Súng ống của phe đỏ, có khi lính phe vàng chộp được, dùng luôn. Lính phe đỏ cũng rứa, có khi đoạt được súng phe vàng, cùng xài luôn.

– Trận đó ở chỗ nào, ba? – Tre hỏi nhỏ –.

– Ở Quảng Trị mình chứ đâu! – Ông Trảng cũng đáp rất nhỏ tiếng –.

– Ở làng nào, hay ở Thành Cổ?

– Ở… – Ông Trảng kịp nín lại, không nói rõ địa danh –. Thôi, đừng hỏi cụ thể làm chi…
Hai anh em Tre và Trưng vẫn đang sốt ruột, muốn biết thật cặn kẽ, nhưng sợ ba buồn lòng, nên không ai dám hỏi gì thêm.

– AR15 hay AK47 thì cũng đều là của “đầu sỏ Mỹ”, của “quan thầy Nga Sô – Trung cộng” cả! – Ông Trảng lại nói rất khẽ như thể nói một mình, với hai cụm từ thời Chiến tranh Lạnh, hai phe đỏ và vàng thường sử dụng trên Đài Hà Nội, Đài Giải Phóng, Đài Sài Gòn, Đài Tự Do và các đài phát thanh khác nữa, hồi đó –. Phe nào, đỏ hay vàng, cũng đều đánh giặc ngoại bang cả! Giặc ngoại bang đằng sau lưng của mỗi phe! Xót xa thật! – Ông Trảng cười héo hắt –.

– Còn Pháp, Nhật, thưa ba? – Trưng hỏi –.

– Sau 1945, thực dân Pháp, phát xít Nhật còn là cái quái gì nữa! Nhật đầu hàng, tan hoang. Pháp vốn bại trận, bị chiếm đóng ở châu Âu, nên từ thời điểm đó, nhếch nhác, như cái xác không hồn. Thực chất, từ 1949, Quốc gia Việt Nam đã đi với Mỹ và Khối Tự do rồi. – Ông Trảng lại im lặng, khép hờ mắt, trầm tư –.

– Nói cho đầy đủ hơn một chút, – Ông Trảng bỗng mở mắt, nói tiếp –, thì Cách mạng Tháng Tám được Phe Đồng minh, cụ thể là Mỹ ở Đông Dương ủng hộ. Vua Bảo Đại cũng đồng thuận trao ấn kiếm, đi với Việt Minh. Nhưng, Việt Minh thực chất là cộng sản… Và từ 1948, 1949, nhất là từ 1951, 1952, Việt Minh đã hoàn toàn lộ diện, công khai ghi vào điều lệ Đảng Lao động, tức là Đảng Cộng sản tái hoạt động với tên đó, là tuân phục theo Lê-nin, Sta-lin, Mao Trạch Đông, mà Sta-lin, Mao là hai lãnh tụ hai nước lớn còn sống! Sta-lin uỷ nhiệm cho Mao phụ trách! Thật là vô tiền khoáng hậu! Thế là quá rõ, Việt Nam dân chủ cộng hoà là chư hầu! Do đó, từ 1948, 1949, nhiều người đã trở về với Quốc gia Việt Nam của vua Bảo Đại, để được sự ủng hộ, viện trợ của Mỹ và Khối Tự do, nhằm giành độc lập. – Ông Trảng ngừng lại, rồi nói thêm –. Đó là chuyện thuộc thế hệ cỡ tuổi ông nội của hai con, chứ thế hệ của ba là từ sau 1954. Năm 1970, ba mới phải đi lính. – Ông Trảng lại im lặng, suy nghĩ, và lại khép hờ đôi mắt –.

Một lúc khá lâu, ông mới nhướng mắt lên, hỏi Tre:

– Tre có biết cô giáo, nghệ sĩ Sông Hiếu mà, phải không?

Ngạc nhiên, Tre thưa:

– Dạ, con biết cô nớ chứ. Cô nớ ngâm thơ, đọc diễn cảm hai bài ca dao Kẻ Diên…

– Đúng rồi. Ba nhớ có lần ba nói với con là, tưởng ai xa lạ, chứ khi hỏi con rằng nghệ sĩ Sông Hiếu con ai, ở làng mô, ba nghe con trả lời, ba đã nói ngay, chú của Sông Hiếu chính là trung đội phó của trung đội ba hồi đó. Trung đội đó, ba làm trung đội trưởng.

– Dạ, chừ con mới nhớ…

Tre chưa kịp hỏi gì thêm, ông Trảng đã nói:

– Chú của nghệ sĩ Sông Hiếu tên là Trưa, Phạm Văn Trưa. Chú Trưa hồi đó, có lần nói đùa, không biết mũi đạn trong cẳng chân ba do phe đỏ hay phe vàng bắn. Nếu muốn biết, giả dụ có phẫu thuật, lấy ra mũi đạn ra, cũng không biết được! Đó, như ba đã nói lúc nãy, khi đó mặt trận loạn xạ, đỏ với vàng lẫn lộn vào nhau, việc chộp được hay lượm được súng của nhau là không có chi lạ. Với lại, có khi bắn lầm người thuộc phe mình nữa!… – Ông Trảng chợt cười, mắt tươi lên –. Nhưng không biết phe nào bắn như rứa, cũng hay. Dù sao đi nữa, bây giờ Đất nước cũng đã thống nhất, độc lập, chỉ cần độc lập hơn nữa, và dân chủ thật sự, công bằng thật sự, mạnh dạn thay đổi những gì cần thay đổi, thu hồi biển đảo bị xâm chiếm…

Ông Trảng không nói gì thêm. Tre và Trưng cũng không dám hỏi ba thêm câu nào. Ba bệnh nhân cùng phòng và người thân của họ vẫn đang dán mắt vào màn hình nhỏ.

3

Ánh Sương và Sông Xanh đặt gói cam trên chiếc tủ nhỏ, bên cạnh giường ông Trảng đang nằm. Tre và Trưng cũng đứng gần đó. Ông Trảng đã qua mấy giây ngạc nhiên, sau khi biết hai cô gái này là bạn Facebook của hai đứa con trai song sinh. Đây là lần đầu tiên họ gặp mặt nhau, sau gần hai năm dài kết bạn với nhau trên mạng xã hội.

– Mạng xã hội! Facebook! Cũng vui thật! – Ông Trảng cười và nói, sau khi rướn người lên, kê lưng trên gối, đầu tựa vào thanh sắt tròn trên đầu giường, nửa ngồi nửa nằm –. Bác cũng đỡ rồi! Cảm ơn hai cháu nghe! – Mặc dù đã nghe Tre giới thiệu, nhưng ông Trảng cũng hỏi lại –. Hai cháu là người dưới Miền Tây? Đang học ở Đại học Tài nguyên và Môi trường tại thành phố này?

– Dạ. – Sông Xanh đáp –.

– Năm thứ mấy rồi?

– Dạ, bọn cháu đang học năm thứ ba.

Sau một vài câu thăm hỏi nữa, bốn người bạn trẻ Facebook xin phép ông Trảng để ra vườn hoa ngay trước dãy phòng đây, chuyện trò với nhau trong lần gặp gỡ trực tiếp bất ngờ này.

Cả bốn người đều vui, và rõ là thân thiện với nhau lâu rồi, vì đã nhiều lần chuyện trò với nhau bằng bàn phím và hội thoại bằng giọng nói qua mạng toàn cầu. Họ cùng ngồi trên một băng ghế đá.

Hỏi thăm, chuyện trò với nhau đủ thứ chuyện đã và đang diễn ra trên Facebook cũng như chuyện học hành, làm ăn của nhau. Thú vị nhất là khi Tre nhắc đến chứng bệnh tâm lí đã khỏi của Sông Xanh, bệnh ám ảnh bởi mùi cống rãnh! Sông Xanh phá ra cười. Ánh Sương cũng bật cười.

– Nếu gọi đó là bệnh, thì rất may là đã lành hẳn. – Sông Xanh nói –. Và ngộ thật, ngành tài nguyên – môi trường, vốn là tài nguyên thiên nhiên, môi trường vật chất, đã dần dà, với Sông Xanh, trở thành ngành tài nguyên con người, môi trường văn hoá mất rồi!

– Như vậy, kênh nước đen Nhiêu Lộc – Thị Nghè lại trở thành các loại kênh truyền hình, internet rồi chắc? Và nhiều loại kênh thông tin, tuyên truyền khác nữa! – Tre nói –.

– Không dám đâu, anh Tre! Đừng suy diễn. Đó là bạn Ánh Sương trêu Sông Xanh đó mà!

– Trêu gì! Trong thực tế, gần hai năm nay, trong tủ sách nhỏ của Sông Xanh, sách chuyên môn đang học thì ít, mà sách văn học, văn hoá – xã hội, nhất là sử học thì nhiều! – Ánh Sương nói với nụ cười –.

– Như thế cũng tốt, chứ sao! – Tre lại nói –. Đúng là các loại kênh truyền thông, giáo dục của nước mình từ lâu rồi bị ô nhiễm quá nặng, thành các kênh nhọ đen… Nhưng thôi, bọn mình nói chuyện gì khác đi. Dù sao cũng thật là đáng quý khi chúng mình bất ngờ được gặp mặt nhau thế này, không phải trên thế giới ảo Facebook!

– Hai bạn và Tre có nhớ đến cô giáo, nghệ sĩ Sông Hiếu không? Ánh Sương và Sông Xanh nhớ thành viên Facebook đó chứ? – Trưng ngoái qua hai người bạn nữ, và nói –.

– Thì cũng trong nhóm Facebook mà! Sao không nhớ! – Sông Xanh nói –.

Tre rút điện thoại di động ra, tìm tên Sông Hiếu, và bấm gọi ngay. Trong khi nghe chuông đổ đằng kia đường sóng điện, Tre chợt tự trách mình nhanh nhẩu đoảng, có lẽ do vui mừng được gặp hai người bạn nữ Thành phố Hồ Chí Minh này. Biết đâu, giờ này, Sông Hiếu đang bận phải giảng dạy!

Nhưng Tre lại cười vui, vì sau khi anh hỏi Sông Hiếu có rảnh không, Sông Hiếu đáp là có. Tre liền nói với Sông Hiếu về cuộc gặp gỡ bất ngờ này của họ, rồi chuyển điện thoại cho Sông Xanh.

Một cuộc chuyện trò với điện thoại chuyền tay cả bốn người thật vui vẻ.

Buổi chiều, nắng vẫn còn rực rỡ, chói chang, nhưng may là công viên của bệnh viện có nhiều gốc cây rợp bóng mát và những khuôn hoa tươi tắn.

4

Nhà bạn cũ của ông Trảng không có nhiều phòng, mặc dù vẫn còn thừa đất làm sân, trồng hoa và dựng chuồng chim bồ câu. Đây là loại nhà đất thường thấy ở nông thôn, mặc dù địa chỉ chính xác thuộc quận Thủ Đức, tại thành phố đông và rộng nhất nước này.

Theo nhã ý của vợ chồng bạn cũ, ông Trảng đã được hai người con trai song sinh đưa về ngôi nhà ấy để tạm ở, tiếp tục uống thuốc theo đơn bác sĩ đã kê. Vết mổ đã ổn định, đang đơm da non, nhưng vẫn chưa đến ngày tháo băng bột.

Sáng nay, cả hai vợ chồng bạn đã đi làm. Nhà chỉ còn ba cha con ông Trảng.

Như đã hẹn với ông Xuân (1), một bạn cũ khác, vốn là người đồng hương Quảng Trị, nên ông Trảng đã bảo con trai gấp lại chiếc giường xếp mà chủ nhà đã dành cho ông, được đặt tại phòng khách. Gối kê đầu dành cho Tre và Trưng, để hai chàng trai này đặt ngay tại một khoảng nền trống, nơi họ nằm kề bên giường sắt gấp của ba, cũng đã được dọn đi. Phòng khách lại gọn nhưng thoáng, như những ngày ba cha con họ chưa vào đây tạm trú.

Ông Trảng ngồi trên ghế sa lông, chiếc nạng gỗ đặt một bên.

Và rồi ông Xuân đã đến. Tre đi nhanh ra mở cổng, với nụ cười cảm mến.

Ông Xuân dựng xe gắn máy trên sân, nơi ông Trảng ngã xuống vào tuần trước, giờ đây còn phải chịu nông nỗi này. Ông bước vào nhà cùng với Tre.

Hai người bạn cũ đã đứng tuổi gặp nhau, tay bắt mặt mừng. Trưng từ nhà sau, bưng tới hai li nước, đặt trên bàn, khẽ mời ba và chú Xuân.

Ông Xuân đặt một gói nhỏ, bên trong là một hộp sâm khô thái lát, vào tay của bạn.

– Thật là không may! Ở ngoài mình vào thăm bạn bè, chưa được vài hôm, anh đã bị tai nạn thế này! Nhưng rồi cũng tai qua nạn khỏi, phải không anh? – Ông Xuân nói, an ủi bạn –. Cũng nhờ Tre gọi điện thoại báo tin, chứ không thì làm sao tôi biết để tới thăm anh!

– Cảm ơn bạn Xuân nhiều lắm. Tôi vào đây, chưa kịp đến nhà bạn để thăm, lại gặp phải tình cảnh khiến bạn phải đến thăm tôi! – Ông Trảng cười gượng, nhưng vẫn rất thân tình –.

Câu chuyện giữa hai người bạn cũ lại dẫn đến đầu đạn AK trong cẳng chân ông Trảng 43 năm nay. Ông Trảng bảo Trưng mang đầu đạn được gói trong miếng gạc ra, và ông mở, đưa cho ông Xuân xem. Ông Xuân cầm trên tay, xúc động:

– Thế mà lại hay cho anh! Đây thật đúng là vết tích cụ thể, rất cụ thể, của chiến tranh. – Ông Xuân diễn ra thành văn xuôi hai câu thơ tâm đắc của mình –. Người lính Việt Nam hai chiến tuyến bắn nhau thật, nhưng thật sự là không phải bắn nhau, mà bắn những ngoại xâm nhân danh khai hoá, đồng minh, đồng chí, giải phóng, sau lưng nhau mà thôi!

– Bạn Xuân có còn nhớ bài ca dao Kẻ Diên “Tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn…” không?

– Làm sao mà quên được, anh Trảng! – Ông Xuân vẫn nhìn vào đầu đạn trên tay –. Đầu đạn này nhắc anh đến bảy cái trứng ung của con gà mái và ba con gà con của nó đã bị diều tha, quạ bắt, cắt lôi?

– Tuy không đến nỗi túng quẫn, nhưng tôi cũng đang ít nhiều bị xui xẻo như vậy. Và tôi đang nhớ đến cách giải mã của bạn về cảnh huống tận cùng bi đát trong bài ca dao, đặc biệt là câu bạn nói hồi nào đó: Hình như bài ca dao này có chứa đựng tinh thần phản chiến, phản ánh hoàn cảnh trai thiếu, gái thừa và gần như cảnh diệt chủng do gươm đao súng đạn mang lại!

Ông Xuân cười ngậm ngùi:

– Vì tôi ngẫm nghĩ, dường như qua việc liệt kê dài dằng dặc, lặp đi lặp lại các điệp từ, điệp ngữ, để diễn tả từ cái trứng thứ nhất đến cái trứng thứ bảy, người nông dân ngày xưa đâu chỉ nói đến những cái trứng gà không có trống, mà nói đến những năm tháng thanh xuân của bao người con gái, bao phụ nữ không chồng, vắng chồng, chết chồng vì chiến tranh. Và cũng tương tự như thế, dường như khi liệt kê, dùng điệp ngữ, để nói về ba con gà con đã có cơ may nở ra, chào đời, nhưng bị chiến tranh tha mất, bắt đi, lôi khỏi cuộc sống…

– Ông Xuân nói, nén xúc động –. Anh lại nhớ đến điều đó sao?

Ông Trảng cũng cười buồn:

– Cầm đầu đạn chiến tranh hiện đại này, làm sao không liên tưởng đến tinh thần tố cáo chiến tranh thuở xưa… hình như là nội chiến Trịnh – Nguyễn… phải không bạn?

– Thì cũng dường như, hình như vậy thôi. Và thù oán trong bài ca dao Kẻ Diên thứ hai, bài “Một vác tre” ấy, hình như cũng là thù oán thời chiến tranh… Thậm chí, đó có thể là phản ánh sự phá hoại hậu phương của đối phương trong chiến tranh… – Ông Xuân lại cười buồn –. Nhưng, cũng giải mã một cách dè đặt thôi. Có thể ở tầng sâu ý nghĩa là như vậy!

Tre và Trưng vẫn đang ngồi cạnh ba và chú Xuân, lắng nghe. Sau một quãng im lặng giữa họ, Tre hơi ngập ngừng rồi anh thấy cũng cần phải nêu ra:

– Thưa ba và thưa chú, cháu rất xúc động khi nghe chú giải mã về tầng sâu của hai bài ca dao Kẻ Diên. Tuy vậy, ở bài “Mười cái trứng”, cháu thấy hình như có gì đó như là rẻ rúng thân phận bao người con gái, phụ nữ ngày xa xưa, khi so sánh ngầm họ với con gà mái bất hạnh, mặc dù thủ pháp nhân hoá là rất thông thường!

– Chú đã nghĩ đến điều đó, nên chú cũng rất dè đặt đưa ra cách giải mã như rứa. – Ông Xuân nhìn Tre với nụ cười quý mến trên môi –. Có điều, chắc cháu Tre biết thành ngữ khá phổ biến, đến nay mình vẫn còn dùng, đó là “cầm vợ đợ con”. Ngày xưa, vợ con như là hàng hoá! Cháu cũng biết chi tiết Cái Tý và ổ chó trong tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố. Cái Tý là một bé gái ngoan nhưng vẫn chỉ là một món hàng hoá, bị đặt ngang với ổ chó! Bối cảnh của “Tắt đèn” là khoảng những năm 20, 30 của thế kỉ XX, cách đây cũng chưa phải là xa lắm, nữa là thời đoạn mà chúng ta phỏng đoán là quãng Trịnh – Nguyễn phân tranh, chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài, từ 1558 đến 1789, 1802, chủ yếu bảy trận trong vòng 45 năm, từ 1627 đến 1672! Vì rứa, Tre à, có thể ở bài “Mười cái trứng” chỉ là biểu đạt bằng phép ẩn dụ ta thường thấy trong văn chương, nhưng cũng có thể lưu dấu vết của thời chiến tranh xa xưa, trong đó có cảnh mua bán người lao động là nữ giới. Tuy không phải là “chợ người” hẳn, nhưng không phải không có những người nữ thất thế, neo đơn, nghèo khổ tìm đến chốn đông người là chợ để mong có ai đó cần người cày cuốc, chăn nuôi… – Ông Xuân nói –. Tiếp cận ở bình diện lâu nay là tiếp cận về cái thời vận cá nhân xui xẻo, đen tối, bế tắc, tức là cái thời vận có tính siêu hình, còn tiếp cận ở bình diện này lại có tính xã hội, tính hiện thực rõ rệt (2).

– Dạ vâng. Cháu hiểu rồi… Ngày xưa, tội nghiệp quá!

– Chú biết cháu và Trưng rất thích hai bài ca dao Kẻ Diên này. Chú có nghe nói cháu đã nhờ nghệ sĩ Sông Hiếu diễn ngâm, đọc diễn cảm, thu vào đĩa CD.

– Dạ, cũng cách đây mấy tháng rồi chú à. Cô ấy ngâm, đọc hay lắm…

Tre chợt hỏi, khi thấy chừng như chú Xuân đang định tạm biệt:

– Thưa chú, cho cháu mạn phép hỏi chú một điều nữa. Cháu thấy bất tiện quá, nhưng… Thế này chú à, cháu có đọc một truyện ngắn của chú, có những chi tiết hẳn là kỉ niệm về thời gian cuối những năm trung học của chính chú. Cháu đoán chắc nhân vật Xuân trong đó chính là chú. Phải vậy không, chú An? – Tre cười –.

Ông Xuân cũng cười, ngắt ngang:

– Chú có cước chú mà! Cứ gọi chú là chú Xuân. Xuân là chữ lót của họ tên, hay đúng ra là chữ thứ hai của họ Trần Xuân. Gọi rứa cho tự nhiên như nhân vật trong tiểu thuyết.

Tre vẫn giữ nụ cười trên môi, khẽ dạ, nói tiếp:

– Cháu băn khoăn mãi một nét, vâng, chỉ một nét thôi, của nhân vật Trương trong “Bướm trắng” của Nhất Linh. Đó là việc Trương xem mối tình với Thu như một giấc mộng ảo, trong chuỗi ngày bi đát, mang bệnh lao nan y của Trương, và thế rồi, sau khi biết mình khỏi bệnh, Trương về quê, lấy cô thôn nữ là Nhan làm vợ, như một cách chôn vùi cuộc đời mình… – Giọng của Tre cơ hồ run run –.

Ông Trảng giật mình, phác tay, muốn can ngăn Tre đừng nói nữa, và đưa ánh mắt nhìn ông Xuân, như ngỏ ý xin lỗi giúp con. Ông Xuân hiểu, ông hơi cúi đầu, nhưng rồi lại mỉm cười, nói với Tre:

– Đó là cách ứng xử thường là như vậy, trong tình huống như thế. Nhiều người như thế. Nhân vật Trương cũng thế… Nhưng nhiều người vẫn không sa đoạ, không biển thủ như Trương, nghĩa là không liều mạng làm hỏng đời mình trong tâm trạng bi phẫn, bi phẫn do số phận hay do thời cuộc. – Ông Xuân lại cúi đầu, rồi lại ngẩng lên, nhìn Tre –.

Tre nói, như theo một thôi thúc nào đó trong suy nghĩ đã lâu rồi:

– Cháu nghĩ thế hệ cháu cũng đang bị bệnh nan y, đó là bệnh mà cháu gọi là bệnh Bến Hải, bệnh Vĩ tuyến 17, bệnh thời chia cắt và bệnh thời nối liền Đất nước! – Tre phân vân, muốn tìm từ thật đích xác –. Cháu đã đọc sách của chú khá nhiều, cháu nghĩ, gọi chính xác hơn, đó là nỗi bệnh nạn nhân do văn – sử một chiều, chú à…

Ông Xuân ngẩn ngơ, tự hiểu thuật ngữ mà ông cùng nhiều người trong giới cầm bút thường dùng dù sao vẫn có sức mạnh phê phán lớn hơn, nhưng ông vẫn nói:

– Thế là cháu đã góp phần chẩn đoán được tâm hồn, tư tưởng của dăm ba thế hệ ở nước mình… Tuy vậy, cháu đã yêu thích hai bài ca dao về sức sống Kẻ Diên, nên chú tin cháu sẽ không để tuổi trẻ và cả cuộc đời mình lụi tàn, mà phải luôn vươn lên, một cách chính đáng, bằng chính tài sức, đức độ của mình.

Ông Xuân lại nói tiếp, khi những người có mặt trong cuộc thăm viếng, chuyện trò này đều im lặng:

– Anh Trảng, đầu đạn lưu cữu trong bắp chân anh là đây. – Ông Xuân chỉ ngón tay trỏ vào đầu đạn đang được đặt giữa tấm gạc trắng, trên bàn sa lông. – Nhưng thật ra, miểng đạn lưu cữu trong người tôi, và cả trong người anh, trong người cháu Tre, cháu Trưng… chỉ là bốn chữ: văn – sử một chiều! Rứa đó, anh à. Cảm ơn cháu Tre đã đồng cảm… – Giọng ông Xuân hơi nghèn nghẹn –.

Và như thể muốn thoát khỏi không khí đầy nỗi niềm tâm sự này, ông Xuân đứng dậy, muốn tỏ ý chia tay:

– Chúc anh Trảng mau hồi phục. Chúc hai cháu vui, khoẻ, thành đạt, đều cố gắng trở thành đại gia! – Ông Xuân dùng một từ thời thượng hiện nay với một nụ cười quý mến, chân thành dành cho hai chàng trai trẻ song sinh –.

Ông Trảng chống nạng một bên, tiễn bạn ra tận cửa nhà. Tre và Trưng tiễn ông Xuân ra tận ngõ. Ông Xuân nói bâng quơ như để lấp đầy khoảng trống lúc từ giã:

– Con đường này chú cũng thường hay đi. Hầu như chủ nhật nào chú cũng lên Gò Dưa thăm mộ, phải đi trên đường này.

Ông Xuân khởi động xe máy:

– Mai mốt chú cháu mình lại gặp nhau nghe!

Ông Xuân đi rồi, Tre vẫn còn đứng ngó theo. Anh nghe như trong tâm trí mình có tiếng dội âm: Đầu đạn Hiền Lương, miểng đạn Bến Hải… Mặc dù không được cụ thể nhắc đến trong cuộc chuyện trò này, nhưng ba chữ “Cầu Ý Hệ”, cùng với hai cụm từ “văn – sử một chiều”, “kênh nhọ đen”, lại dội âm vang vọng nhất. Đó là vết thương lịch sử của Đất nước, của hai Khối trên thế giới một thời Chiến tranh Lạnh… Sự thật lịch sử như thế là đã quá rõ rồi. Quốc gia, Cộng sản đều có niềm tự hào và đều có nỗi bi kịch.

Tre khép cổng, cài then, mở vuông cửa nhỏ ngang tầm mắt ở cánh cổng để khách ngoài cổng có thể nhìn vào, gọi mở cửa. Anh lững thững bước vào nhà.

Hai con chim bồ câu mới sà xuống sân, mổ nhặt thêm những hạt thóc hồi sáng sớm chúng còn để sót, chợt động cánh theo phản xạ khi nghe tiếng chân của Tre, nhưng rồi vẫn cứ mổ nhặt tiếp. Tre đi tránh qua một bên, bước lên thềm nhà, ngước nhìn chuồng bồ câu mà tuần trước, khi ba của Tre cùng bạn cũ của ông sơn lại, cả hai người đã bị té ngã do một gã say rượu lao xộc xe máy vào cột chuồng. Bị sơn dở dang, nhưng rồi chuồng cũng đã hoàn tất. Mùi sơn thơm nồng đã nhạt. Đàn bồ câu đã quen với “ngôi nhà lầu” bé xíu mới sơn quét của chúng. Có dăm con đang đứng rỉa cánh, ngó mông lung cây lá, trời mây và nắng, trên ban công chuồng. Tre chợt liên tưởng đến hai bài ca dao “Mười cái trứng”“Một vác tre” Kẻ Diên. Anh bỗng thấy mình sáng ra từ sự khơi gợi cảm nghĩ của ông Xuân trong cuộc chuyện trò vừa rồi.

Tựa vào cột xi măng trên thềm nhà, Tre cũng dè dặt nghĩ rằng, phải chăng bảy cái trứng ung là ẩn dụ về hậu phương vắng bóng đàn ông, con trai, do bảy trận đại chiến (1627-1672) thời Trịnh – Nguyễn phân tranh? Phải chăng ba cái trứng còn lại may mắn có trống, thành sự sống, nở thành ba con gà con, nhưng rồi cũng bị quân cường bạo, bị chiến tranh ngầm hay các trận chiến nhỏ lẻ, chớp nhoáng, như loài diều, quạ, mắt cắt, na đi, bắt mất, lôi khỏi cuộc sống? Và phải chăng hai câu lục bát kết, không nói về hình tượng ẩn dụ là gà mái, trứng, gà con nữa, mà nói khái quát về vạn vật chúng sinh với hình tượng khác đi, “còn da, lông mọc, còn chồi, nẩy cây”? Phải chăng hai tiếng “ai ơi” chính là nhãn tự, làm sáng tỏ rằng, chính người phụ nữ, chứ không gì khác, bên trong ẩn dụ thân phận con gà mái ở bài ca dao ấy? “Ai ơi”, hai tiếng ấy có thể để khẽ gọi bao người cùng cảnh ngộ chung quanh, có thể để tự gọi chính mình, nhưng chủ yếu vẫn là để khẽ gọi người nữ bất hạnh trong ẩn dụ là hình tượng con gà mái khốn khổ?

Tre xúc động đến ứa nước mắt với cảm thụ và suy tưởng của mình.

Lát sau, Tre mới bước vào phòng khách, nơi tạm trú của ba cha con anh.

Tre thấy ba anh vẫn ngồi ở chỗ cũ, cũng với chiếc nạng gỗ đặt một bên, và anh Trưng đang ngồi đối diện với ba.

Ông Trảng áp điện thoại di động vào tai, đôi môi mở ra nụ cười, có vẻ thú vị:

– Bạn đã đi đến đường Bạch Đằng rồi à? Tôi phải gọi điện thoại vói theo bạn để đọc hai câu thơ tôi mới chế biến lại từ bốn câu thơ tâm đắc của bạn. Xin lỗi trước, tôi chẳng rành thơ phú chi mô, cả đời chỉ võ vẽ vài ba câu, nhưng sáng nay hai câu thơ chế biến này nghe được lắm:

dựa giặc, giặc kề ta, chẳng sợ
sợ ai dựa giặc, giặc trong tim! (3)

– Ông Trảng cười thành tiếng một cách khoái trá nhưng đượm chua xót –.

Tre đứng sững. Trưng cũng ngồi sững. Tre không nghe ông Xuân ở đầu kia đường sóng điện nói gì, hình như ông ấy cũng cười thành tiếng, mặc dù đang dừng xe bên lề đường phố.

T.X.A.
14:11, 23-12 – 08:40, 24-12 HB15 (2015)
_________________

(1) Nhân vật Xuân (An Trần Xuân, như danh tính của nhiều người khác trên mạng xã hội) chính là tác giả Trần Xuân An (T.X.A.).
(2) Căn cứ vào văn bản bài “Mười cái trứng”, cả hai cách giải mã đều hợp lí. Tôi dè đặt đưa ra cách giải mã thứ hai, theo phát hiện và cảm nhận của bản thân.
(3) dựa giặc, giặc kề ta, chẳng sợ
sợ ai dựa giặc, giặc trong tim
Miền Nam vắng bặt thơ tâng Mỹ
khinh nhạc chư hầu thé giọng kim

(thơ do Trần Xuân An viết, để khắc hoạ tính cách nhân vật ông Trảng) — 03-01 HB16 (2016).
Để tránh những ngộ nhận đáng tiếc, xin lưu ý thêm: Các nhân vật trong truyện đều là sản phẩm tưởng tượng, do tác giả hư cấu để phản ánh hiện thực, chuyển tải những nội dung cần thiết.

.
.
Bài 1:

Mười cái trứng

Tháng giêng
Tháng hai
Tháng ba
Tháng bốn
Tháng khốn
Tháng nạn
Đi vay
Đi tạm
Được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên
Mua con gà mái
Về nuôi
Hắn đẻ ra mười trứng

Một trứng ung
Hai trứng ung
Ba trứng ung
Bốn trứng ung
Năm trứng ung
Sáu trứng ung
Bảy trứng ung
Còn ba trứng
Nở ra ba con:
Con diều tha!
Con quạ bắt!
Con mặc cắt lôi! (*)

Chớ lo phận khó, ai ơi
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây.

(*) Mặc cắt (còn được phát âm là mắt cắt, mặt cắt) là một loại chim cắt.

Bài 2:

Một vác tre

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn,
tháng khốn, tháng nạn
Đi vay đi tạm
được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên
Mua một vác tre
Về che cái quán
Ai thù ai oán
Đốt quán tôi đi?
Tôi thương cái cột
Tôi nhớ cái kèo
Tôi thương cái đòn tay
Tôi nhớ cái cửa
Bạn nghèo gặp nhau.

(Ca dao Quảng Trị)
.
.

TRUYỆN NGẮN NÀY ĐÃ ĐƯỢC GỬI ĐẾN BBT. TTTĐT.HNV.TP.HCM., 26-12 HB15 (2015)
Đã đăng trên FACEBOOK:
.
.
https://www.facebook.com/notes/trần-xuân-an/dau-dan-luu-cuu-truyen-ngan-tran-xuan-an/1651640548443223
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , | 1 Comment »