Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Posts Tagged ‘Phu Yen’

LỊCH SỬ VÀ LÀNG QUÊ TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ HỒNG

Posted by Trần Xuân An trên 08.12.2011

hidden hit counter

Trần Xuân An

BÓNG DÁNG LỊCH SỬ VÀ LÀNG QUÊ TRONG MỘT ÍT TRUYỆN NGẮN VÕ HỒNG

(06 & 07-12 HB11)

Đang gửi đăng trên báo chí

BÓNG DÁNG LỊCH SỬ VÀ LÀNG QUÊ
TRONG MỘT ÍT TRUYỆN NGẮN VÕ HỒNG

Trần Xuân An

A.

Có một nhà văn, hầu như toàn bộ tác phẩm được ông viết ra, suốt cả cuộc đời trường thọ của mình, đều gắn bó với Phú Yên – quê hương bản quán – và một vài tỉnh lân cận. Đó là nhà văn Võ Hồng. Có một nhà văn, tác phẩm của ông khiến cho vài ba thế hệ người đọc đều cảm mến, không những cảm mến về giọng văn mà cả cách nhìn đôn hậu, thậm chí hình như không muốn mích lòng ai của tác giả, đồng thời cảm mến phần lớn những nhân vật ông thương quý, vốn có nếp sống chừng mực hoặc chân chất; và lạ thay, cả vài ba thế hệ người đọc dường như sẵn lòng bỏ qua những hạn chế về chính kiến, tư tưởng mà trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, ông chưa vượt qua được hay không muốn vượt qua. Đó cũng là nhà văn Võ Hồng.

Với hơn mười tập truyện, trên năm tiểu thuyết và vài tập thơ, có thể nói sự nghiệp văn chương của Võ Hồng như một trang trại hoa lá khá rộng. Tuy vậy, về truyện ngắn, truyện vừa, có thể ông đã thành thật chỉ ra cho người đọc mươi gốc bông, gốc cây ông tâm đắc nhất. Thêm vào đó, một số người thưởng ngoạn lại bình chọn vài ba gốc khác.

Và cũng như tác phẩm của những nhà văn có nội lực, mặc dù chỉ hơn mười truyện ngắn, truyện vừa cần được lưu tâm ngẫm nghĩ, người đọc cũng có thể có những hướng tiếp cận với các thẩm bình khác nhau.

B.

I. Trong những truyện được chính nhà văn xem là đáng chú ý

Thông thường, tác giả các tập truyện nếu không chọn một tên sách chung cho cả tập, đều chọn nhan đề của truyện nào đó mình thích nhất trong cả tập, để đặt làm tên sách. Tôi cũng nghĩ, nhà văn Võ Hồng hẳn không thuộc vào số tác giả chịu bị chi phối bởi thị hiếu của thị trường sách báo, nên không dễ gì các nhà xuất bản có thể can dự vào việc đặt tên sách, cụ thể như đặt tên cho mỗi tập truyện bằng tên của một truyện ngắn độc giả thích chứ không phải nhà văn thích. Khởi đi từ suy luận đó, tôi thật sự chú ý đến tám truyện ngắn và một truyện vừa: 1) Hoài cố nhân (1959); 2) Lá vẫn xanh (1962); 3) Vết hằn năm tháng (1965); 4) Con suối mùa xuân (1966); 5) Khoảng mát (1966); 6) Người về đầu non (truyện vừa, 1968); 7) Bên kia đường (1968); 8 ) Những giọt đắng (1969); 9) Trầm mặc cây rừng (1971)… Đây lại là những truyện được chọn in trong “Tuyển tập Võ Hồng” (2003), do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và nhà xuất bản Văn Nghệ TP.HCM. ấn hành.

“Hoài cố nhân” là tập truyện đầu tay được xuất bản của nhà văn, sau hai mươi năm cầm bút, kể từ 1939. Trong tập truyện này, truyện ngắn “Hoài cố nhân” được tác giả viết khá kĩ lưỡng và công phu, kéo dài đến khoảng 37 trang sách. Bối cảnh chủ yếu là những năm trước khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra và một thời gian ngắn khi cả nước đã bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Trước hết, đó là chuyện tình yêu đương giữa hai người học sinh trung học tên Lý và tên Xuân. Nhưng hầu như “Hoài cố nhân” là tiểu truyện về một con người, vốn là bạn cùng quê, bạn học thuở ấu thời tại tỉnh nhà cho đến khi cùng học với nhau tại Hà Nội… Chính nhân vật kể chuyện, xưng tôi, đã nói rõ, đó không phải chỉ là chàng trai tên Lý nhớ Xuân, cô bạn học, là người yêu, trải qua một thời gian trở thành “cố nhân”, rồi về sau là vợ của anh ta, mà còn là tác giả nhớ đến cả hai người bạn cũ, cả Xuân lẫn Lý, nhưng chủ yếu vẫn là Lý. Dõi theo cuộc đời từ tấm bé cho đến khi mất của Lý, nhà văn Võ Hồng miêu tả lại cảnh học trò trường làng, trường phủ tại Phú Yên và cảnh trọ học tại Hà Nội cùng những biến động lịch sử, trong đó nhân vật Lý đã vì ảo tưởng về chủ nghĩa Đại Đông Á của Nhật, y trở thành tay sai của phát-xít. Nhân vật Lý ảo tưởng đến mức độ bỏ học, quyết chấm dứt cả mối tình si, thắm thiết với Xuân để dấn thân vào hàng ngũ hiến binh Nhật! Đến khi vỡ mộng, Lý cay đắng nói: “Người Nhật họ không thật tình đối với ta”! (sđd., tr. 34). Lý về quê cưới Xuân, nhưng vẫn còn đứng trong hàng ngũ phát-xít Nhật. Cái gọi là đỉnh cao của Lý: “Vụt đến ngày Nhật đảo chính, Lý hầu như thành nhân vật trong một thiên anh hùng ca cho cả vùng đó” (tr. 37). Thế rồi, Nhật đầu hàng. Sau Cách mạng Tháng Tám nổ ra, cuộc kháng chiến bắt đầu được vài năm, Lý lại tham gia cách mạng với “một chức nhỏ phụ giúp ở Ty Cứu tế xã hội” (tr. 39). Lý bảo: “Cứu giúp những người khổ, đó là cái việc rõ ràng khỏi phải cân nhắc lí luận lôi thôi…”. Lý tiếc là mình không phải một y sĩ, vì theo y, y sĩ chỉ có kẻ thù là bệnh tật, “ông ta cứ cắt, cứ mổ, cứ tiêm. Lương tâm để ông ngủ yên”. Lý nói như vậy, để khẳng định: “Lương tâm, tôi có” (tr. 39). Cuối cùng, năm 1949, Lý chết do ngã bệnh trong một chuyến đi công tác thăm trại tế bần, với tư cách một viên chức của Chính phủ Kháng chiến. Còn Xuân? “Lấy chồng rồi. Lấy chồng năm 1953 rồi” (tr. 44).

Truyện ngắn “Hoài cố nhân” của Võ Hồng lưu giữ được những chi tiết về hiện thực làng thôn Phú Yên, thành phố Hà Nội cùng những những tâm tư, tình cảm và suy nghĩ, của một vài bộ phận xã hội bấy giờ, và chừng như Võ Hồng còn muốn biện minh, giãi bày trước người đọc về ảo tưởng, lầm lạc của một số người Việt Nam có học, của cả một số nông dân ở các làng thôn nước ta, khi phát-xít Nhật chiếm đóng, với chiêu bài mị trá “Đại Đông Á” của chúng.

Đề tài thời Nhật chiếm đóng lại được nhắc đến trong truyện “Vết hằn năm tháng” , mặc dù chủ yếu truyện này thể hiện diễn biến tâm trạng bâng quơ của các nhà giáo làm giám khảo trong một kì thi tú tài. Trong những liên tưởng, hồi ức do những cớ sự ngẫu nhiên của nhân vật nhà giáo (nhân vật kể chuyện), có một mảng nhớ lại thời phát-xít Nhật chiếm đóng qua số phận của một phụ huynh của một thí sinh. Nhà giáo tình cờ đọc được một tấm phiếu thí sinh khi đồng nghiệp lập danh sách đỗ, trong đó, cha mẹ của thí sinh ấy vốn là bạn cùng quê của nhà giáo! Và tuy chỉ là dân quê, là tuyên truyền viên ở làng cho Nhật, nhưng cha của thí sinh ấy cũng tương tự như số phận của nhân vật Lý trong “Hoài cố nhân”. Nhà văn kể tiếp qua nhân vật xưng tôi: “Tiếp tới, Nhật Bản đầu hàng. Cách mạng Tháng Tám nổ. Cách mạng nổi lên, anh đương nhiên bị coi là người của chế độ cũ. Danh hiệu này là một vinh dự quá to đối với anh. Tuy vậy, nó làm cho anh lo sợ mất ăn mất ngủ, vì vào những ngày đầu Cách mạng, ai nấy đều vũ trang dao găm và lựu đạn. Sau đó, theo chính sách tận dụng khả năng dân chúng, không phí phạm nhân tài, vật lực, anh được sung vào làm thủ quỹ cho Hội giúp binh sĩ bị nạn” (tr. 1179). Duy có điều, vì phiếu thí sinh chỉ gồm những thông tin tối thiểu, vắn tắt, nên chỉ một chữ c trong ngoặc đơn, có nghĩa là chết, không cho nhân vật nhà giáo hiểu được lí do dẫn đến cái chết của người cha thí sinh. Kí ức của nhà giáo hoàn toàn không có đoạn kết này… Thật ra, đây chỉ là một liên tưởng nhỏ, thoáng qua nhưng đậm nét, giữa một chuỗi tâm trạng tản mạn cùng những sinh hoạt tạm bợ trong nửa tháng chấm thi của một viên giáo sư trung học.

Và đây là ở truyện ngắn khác: “Trong suốt mười năm tham gia kháng chiến, tôi đã lang thang đi khắp mọi miền của tỉnh Phú Yên, in dấu chân ở gần khắp mọi xã thôn… […] … Năn đó tôi đang làm việc ở Phân ban Cực nam thì có chủ trương biên chế tổ chức mới. Tôi bị để ra ngoài biên chế. Trong khi chờ học một nghề mới để làm kế sinh nhai, tôi được một gia đình học sinh cũ của tôi mời về tá túc” (tr. 1067). Nhân vật “tôi”, người kể chuyện trong truyện ngắn “Trầm mặc cây rừng”, chỉ nói thoáng qua như vậy để đi vào một chuyện tình cảm trong tình cảnh vợ mất sớm. Thì ra, lòng vẫn còn hoài nhớ cô gái quê tên Thịnh, hồi nhân vật “tôi” còn tá túc ở làng cô, trong bối cảnh sau khi bị đẩy ra khỏi biên chế của một cơ quan Việt Minh kháng chiến.

Phải nói rằng, “Trầm mặc cây rừng” là một truyện ngắn khá cảm động, chú trọng phân tích tâm lí nhân vật. Đó là một loại tâm lí của người dù đã ra thành thị sinh sống, phong lưu về vật chất, nhưng vẫn khôn nguôi thương nhớ, biết ơn những người đã cưu mang, thương mến mình khi mình khốn khó, không nơi nương tựa, trong đó có cô gái Thịnh. Tuy thế, phải chăng đó cũng là tâm lí của một người cảm thấy được an ủi khi người mình có thể yêu, lấy làm vợ kế là một người mặc cảm tự ti trước mình và phải chịu ơn mình? Nếu không thế, thì sao nhân vật “tôi” lại nhấm nháp nhiều lần điệu nhạc và đôi câu ca từ tầm thường nhưng nhân vật cho là phù hợp với cảnh huống: “Em biết thân em phận gái nghèo hèn…”?

Để phản ánh hiện thực xã hội thời mình sống, nhà văn Võ Hồng còn viết những truyện ngắn có bối cảnh là Miền Nam trong những năm 60 – 70 / XX. “Khoảng mát” là một truyện như thế. Truyện kể về một người trong những năm tháng tản cư ra thành thị, phải làm công việc của một người thu tiền rác mỗi tháng ở một xóm dân nghèo. Trong một lần, anh gặp lại người yêu cũ, nay đã là vợ của một người Mỹ. Hai người ở tình huống bất đắc dĩ phải nhận ra nhau, cùng ngồi uống nước với nhau, và không thể không nhắc lại kỉ niệm cũ. Cô thôn nữ nay đã dày dạn, nhắc lại kỉ niệm về nụ hôn của anh vào gò má cô, trên một rộc đất trồng rau muống ở quê nhà. Đó là “khoảng mát” trong hoài niệm không bao giờ quên được!

Một khía cạnh khác của xã hội đã được thể hiện trong truyện ngắn “Lá vẫn xanh”. Có lẽ đây là sự phản ánh về một loại thông tin thuộc lĩnh vực huyền bí nhảm nhí về ngày tận thế vào những năm đầu thập niên 60 / XX, đến nay không còn “nóng sốt” trong xã hội nữa. Tuy vậy, chút triết lí nhà văn cảm nhận được về ngày tận thế mới chua chát biết bao! Tận thế, đó là lúc tất cả đều chết, nên đó mới là lúc khát vọng công bằng tuyệt đối, thậm chí là công bằng thực sự, được thực hiện trên thế gian này!

Trong những truyện ngắn còn lại, “Con suối mùa xuân”, “Bên kia đường”, “Những giọt đắng”, đề tài là những tình cảm yêu đương, thất tình, cưới hỏi, tâm lí phân vân, hối tiếc về việc từ chối tái giá và mong tái giá của một phụ nữ… Một điều có thể nhận ra là Võ Hồng luôn luôn là một người biết kìm nén tình cảm, giữ được sự chừng mực đến mực thước một cách đáng quý. Ông là một trong dăm nhà văn ý thức rất rõ tính thiện của văn chương, trong bối cảnh văn đàn thời bấy giờ.

2. Trong “Người về đầu non” và ba truyện ngắn được người đọc đề cao

“Người về đầu non” lại là một truyện vừa, với độ dày khoảng một trăm trang sách (tr. 504 – 604). Đây là loại truyện khác với phần lớn trong số truyện ngắn trên, vốn là những lát cắt của hiện thực hoặc là những sợi chỉ cùng một màu được rút ra khỏi mớ chỉ đa sắc trong dung lượng hiện thực của kí ức. “Người về đầu non” gần với “Hoài cố nhân” ở tính chất tiểu truyện, truyện chỉ về một nhân vật nào đó. Trong truyện, hình tượng nhân vật được khắc hoạ thật công phu, tỉ mẩn, trong một khoảng thời gian từ bé đến trung niên hay gần như thế, kể từ lúc thành niên đến tận cuối cuộc đời của nhân vật. Ở cả hai trường hợp, nhân vật đều được thể hiện trọn vẹn con người với các chiều kích cụ thể. Nhưng dẫu sao, “Hoài cố nhân” vẫn chứa đựng một loại nhân vật khác với ba truyện kia, đó là nhân vật có học, dấn thân và lầm lạc về chính trị, cuối cùng đã ít nhiều phục vụ công cuộc kháng chiến sau Cách mạng Tháng Tám.

Xét trên hai phương diện, về kĩ thuật dựng truyện, về loại nhân vật, “Người về đầu non” gần gũi với hai truyện ngắn “Dấu chân sa mạc”“Thế giới của Năm Nhiều”. Riêng “Tình yêu đất”, ở đó, tuy cả con người và tính cách một nhân vật cũng được khắc hoạ, nhưng tác giả chú trọng vào việc thể hiện khát vọng và lòng thiết tha yêu mến đất của nhân vật nhiều hơn, tập trung hơn. Cả bốn truyện này được người đọc, chứ không phải tác giả, đánh giá cao (*).

“Tình yêu đất” là chuyện kể về lão Túc (tên trong giấy tờ là Nguyễn Đương). Đó là một người nông dân cùng đinh, nghèo đến mức không có một tấc đất riêng. Ông nhìn vào những nhà có đất, có lúa, nhà cao cửa rộng, vườn tược sum suê, để âm ỉ, rồi bùng lên niềm khao khát khiêm tốn mà khôn nguôi là được sở hữu một mảnh đất. Mảnh đất ở Gò Đình sở dĩ bị bỏ hoang là vì nó gần với nghĩa trang của làng, và vì cả làng đều nghe người đời trước truyền ngôn lại, đó là đất nền của đình làng cũ, từ lâu ngôi đình đã được dời qua nơi khác. Lão Túc cũng biết thế, nhưng lòng khao khát đất đã cho ông sức mạnh để vượt qua nỗi sợ sự trừng phạt của huyền bí. Ông ra tay khai phá. Nhà văn Võ Hồng hầu như đồng cảm với nhân vật đến mức sâu sắc nhất, nên từ chi tiết đến giọng văn là cả một niềm say mê, như lão Túc say mê bổ từng nhát cuốc, phát từng nhát rựa khai hoang, gieo từng nắm hạt giống, cấy từng chẹn mạ, sung sướng đến ngây ngất khi thu hoạch. Bên cạnh ông, là đứa con trai say mê cô gái làng, nay đã lên ở phố, đến mức anh ta cũng bỏ làng lên phố tìm cho ra người yêu. Cũng bên cạnh ông, là người vợ luôn ăn hiếp chồng, thường xuyên chế riễu việc khai phá đất hoang của ông. Hai nhân vật phụ này thực sự cũng chỉ hiện hữu trong truyện như các chi tiết, chứ không phải là hai tính cách hoàn chỉnh, chỉ nhằm làm nổi bật niềm đam mê đất của lão Túc, bất chấp tất cả, không những ám ảnh thần linh truyền đời mà cả sự bất hợp tác của vợ con. Duy người thư kí địa bạ thuộc chính quyền xã ủng hộ ông, giúp ông đăng kí quyền nghiệp chủ. Đó là lúc niềm sung sướng sở hữu đất đã lên đến tột đỉnh. Để rồi, từ điểm đỉnh đó, bi kịch xảy ra: Đứa con trai đi hoang trở về với cái chân què cùng niềm đau – người yêu cũ đã bỏ anh, theo người khác, rồi trở thành gái ăn sương! Và bi kịch thê thảm nhất là chính ông Túc bị rắn hổ mang cắn, khi ông đang thu hoạch hoa màu trên chính mảnh đất ông đã là nghiệp chủ. Ông lìa đời do nọc độc đã ngấm sâu, trong sự chăm lo, niềm thương tiếc của vợ con, chòm xóm láng giềng. Dẫu vậy, láng giềng vẫn còn thì thầm vào tai nhau về sự huyền bí của mảnh đất Gò Đình: “Các đẳng ở đó… linh lắm” (tr. 1154).

“Thế giới của Năm Nhiều”, một trong những truyện ngắn khắc hoạ chân dung nông dân của Võ Hồng, thể hiện một con người có thiên tư bẩm sinh về tín ngưỡng. Thế giới của Năm Nhiều là những bàn thờ, trang thờ trong nhà, lư nhang dưới gốc cây trong vườn. Nói cho đúng, tập tục thờ cúng ông bà, tổ tiên vốn là bản sắc văn hoá tốt đẹp của người Việt. Chính niềm tín ngưỡng hiếu nghĩa này đã tạo nên bản lĩnh Việt, giúp người Việt đứng vững trước sự xâm thực của các luồng văn hoá, tà giáo ngoại lai. Có điều, vì là thiên tư bẩm sinh (và tác giả còn chứng minh là đúng như mệnh thân của nhân vật, “có tử vi cư Mão Dậu gặp Kiếp Không”!), nên ở nhân vật Năm Nhiều, sự biểu hiện của phong tục ấy là thái quá, trượt qua mê tín quỷ ma, và bền bỉ suốt đời, như nghiệp dĩ. Ngay từ tấm bé, Năm Nhiều đã thích cúng bái, tế lễ, khói hương. Anh đam mê tín ngưỡng đến mức không quan tâm đến chuyện lập gia đình riêng. Anh cũng không trở thành tu sĩ Phật giáo ở chùa làng, mặc dù anh cũng yêu mến chùa làng. Điều đó xác định rằng Năm Nhiều là một người thuần lương, với nghĩa thuần thành với đạo thờ cúng tổ tiên, ông bà, rất thuần Việt. Đến khi ngoài bốn mươi tuổi, vì chiến tranh, Năm Nhiều phải ra phố thị tản cư, kiếm sống, đành lập gia đình với một phụ nữ trẻ chết chồng đã có bốn đứa con riêng, thì ngôi nhà của người vợ ấy cũng trở thành nơi có nhiều bàn thờ, trang thờ và thường xuyên hương khói, vẫn một cách truyền thống nhưng ở mức thái quá.

Cũng là chuyện làng quê, nhưng nhân vật lại là một điền chủ. Đó là cô Ba Hường, trong truyện “Dấu chân sa mạc”. Chính Võ Hồng ngầm thể hiện thái độ của mình về nhân vật này khi ông miêu tả: “Ngoại trừ mấy bà quý phái ở thành thị còn chỉ có vợ Huê kiều và đĩ mới cạo, gọt cho chân tóc thẳng hàng như một đường vẽ như vậy” (tr. 243). Đó không phải là loại người quý phái nếp nhà, mà chỉ là những kẻ vốn không đứng đắn lại học đòi quý phái bằng cách gá thân hay bán thân vì tiền. Mặc dù hơi nghiêm khắc như thế, nhưng suốt câu chuyện, không phải thiếu niềm thông cảm của nhà văn đối với cô Ba Hường, người con gái lấy Hoa kiều vì tiền, chứ không phải vì tình, rồi người chồng Tàu chết sớm, để cô ở trong cảnh giàu có nhưng cô đơn, cô độc. Theo nhà văn, do Ba Hường là một thân phụ nữ trẻ, có ruộng cho tá điền làm rẽ, phải thường xuyên cảnh giác với đủ mọi mánh khoé lặt vặt làm hao hụt tô tức thu được, nên cô ta trở nên khắt khe, thậm chí có vẻ cay nghiệt trong những kì thu hoạch, cân đong… Võ Hồng cũng chỉ ra rằng, chính vì giàu có, tuổi còn trẻ như vậy, lại chưa có con, nên Ba Hường còn là “miếng mồi ngon” của những hương kiểm, thầy lại, trợ giáo “đào mỏ”, muốn lấy cô làm vợ bé. Về khía cạnh này, lại có “sự can dự” của nhân vật “ba tôi” của người xưng “tôi” để kể chuyện, nhưng nhân cách hoàn toàn khác với những kẻ chức sắc làng tổng, trợ giáo kia. Mặc dù không được học nhiều, chẳng đỗ đạt gì, nhưng nhân vật “ba tôi” vẫn mang trong máu chút sĩ khí của một hàn nho biết tự trọng. Vợ ông mất sớm, khi ông đâu đã già, để lại ông trong cảnh gà trống nuôi con. Ai cũng bảo ông nên tục huyền, kiếm kế mẫu cho đàn con, và đó không phải không hợp tình hợp cảnh. Cô Ba Hường lại là người ở sát hàng rào nhà ông! Hai người xem bộ cũng đã có cảm tình với nhau, mặc dù chưa nói với nhau lời nào. Chi tiết cô Ba Hường thường tỏ vẻ trìu mến chú bé “tôi”, khiến người đọc ngỡ sự kết hợp giữa nhân vật “ba tôi” và cô Ba Hường là chuyện không thể không diễn ra. Nhưng có một hôm, khi nhân vật “ba tôi” ngồi trồng vài gốc cà chua với nhân vật “tôi”, ông nghe được câu chuyện giữa cô Ba Hường với hương kiểm Mót – người dạm mối cho một ông lại mục về hưu –, có ý chê nhân vật “ba tôi” nghèo hơn viên cựu lại mục, khiến ông bị xúc phạm lòng tự trọng, và quyết chấm dứt mối cảm tình chưa một lời thốt ra ấy. Và kế đó, viên cựu lại mục kia một hôm tìm cách để ở lại ban đêm tại nhà cô Ba Hường. Ông được sắp xếp ngủ tại hàng ba, cách ngăn với nhà trong bằng một dãy song can. Thế rồi, nửa đêm, y bị cự tuyệt. Trên trán y, có vết máu. Còn cô Ba Hường xuất hiện trên sân với cây đèn trong dáng vẻ xộc xệch, áo bị xé rách, tóc bị xoã tung, và nét mặt cô đanh lại, đầy giận dữ. Rồi ngày tháng trôi qua, cho đến khi cô Ba Hường đã đến tuổi hồi xuân, có ngờ đâu lại có lời đồn đoán cô ta lại dan díu quan hệ bất chính với một tá điền trai trẻ. Thêm vào đó, chính Thủ Phò, người hàng xóm phía bên kia vách rào nhà Ba Hường, đối xứng với nhà nhân vật “ba tôi”, lại quyết hại người, giở trò hô trộm giữa đêm, khiến cả xóm thức dậy, rồi tung tin kẻ trộm chính là tên tá điền trai trẻ, mới vào nhà Ba Hường ra (tr. 256 – 259)! Nhà văn viết: “Thủ Phò, – lại cũng Thủ Phò –, để mắt dòm dỏ nhiều hơn hết nên những tin xấu đều do miệng Thủ Phò phát ra. Tại sao Thủ Phò xấu miệng? Tôi cho rằng lí do là bởi cô Ba giàu còn ông thì nghèo. Chắc chỉ vì lòng ghen ghét… […] … Lão tin chắc rằng dù thèm khát đàn ông, cô Ba cũng không bao giờ nghĩ đến lão. Không ăn được thì lão phá vậy. Một đêm kia tôi nghe có tiếng la “ăn trộm! Bớ làng xóm ơi, ăn trộm! Ăn trộm!”… (tr. 256 – 257). Thủ Phò phá mối quan hệ bất chính giữa cô Ba Hường với gã tá điền trẻ chăng? Hay đó là vụ trộm có thật nhưng chưa thành, nhờ Thủ Phò “phá”? Hoặc giả, phải chăng, vụ hô trộm cũng có thể do Thủ Phò dàn dựng, nên người đọc có thể nghĩ rằng, bóng người chèo ghe trốn thoát trên sông khuya có lẽ cũng là người do y thuê mướn!? Nếu thế, thủ đoạn thâm độc đến thế là tột cùng! Người ta càng tin khi cô cứ ở lì trong nhà và rời nhà cả tháng trời, bảo là đi chữa bệnh, mà thiên hạ cho rằng cô ta dính bầu và đi xa để sinh nở, gửi con cho ai đó nuôi! Thêm vào đó, còn có nhiều tình tiết, chỉ được xét trên bề mặt của các tình tiết đó, theo cách suy diễn quy nạp, đều có thể kết án Ba Hường. Chuyện của Ba Hường, về khía cạnh này, là cả một tấn bi hài kịch. Đó là bi hài kịch của một gái goá còn trẻ, giàu có, ở nông thôn, không có đối tượng ngang nhau về của cải, không chịu làm vợ bé, không muốn bị “đào mỏ”, hoặc giả, không thể sống độc thân thanh tịnh, bị sự ghen ăn ghét ở của hàng xóm mà mang tai tiếng. Ở đời, có hàng xóm tốt (hai nhân vật “ba tôi”, “dì tôi”), cũng có hàng xóm xấu (Thủ Phò…)! Ở nông thôn, người ta lại có thói tệ là không cần đến quả tang, không cần chứng cứ xác thực đã được thẩm tra, giám định (như luật pháp quy định, khi quy kết một ai đó), mà chỉ thích tin đồn, không rõ thực hư, thích lời suy diễn, thêu dệt, đơm đặt! Nhà văn viết: “Ở miền tôi, câu chuyện nào li kì thì được người ta nghe và truyền đi, không cần xét xem là đúng hay sai sự thật. Chuyện nào hay thì được coi là thật. Nghe chuyện người khác là một lối tiêu khiển. Miền quê nghèo nàn không có hát bội, không có kịch nhạc nên mới chịu một tâm trạng ích kỉ kém lịch sự như vậy” (tr. 259). Rồi ngày tháng cũng cứ trôi qua cho đến khi Ba Hường trở thành một bà già héo hon, chết trong tư thế ngồi bệt ở nền nhà, đầu ghếch lên một góc tường (tr. 265).

“Dấu chân sa mạc” là một truyện ngắn được viết theo lối khắc hoạ gần như trọn đời một nhân vật, kể từ khi nhân vật còn rất trẻ cho đến khi thành bà lão, chết trong cô độc.

Với cách viết của Võ Hồng ở truyện ngắn này, nhà văn có thể đưa người đọc đến những hướng suy diễn khác nhau, không những trong vụ có tin đồn đoán liên quan đến người tá điền trẻ, mà còn ở vụ viên cựu lại mục ở lại vào ban đêm (người ta không hiểu vì sao dãy song can lại có thể mở được giữa khuya?). Vì có thể suy diễn với nhiều hướng khác nhau như vậy, nên vô hình trung Võ Hồng đã treo lên giữa trời những dấu hỏi (gieo rắc nghi án). Theo nguyên tắc đạo lí và pháp lí, điều gì đã rõ mười mươi mới viết, nếu không thì không nên viết một chữ nào. Từ đó, người đọc không thể không thầm hỏi, phải chăng “Dấu chân sa mạc” là một truyện ngắn trượt ra ngoài phong cách đôn hậu của Võ Hồng? (*).

“Người về đầu non” cũng thuộc loại tiểu truyện như thế, mặc dù đây là một truyện vừa, tuy có người xếp vào loại tiểu thuyết. Đó là chuyện kể về cuộc đời ông bác ruột của nhân vật “tôi”. Vợ chồng ông không con, nên “tôi”, vốn là con ruột của em trai ông, được ông đưa về nuôi từ tấm bé, cho ăn học, lo cả chuyện cưới vợ cho cháu, như một người cha đẻ, lại thương yêu, lo lắng cho đàn cháu gọi ông bằng ông, như ông nội ruột. Suốt cả một trăm trang sách, cuộc đời ông bác được nhân vật “tôi” hồi ức, viết lại với giọng văn biết bao là trìu mến, nhưng không vì thế mà chất hiện thực của câu chuyện bị mờ lấp. Nói chính xác hơn, lòng trìu mến của “tôi” chìm ẩn trong những chi tiết rất thật, và những chi tiết ấy lại chính là những gì đã thành ấn tượng sâu sắc như hoài niệm đầy thương yêu và biết ơn. Qua cuộc đời dài bảy, tám mươi tuổi của ông bác, gắn liền với cuộc đời nhân vật “tôi”, câu chuyện chứa đựng biết bao chi tiết của một làng thôn thuộc tỉnh Phú Yên được ghi nhận, tái hiện sinh động, với một giọng văn trong sáng, đôn hậu và giàu chất hoài niệm, khiến “Người về đầu non” trở thành một truyện vừa cứ mãi mời gọi tìm về một thời quá khứ của nông thôn Nam Trung bộ xưa, cứ mãi ngân nga trong lòng người đọc.

C.

Nhà văn Võ Hồng cùng với ba nhà văn khác tại Miền Nam, thời kì 1954-1975 – Sơn Nam, Vũ Hạnh, Nguyễn Văn Xuân –, được người đọc trân trọng, yêu mến vì tính dân tộc thể hiện trong tác phẩm. Dĩ nhiên, ở Võ Hồng, vẫn có những nét khác biệt, khác biệt ngay cả phần hạn chế của ông.

Chưa nói đến toàn bộ tác phẩm của nhà văn Võ Hồng, chỉ ngay mười một truyện ngắn, một truyện vừa kể trên, bài viết này cũng mới thử khảo sát ở hai khía cạnh. Đó là bóng dáng lịch sử và hình ảnh con người làng quê ở vài làng thôn thuộc tỉnh Phú Yên. Nói rõ ra, như thế là phiến diện. Nhưng để đầy đủ, trọn vẹn, việc nghiên cứu, phê bình phải dẫn đến cả một chuyên luận khá dày về số trang.

Dẫu còn những hạn chế, về lịch sử, về tư tưởng, nhưng tôi tin nhiều thế hệ người đọc vẫn sẵn sàng mỉm cười lướt qua để chú mục, lưu tâm đến những mặt sáng, không thể tìm đâu ra, nếu không tìm ở tác phẩm Võ Hồng. Toàn bộ tác phẩm của ông đã trở thành di sản văn chương về một thời kì ở một miền đất nước, trong nền văn chương dân tộc, mặc dù ông hiện vẫn còn sống, ở tuổi suýt soát chín mươi. Có di sản văn chương nào mà không tồn tại mặt hạn chế! Vấn đề là thái độ của các thế hệ hậu bối đối với di sản ấy.

TXA.
14:30’, 06-12 HB11 (2011)
15:57’, 07-12 HB11
___________________

(*) Nhiều tác giả, “Từ điển văn học”, bộ mới, Nxb. Thế Giới, 2004, tr. 2005 – 2007 (xem mục từ “Võ Hồng”). Sở dĩ tôi dừng lại khá lâu ở truyện “Dấu chân sa mạc” với thiển ý của mình, là vì truyện này được đánh giá là hay nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Võ Hồng.

Đã đăng:
Tttđt. Hội Nhà văn Việt Nam:
http://vanvn.net/news/11/1328-bong-dang-lich-su-va-lang-que-trong-mot-it-truyen-ngan-vo-hong.html
& Tttđt. Hội Nhà văn TP.HCM.:
http://www.nhavantphcm.com.vn/tran-xuan-an-doc-truyen-ngan-vo-hong.html
http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/nghien-cuu-phe-binh/tran-xuan-an-doc-truyen-ngan-vo-hong.html
http://vanhocquenha.vn/view.asp?n_id=4677&n_muctin=10

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

CUỘC KHỞI BINH NÂU SỒNG VÀ VÕ TRỨ

Posted by Trần Xuân An trên 21.10.2010

hidden hit counter

19 — 20-10 HB10: Trần Xuân An — CUỘC KHỞI BINH NÂU SỒNG 1898-1900 VÀ VÕ TRỨ (1855?-1900) QUA CÁC NGUỒN TƯ LIỆU KHÁC NHAU (khảo luận sử học)

Đang gửi đăng trên báo chí in giấy

Đây là bài khảo luận được tác giả (TXA.) viết trong khi chờ “Đại Nam thực lục” đệ lục kỉ phụ biên, trong đó có triều Thành Thái (ở ngôi: 1889-1907), được Viện Sử học công bố (theo thông tin từ bài viết của PGS.TS. Trần Đức Cường, “Phát hiện mới sẽ được công bố: Phần tiếp theo trọn bộ của Đại Nam Thực lục Chính biên”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số tháng 3-2004). — TXA.

A. Qua tư liệu công khai dưới chế độ thực dân, phong kiến
A.I. Nhân vật truyền thuyết dân gian cuối thế kỉ XIX
A.II. Nhân vật “phiến loạn” qua nghiên cứu của thực dân Pháp đầu thế kỉ XX
B. Qua tài liệu nghiệp vụ mật của bộ máy cai trị thời bấy giờ
B.I. Nhân vật tình nghi bị quan lại ngụy triều theo dõi
B.II. Nhân vật “can án” do thực dân xét xử
C. Thử tìm hiểu tư tưởng chính trị của Võ Trứ và cuộc khởi nghĩa nâu sồng 1898-1900




Sách báo, ghi chép tư liệu

A. Qua tư liệu công khai dưới chế độ thực dân, phong kiến

A.I. Nhân vật truyền thuyết dân gian cuối thế kỉ XIX

Tình trạng truyền thuyết lịch sử vẫn còn xuất hiện ở những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX là một hiện tượng khá đặc biệt ở nước ta. Hiện tượng này phản ánh nhiều khía cạnh của xã hội đương thời, trong đó có yếu tố tôn giáo bị hỗn hợp với ma thuật thần bí, tình trạng thông tin, dân trí bị hạn chế và nhất là sự thể hiện nhu cầu lưu giữ lịch sử của nhân dân theo nhãn quan yêu nước, chống ngoại xâm, tay sai, theo cách thức nghìn xưa của họ.

Võ Trứ ở Phú Yên là một nhân vật truyền thuyết như vậy.

Theo truyền thuyết do ông Lương Minh Đán, người dân thị trấn Sông Cầu kể lại, và đã được sưu tầm, biên soạn bởi một nhóm tác giả (1): Đội quân của Võ Trứ chỉ gồm 11 người, kể cả Võ Trứ. Căn cứ của họ ở Dốc Găng. Đó là một đội quân được nhân dân gọi là “Đội quân Đậu Xanh”, vì mỗi khi gặp giặc Pháp, Võ Trứ chỉ ném ra một nắm đậu xanh, lập tức, những hạt đậu xanh ấy biến thành quân lính, tấn công Pháp. Pháp đã nhiều lần đứng sững, rồi tháo chạy tán loạn, khi gặp Võ Trứ và nghĩa binh của ông. Sau nhiều lần tổn thất, chúng tìm cách điều tra để tiêu diệt đội quân Võ Trứ. Rốt cục, chúng cũng hiểu phép thuật của ông chỉ có thể bị trừ khử bằng cách thổi một hồi kèn với âm điệu nào đó. Khi hồi kèn ấy nổi lên, nắm đậu xanh do Võ Trứ ném ra vẫn chỉ là những hạt đậu xanh, không thể hiện hình thành quân lính. Do đó, Võ Trứ bị giặc Pháp bắt được. Khi ông đã bị bắt, mười người lính của ông cũng không thể trốn thoát. Cả 11 người, gồm thủ lĩnh và nghĩa binh, đều bị giặc Pháp hành hình với án chém, bêu đầu. Thủ cấp của Võ Trứ và 10 nghĩa binh yêu nước bị giặc treo ở cầu Tam Giang, cửa ngõ phía nam của khu phố thị Sông Cầu. Đến năm, bảy năm sau, nhân dân còn thấy những chiếc thủ cấp ấy ẩn hiện trong đêm.

Ngoài những khía cạnh khái quát đã được sơ bộ phân tích, lí giải từ “Truyền thuyết Võ Trứ”, phải chăng với cách thức truyền thuyết hóa một trang sử quật khởi, hào hùng của mình, đặc biệt là ảo hóa gốc tích, quê quán của 10 nghĩa binh yêu nước, dũng cảm, nhân dân Phú Yên vừa lưu giữ được sự thật lịch sử, vừa tránh né được sự liên lụy về sau với những trừng phạt thảm khốc mà thực dân Pháp trước đó thường xuyên gây ra cho những thân nhân, xóm mạc của các thủ lĩnh, các nghĩa binh, đứng lên chống lại sự xâm lược, thống trị tàn ác của chúng?

A.II. Nhân vật “phiến loạn” qua nghiên cứu của thực dân Pháp đầu thế kỉ XX

Mãi đến 31 năm sau, vào năm 1929, trên báo chí công khai, sự thật về Võ Trứ và cuộc khởi binh của nhân dân Phú Yên mới được viết lại khoảng gần hai trang ngắn ngủi (nếu tính theo cỡ sách 14,5 x 20,5 cm) trong một bài nghiên cứu địa chí khá công phu của một tên công sứ Pháp: A. Laborde (2).

Trước hết, Laborde xác định năm 1990, chứ không phải là năm Mậu tuất 1898, như các tài liệu lịch sử chúng ta đã đọc được, mới thực sự là năm đã nổ ra cuộc khởi binh do Võ Trứ lãnh đạo.

“Sau khi người Pháp thiết lập cơ sở ở Vũng Lấm, tỉnh này yên tĩnh trong 12 năm và chỉ đến năm 1900, nó lại xáo động do một người tên là Lê Võ Trứ mà người Pháp gọi đùa theo cách phát âm của tên này là “Le Vieux Trou” (cái lỗ già). Đó là một nhà sư hay nhà sư giả danh, ông được coi như là một pháp sư có chút danh tiếng”.

Như vậy, năm 1898 chỉ là năm khởi sự ráo riết.

Kế đó, Laborde viết về Võ Trứ với truyền đơn, khẩu hiệu tuyên truyền mục tiêu, tư tưởng chính trị của cuộc chiến đấu cũng như cách thức vận động quần chúng bằng bùa phép, sắc bằng phong chức, và cả thành phần sắc tộc chủ yếu trong đội quân của ông:

“Ông ta thử lợi dụng danh tiếng [nhà sư, pháp sư – ct.] đó và một buổi sáng người ta thấy bay ở nhiều nơi hay cột ở trụ dây thép những lá cờ hiệu màu đỏ thông báo sự xuất hiện của “vị quan võ đáng nể mà triều đình Huế giao phó việc chống lại quân Pháp” [nguyên văn của Võ Trứ trong ngoặc kép – ct.]. Vị “quan võ đáng nể” đó chính là ông ta. Ông ta đóng quân ở vùng thượng Đồng Xuân tại biên giới của Phú Yên và Bình Định, phân phối cho dân chúng những miếng giấy vuông có chữ viết kì quái, phân phát bằng cấp và thông báo các đổi thay chính trị tương lai. Mặt khác, với những biện pháp xảo quyệt, ông ta dễ dàng được lòng người thiểu số chất phác, và ông ta gây dựng được một toán quân nhỏ khoảng 200 người. Toán quân này đóng ở một nơi gọi là Ba-Meo, cách làng Phú Giang một ngày đường. Trứ còn được gọi là “vua của người Mọi”. Để thích ứng với hoàn cảnh, ông ta cho dệt những bộ đồng phục sặc sỡ và riêng ông có một chiếc mũ lộng lẫy trang hoàng bằng năm con rồng và một cái triện lớn bằng đồng”.

Laborde cho người đọc biết, Võ Trứ đã bị người Pháp theo dõi và cuối cùng, quyết định truy nã, vì, theo cách nói của y, “con người này ngày càng trở nên nguy hiểm” đối với sự thống trị của chúng.

Về cuộc tấn công, quật khởi, “trong đêm 14 rạng ngày 15-5-1900”, Laborde viết, “nhà sư cầm đầu đám người Mọi của mình và 500 quân An-nam đã theo con đường La Hai và đường quan tiến sát được đến cạnh tỉnh lị”, bấy giờ là Sông Cầu. Và Laborde cho biết, cuộc khởi binh của Võ Trứ đã bị chúng, thực dân Pháp, biết được. Do đó, viên thanh tra Pháp và phần lớn đội quân trú phòng đã đi về phía Củng Sơn để phục kích, đón đường, chận đánh. Nhưng chúng không gặp được quân của Võ Trứ. Trong khi đó, quân của Võ Trứ đã tiến sát đến tỉnh lị Sông Cầu, và ngay tại thị trấn này, chỉ còn viên công sứ Pháp cùng khoảng 50 người thuộc quân lính và nhân viên của Pháp. Nhưng đoàn quân của Võ Trứ đã bị một số tên lính tập phát hiện. “Cuộc hành quân không dễ dàng và cuối cùng bị thất bại một cách bi thảm”, đoàn quân Võ Trứ phải “bỏ chạy”, chỉ bởi một số tên lính tập có trang bị vũ khí của Pháp.

Cuộc tấn công, quật khởi ấy, vẫn theo Laborde: “May thay vị công sứ [Pháp] đã biết trước một vài giờ do một người thám báo trung thành và đó là điều giải thích điều ông ta có thể đứng vững trước mặt những kẻ đột kích trước khi những kẻ này thực hiện được kế hoạch đen tối của mình”. Theo kế hoạch đó, sau khi hoặc trong khi cuộc tấn công diễn ra, Laborde viết tiếp: “mười hai người trong bọn chúng tháo lui và đi thuyền đến Tòa Công sứ, giết quan đầu tỉnh và vợ ông ta, giết viên thanh tra [Pháp] và chiếm trại lính”. Nhưng như Laborde đã viết, tên công sứ đã biết trước, nên y biết cách để khỏi bị chết bởi nghĩa binh Võ Trứ, còn tên thanh tra đã dẫn lính đi về hướng Củng Sơn từ sáng sớm để phục kích quân Võ Trứ nhưng chúng không gặp được quân của ông, vì ông đã dẫn quân đi hướng khác.

Cuối cùng, sau khi quân Võ Trứ đã rút về căn cứ, Pháp liền tổ chức một cuộc hành quân. Laborde cho rằng đó chỉ là “một cuộc hành quân nhỏ”, nhưng có kết hợp các đội quân bản xứ dưới quyền của chúng, mà chắc hẳn phần lớn là lính tập có nguyên quán từ các tỉnh khác, theo nguyên tắc hoán đổi của chúng bấy giờ, vốn đến đóng tại ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, với “phí tổn do các làng a tòng với Võ Trứ gánh chịu” (Pháp bắt dân Phú Yên đóng tiền, “thuế chiến tranh” cho chúng để chúng trang trải “chiến phí”!). Và, “cuộc hành quân nhanh chóng kết thúc khi bắt được kẻ giả danh nhà sư ngày 31-5. Đến ngày 6-6 Võ Trứ và hai người phụ tá chính bị chém đầu ở Sông Cầu”, và ba chiếc thủ cấp đã bị bêu nhiều ngày. Kết thúc cuộc khởi binh nâu sồng dưới sự lãnh đạo của Võ Trứ, theo Laborde, là như thế. Và do thừa tiền “thuế chiến tranh” thu được, vì đó chỉ là “một cuộc hành quân nhỏ”, nên chúng dùng để thiết lập đường dây điện thoại Củng Sơn và xây chợ Sông Cầu! Đúng là giọng lưỡi mị dân của một tên công sứ thực dân!

B. Qua tài liệu nghiệp vụ mật của bộ máy cai trị thời bấy giờ

B.I. Nhân vật tình nghi bị quan lại ngụy triều theo dõi

Thật sự chúng ta không dễ đặt niềm tin khoa học hoàn toàn vào truyền thuyết dân gian với những yếu tố thần bí, ảo hóa, lại qua trí nhớ và truyền khẩu, mặc dù đó là truyền thuyết về một cuộc khởi binh yêu nước và về thủ lĩnh tuẫn quốc Võ Trứ. Huống nữa, với vài trang trong một bài viết của một tên công sứ Pháp, chúng ta lại càng không dễ cả tin. Dĩ nhiên, tất cả tư liệu đều phải được phối kiểm.

Tuy nhiên, thư tịch cũ về phía các tăng sư Phật giáo tại Phú Yên, cho đến nay, là không còn gì. Chùa Đá Trắng, vào năm 1929, cũng đã một lần bị cháy rụi – nhiều tác giả nghiên cứu hiện nay, như Nguyễn Đình Chúc chẳng hạn, đã xác nhận như vậy. Và trong những năm tháng chiến tranh khá dài về sau, chùa cũng bị tổn thất nhiều. Do đó, hiện nay, tại chùa Đá Trắng không thể tìm đâu ra một mảnh văn bản cũ.

May mắn là tôi đã tìm được một ít trang châu bản triều Thành Thái trong một cuốn sách do tiến sĩ Lý Kim Hoa sưu khảo, biên dịch (3). Nhưng rất đáng tiếc, trong kho lưu trữ châu bản triều Nguyễn, số trang về Võ Trứ và cuộc khởi nghĩa của nhân dân Phú Yên dưới sự lãnh đạo của ông chỉ còn lại vỏn vẹn có ngần này:

1. Bản tấu trình mật ngày 15-2 năm Thành Thái thứ 11 (Kỉ hợi, 1899) của bố chánh họ Nguyễn, án sát họ Cao, tỉnh Phú Yên
2. Bản tấu trình mật tiếp theo ngày 20-2 cùng năm và cũng của bố, án tỉnh Phú Yên
3. Bản tấu trình mật ngày 22-2 cùng năm của tổng đốc Bình Định – Phú Yên họ Phạm
4. Bản tấu trình mật tiếp theo ngày 25-2 cùng năm và cũng của bố, án tỉnh Phú Yên
5. Bản tấu trình mật tiếp theo ngày 19-3 cùng năm và cũng của bố, án tỉnh Phú Yên

Nguyên văn bản dịch bản tấu trình thứ nhất như sau:

“Bố chánh sứ Nguyễn, án sát sứ Cao tỉnh Phú Yên mật phi trình.

Tháng chạp năm ngoái, cuối năm, gạo thóc đắt đỏ, thiểm tỉnh đã sức 3 phủ huyện sai tổng lí xét các con đường hiểm yếu, thăm dò tình hình, điều động dân đi tuần phòng để giữ an ninh. Từ trước đến nay, theo bẩm báo thì đều yên ổn, không có gì khác lạ. Gần đây, nghe có xảy ra chuyện khác thường, liền trực tiếp sức mật thám tình hình trở lại.

Theo Trần Kỳ Phong, tri huyện huyện Sơn Hòa, bẩm nói: Nghe dân chúng trong tổng Xuân Sơn Thượng hạt ấy đồn rằng có một sư tăng ở trên Mọi, dùng bùa chữa bệnh, dân Mọi nhiều người tin theo. Đợi thám sát rõ tình hình và sư tăng ấy hiện ở tại đâu sẽ báo cáo tiếp.

Thiểm tỉnh liền tư trình cho trụ [(trú)] sứ và sức 3 viên phủ huyện thám sát cùng phái người đi dọ [(dò)] thám rộng rãi.

Ngày 14, tri huyện Sơn Hòa bẩm nói: Ngày 13, lí trưởng thôn Phú Giang (tổng Xuân Sơn thượng) trình nói, ngày 11 có người trong làng báo cho biết rằng vào khoảng canh hai, đêm mùng 10, nhân đi canh tuần bắp, có trông thấy bọn Mọi đi đêm, ước chừng trên dưới 50 đứa; trong đó có nghe tiếng 3, 4 người kẻ chợ. Chúng đi đường núi, đi qua làng, rồi đi về phía Nam. Lí trưởng ấy hỏi các làng Mọi chung quanh, thì nói rằng, chúng đi thăm một người Cao Man (tục danh là Trứu Lô) và người kẻ chợ. Tri huyện này liền phái lại mục bí mật dò xét, khi được sự thật sẽ báo cáo tiếp.

Việc này tỉnh tôi cũng sẽ tư trình trú sứ và mật phi trình cho tỉnh Bình Định thám sát và phúc trình (vì do thư báo, [số người nói trên – ct.] đi từ Bắc đến Nam, có người Việt). Vậy xin tư trình trước, mong xét rõ (tư trình này chưa kịp báo tri cho trú sứ). Đợi phái viên của thiểm tỉnh và phái viên phủ huyện ấy hồi báo, cùng phúc báo của tỉnh Bình Định ra sao, sẽ trình tiếp…”.

Bản tấu thứ nhất trên đã cho chúng ta một số thông tin quan trọng: Một là, Năm 1898 (Mậu tuất), tình trạng thóc gạo ở Phú Yên khó khăn, đắt đỏ. Hai là, Đầu năm 1899, tri huyện Trần Kỳ Phong đã báo cáo: “Nghe dân chúng trong tổng Xuân Sơn Thượng hạt ấy đồn rằng có một sư tăng ở trên Mọi, dùng bùa chữa bệnh, dân Mọi nhiều người tin theo”. Ba là, cũng theo Trần Kỳ Phong, “khoảng canh hai, đêm mùng 10, nhân đi canh tuần bắp, có trông thấy bọn Mọi đi đêm, ước chừng trên dưới 50 đứa; trong đó có nghe tiếng 3, 4 người kẻ chợ. Chúng đi đường núi, đi qua làng, rồi đi về phía Nam. Lí trưởng ấy hỏi các làng Mọi chung quanh, thì nói rằng, chúng đi thăm một người Cao Man (tục danh là Trứu Lô) và người kẻ chợ”. Bốn là, đây là một cuộc thám sát, điều tra có sự phối kết hợp của trú sứ Pháp với 3 tri phủ, tri huyện thuộc tỉnh Phú Yên, và cả với quan chức thực dân Pháp, quan lại Việt tại tỉnh Bình Định.

Trong bản tấu trình mật thứ hai, bố chánh sứ Nguyễn và án sát sứ Cao đã cho biết, vào giờ Dần, ngày 16 tháng 2 âm lịch cùng năm ấy, Ty Phiên nhận được hai phong trình báo mật, trong đó:

“(… Một phong báo cáo rằng, có tên Võ Thản giả làm sư mưu ngụy. Khâm sứ [Pháp] sai đánh dẹp đảng ấy, và giao cho thiểm chức ra sức nã bắt cùng phái lính tập giúp sức.

Một phong nói rằng, theo thám báo thì gian tăng họp nhau ở A Túi. Giao phủ viên Tuy An đem 20 lính tập cùng với người dẫn đường qua ngay đó nã bắt Võ Thản cùng đồng bọn, và do Tòa [Công sứ] lên đường, chận ngay các nẻo đường xung yếu. Thiểm chức liền qua đó họp cùng phủ viên, tìm nhiều cách lập kế bắt bọn chúng để tuyệt gốc ác)…”.

Những đoạn tiếp theo cho chúng ta biết: Trong cuộc truy lùng, vây bắt ấy, có lãnh binh Phạm Tấn, tri huyện Sơn Hòa Trần Kỳ Phong, tri phủ Tuy An Nguyễn Khải, và gồm có lính tập lẫn biền binh. Đoàn ngụy quan, ngụy binh này hành quân từ xứ Kỷ Tối đến Di Lang Phá, và đoán biết quân của Võ Trứ (Võ Thản) đang đóng ở đó, vì vừa thấy ba bốn người, trong đó có sư tăng, ra đi. Cuối cùng, hóa ra, quân Võ Trứ, “tăng ấy và đảng Mọi đã trốn đi trong đêm”, mà đó chỉ là ba bốn người cuối. Sự thật là ở đó chỉ còn là 3 doanh trại, có đường sá, hệ thống phòng thủ, nhưng hầu như trống rỗng. Họ đốt sạch 3 doanh trại này. Cũng trong vài ba ngày đó, công sứ Pháp đã phối hợp hành quân theo hướng khác, và hiện đang ở kho thôn Phú Xuân.

Bản tấu trình này còn cung cấp thông tin khác: Bố chánh và án sát Phú Yên đã nhận được bản phúc tư (trả lời) của tỉnh Bình Định về sự sưu tra lí lịch, hành trạng của Võ Trứ:

“Theo lí hào thôn Nhơn Ân khai nói, Võ Trứ vốn người thôn này, ngụ ở thôn Quảng Văn, trước làm lí trưởng, kế làm thủ chỉ, vì tham nhũng năm Thành Thái thứ 5 [1993], thôn này làm đơn thưa, bèn trốn đi nơi khác, có xin giấy chứng của huyện để lưu chiếu… […] … [Võ Trứ] còn hai người em khác mẹ, một tên là Võ Cường, trước là cấp lính kinh, đã chết, một tên là Võ Cạnh, hiện ở tại chánh quán…”.

“… Thôn lí thôn Vân Canh bẩm nói: Tháng giêng năm nay, vâng lệnh huyện sức truy nã Võ Trứ. Qua các sách Mọi dò hỏi, căn cứ dân Mọi ở sách Lang Nộn nói: Tháng 10 năm ngoái, y [tức Võ Trứ] đến tại vùng Mọi, tức Lang Bách, Lang Pha, thuộc nguồn Hà Thanh. Tháng 12, [Võ Trứ] đến ở xứ Giác Thị thuộc thiểm tỉnh hạt. Tháng giêng năm nay, [Võ Trứ] đem vợ con đến Lang Miêu, xứ Động Hưu (chưa rõ hạt nào; còn đang xét hỏi) trú ngụ v.v… Y vắng nhà đã lâu, lại đem vợ con đi trốn, ý là nghe có tiếng đồn vào Nam mưu thoát … […] … Vì vậy thiểm tỉnh đã mật tư trình đốc bộ đường Thuận Khánh và quý trú sứ [Pháp] biết để hành động và phái nã. … […] … Như vậy thì Nguyễn Trứ, Võ Thản, Võ Trứ cũng là một; thoạt đến thoạt đi nơi hạt này cùng thượng du vùng Mọi của thiểm hạt, dụ gạt làm chuyện phi pháp, thật đáng ngại…”.

Đặc biệt, theo bản tấu trình đó:

“Lại nghe đồn rằng sư tăng ấy là tiên cỡi chim bay đi ban đêm, hai cánh đập nhẹ nhàng. Nay thám hỏi, thì: Ở trại có treo một cái võng bằng dây gai, trải một tấm chăn bằng vải Mọi (dưới võng có đào bếp lò). Ở chung với sư tăng này, còn có một tên nữa (nghe gọi là Thầy Bảy), cũng anh em với y. Đến xin bùa (ban đầu [y] đã dụ dỗ; năm nay, vận khí đề phòng khi có người xin bùa tiên; [có bùa] gặp cọp không sợ, đạn bắn không trúng, có trúng cũng không bị thương), trước hết đến lạy sư tăng ấy (cúng 3 gói trà và nhang cùng giấy vàng bạc), sau lạy tên này xin theo. Trong Mọi, có đầu tháp, 2 cánh chim và 1 cái trâm bằng đồng (ở đầu trâm có vòng tròn; đầu vòng tròn có cột một miếng vải đỏ nhỏ); trong đó cũng có áo, một hai cái linh bằng đồng. Lưng đeo ná, tên và mấy thứ linh tinh, ngồi dưới đất, [phía trước] tên mọi là Di Trứu Lô: độ một hai trăm tên người Kinh (tức người kẻ chợ), ước trên dưới hai ba mươi người để sai sử. Xin trình luôn. Nay mật tục trình phi báo Cơ mật viện đại thần đại nhân rõ”.

Bản tấu trình mật thứ ba là của tổng đốc Bình Định – Phú Yên. Trong bản này, hầu như mọi thông tin đều không khác với hai bản tấu trình của bố chánh, án sát tỉnh Phú Yên. Tuy vậy, vẫn có một số chi tiết được xác minh rõ hơn, cụ thể hơn. Chẳng hạn như xứ Giác Thị được chua thêm là vùng Mọi thuộc tỉnh Phú Yên, xứ Động Hưu là vùng Mọi thuộc phủ An Nhơn (Bình Định). Và chi tiết do tri huyện Tuy Phước (Bình Định) cung cấp: “Tháng 10 [năm Mậu tuất 1898], không biết huyện viên xét xử làm sao, lại phóng thích đi, thôn [Nhơn Ân thuộc huyện của] y không được rõ”. Chi tiết khác: Võ Trứ vốn có một sở nhà vườn, năm Thành Thái nguyên niên, bán một nửa cho tên Nhạn; năm thứ 4, bán nửa còn lại cho tên Sửu; năm thứ 5 thì trốn biệt. Tháng 10 năm ngoái, vợ con của Võ Trứ không hiểu sao cũng trốn đi. Em của Võ Trứ cũng khai như vậy. Chi tiết khác nữa: Nguyễn Bân, huyện Tuy Phước, cho biết viên tri huyện cấp giấy chứng cho dân làng về Võ Trứ tên là Trương Văn Tạo. Chi tiết cuối, đáng chú ý: Lí trưởng [Trần] Cử, thôn Vân Canh, và người buôn với dân thượng du tên là Nguyễn Văn Quyền, có thấy một ngôi nhà mới ở xứ Hạch Cát, hỏi ra, thì biết là của Võ Trứ. Trong nhà có 20 lưỡi dao bảy, 4 lưỡi dao hạng bảy. Họ cũng gặp được Võ Trứ, xét hỏi, thì Võ Trứ khai: “vì nghèo, theo đạo thiền, lấy bùa thuốc bán, vừa mới đến ở xứ này”.

Bản tấu trình mật thứ tư là của bố chánh, án sát tỉnh Phú Yên. Trong bản này, cũng chỉ khẳng định lại các thông tin từ ba bản tấu trình mật trên, kể cả bản của tổng đốc hai tỉnh Bình Định – Phú Yên, họ Phạm. Tuy vậy, lại xác minh thêm: “các thứ dao mà Võ Văn Trứ tàng trữ là vật dùng để mua bán với người Mọi, chẳng có gì lạ, mà bọn Văn Cử bắt giải; chẳng qua là mưu lợi, cạnh tranh thương mại mà thôi; đã gọi tấn thủ nguồn Hà Thanh là Nguyễn Văn Cẩn kết tờ khai nhận lãnh. Cứ như nói thì tên Trứ đang trốn tránh đã được thôn lí Vân Canh bắt nạp, huyện viên này lại giao cho viên tấn thủ ấy nhận lãnh mà không bẩm báo. Nay xảy ra như thế này, đã sức huyện viên ấy trách cứ tấn thủ, bảo phải thám nã, bắt cho được [Võ Trứ], đem về, để phúc chiếu”.

Bản tấu trình mật thứ năm cũng của bố chánh, án sát tỉnh Phú Yên. Trong bản này, có một chi tiết bị các quan lại và trú sứ Pháp xem là quan trọng. Đó là một tờ thư rơi. Trong tờ thư ấy, có dấu son đỏ nhỏ và viết dòng chữ “Hòa thượng sung vi chánh tướng Hồng châu tri”, lại chép một danh sách gồm 9 người. Tất cả 9 người có tên lẫn nhiều người khác bị tình nghi đều bị bắt. Chúng giam 12 người tình nghi, trong đó có 3 sư tăng, cùng 9 người có tên trong thư rơi, và hai người khác thuộc diện can cứu, giam tra… Nhưng người có tên trong thư rơi bẩm rằng, hẳn chỉ do tư thù, tư oán, làm giả thư rơi, và họ chỉ bị oan ức. Bản tấu trình mật cũng có ý chê trách Trần Kỳ Phong không làm tốt chức trách trong vụ Võ Trứ này.

Như vậy, qua năm bản tấu trình (được gọi là Châu bản, nếu nhà vua đã đọc xem, có châu phê, châu điểm) (3), chúng ta cũng chỉ mới biết được là cuộc khởi binh bắt đầu khởi sự từ 1898, và mãi đến 1899 vẫn chưa nổ ra cuộc tấn công thị trấn Sông Cầu. Trong khi đó, cả các quan lại Việt lẫn người Pháp thực dân đều đang theo dõi, điều tra, chứ chưa có kết luận về hành trạng của Võ Trứ cùng đoàn quân của ông. Diễn biến sau đó, do tài liệu châu bản không còn, vì đã bị mất mát, hư hỏng, nên chúng ta cũng không thể biết là sẽ như thế nào. Cũng qua đó, có thể đoán biết nhân vật Thầy Bảy có vai trò rất quan trọng. Liệu có phải Thầy Bảy là Trần Cao Vân (1866-1916) chăng?

Và mọi người đọc cố nhiên hiểu rõ, cả Võ Trứ (bán thế xuất gia) lẫn Trần Cao Vân (độc thân xuất gia) đều là tu sĩ trở thành cư sĩ Phật giáo.

Chúng ta cũng cần lưu ý: Châu bản không phải là sử, mà chỉ là sử liệu, trong nhiều chuỗi sử liệu. Quốc sử quán sẽ chọn lọc, xử lí số châu bản ấy cho đúng với thực chất vụ việc. Có những tờ châu bản sẽ bị loại trừ, vì theo diễn tiến của vụ việc được lần lượt báo cáo (tấu trình), tờ sau có thể sẽ phủ quyết tờ trước, cho đến khi vụ việc được sáng tỏ. Ngoài ra, đối với ngôn từ và “nhãn quan” của quan lại thời bị Pháp thống trị, chúng ta cũng phải nhìn nhận, thẩm định theo cách của chúng ta hiện nay, khi đất nước đã được độc lập, tự do.

Dẫu sao, có một điều, thiết nghĩ cũng cần làm rõ, ấy là vụ việc vỡ nợ (hay lạm chi), bỏ quê nhà ra đi của Võ Trứ, và việc vợ con ông sau đó cũng ra đi nốt. Thật ra, vỡ nợ, ra đi nơi khác cũng là chuyện bình thường, nếu nợ nần đã được thanh thỏa. Vả lại, ông và vợ con, người trước, kẻ sau ra đi, đều hợp pháp, vì đã có giấy chứng của tri huyện Trương Văn Tạo. Tuy nhiên, cũng có thể nghĩ, đó là một cách khôn khéo của Võ Trứ để tránh bị theo dõi, trong khi ông ra đi để vận động quần chúng khởi nghĩa. Hoặc giả, Võ Trứ và gia đình ông đã được tri huyện Trương Văn Tạo và sau này là viên tấn thủ Nguyễn Văn Cẩn bao che, như tài liệu do công sứ Blainville ghi chép, nhận xét dưới đây.

B.II. Nhân vật can án “phiến loạn” do thực dân xét xử

Nhân vật lịch sử Võ Trứ và cuộc khởi nghĩa nâu sồng 1898-1900 còn được công sứ Pháp Celeron de Blainville tại Phú Yên ghi nhận để báo cáo mật với khâm sứ Pháp tại Huế. Trong một bài nghiên cứu của Đào Nhật Kim, người đọc có thể thấy những trích đoạn cần thiết:

“Võ Trứ đến Phú Yên trong vòng hai năm, lúc đầu hắn dựa vào người Mọi ở Thồ Lồ, làng Xí, làng Đồng, Phú Giang lập căn cứ ở núi La Hiên, sau mở rộng đến người An Nam [người Kinh – ĐNK. ct.]. Hắn còn nhiều đồng đảng đang hoạt động tại Bình Định, Khánh Hòa và các vùng núi khác; một số khu vực Lào cũng đứng về phía hắn với tinh thần tự nguyện; tất cả đều ngụy trang dưới danh nghĩa truyền giáo. Hắn lôi kéo cả các vua Thủy Xá, Hỏa Xá cùng một số phần tử ở hữu ngạn sông Mê Kông” (4a).

“Võ Trứ không phải là một nhân vật tầm thường. Hắn có ảnh hưởng thật sự chẳng những đối với người Thượng mà cả người An Nam ở Phú Yên cũng kính phục hắn. Khi đặt niềm tin vào mục tiêu nào đó, hắn âm thầm tìm hiểu và tìm những cộng sự đáng tin cậy giữa những người cuồng tín. Khi sống với dân, hắn đã biết khơi dậy những vấn đề bất mãn của họ như thuế thổ trạch, thuế thân, thuế phụ thu… Cho đến bây giờ phần lớn họ đang chờ đợi một sự kiện diễn ra, tuy không cần tuyên bố rằng Võ Trứ ở đâu. Mặc kệ, [Võ Trứ ở đâu cũng được – TXA. ct.], họ chỉ biết họ không bỏ hắn, hắn vẫn còn được sự ngưỡng mộ âm thầm của họ” (4b).

“Từ tri phủ, tri huyện đến chánh phó tổng và hương lí đều liên quan đến cuộc nổi loạn của Võ Trứ, nếu không tích cực ủng hộ thì ít ra cũng giúp đỡ bằng tinh thần, hoặc đứng giữa, dung túng phản nghịch” (4c).

“Tuất, Hợi nhị niên
Nhà không ai ở vườn điền bỏ hoang
Lên rừng thì sợ hổ lang
Về làng thì sợ vua quan Tây tà
Mười phần chết bảy còn ba
Chết hai còn một mới ra thái bình
Giữa đường sinh tử, tử sinh
Đứng lên chống Pháp cứu mình cứu dân…”
“Chừng nào Thánh xuống Hòn Vàng
Thì dân ta sẽ hoàn toàn tự do”

(bài vè tuyên truyền chống Pháp của cuộc khởi nghĩa 1898-1900) (4d)

“Võ Trứ đi qua làng nào cũng có yết bái, treo cờ để đón rước như đón rước một vị thượng quan đi kinh lí hay một giáo chủ đạo Hồi” (4e).

“Không cho Võ Trứ có điều kiện nghỉ ngơi, tập trung lực lượng và tổ chức các hoạt động đánh chiếm các mục tiêu mà hắn đã định” (4g).

“Dân Phú Yên tuy ít học, nhưng họ giữ được ý thức độc lập, tự do. Từ hai năm nay ta xen vào công việc của họ một cách trực tiếp, họ nhìn chúng ta bằng con mắt căm thù. Hơn nữa họ còn ghi lại trong kí ức những cuộc chiến đấu của ông cha họ chống lại người Pháp của chúng ta khi đặt chân đến mảnh đất này. Nay có người gợi lại truyền thống ấy và khuyến dụ họ tức thì họ nghe theo. Chính vì thế mà Võ Trứ đã thành công trong việc tuyên truyền xách động dân chúng ở thôn quê, được các nhà chức trách địa phương ủng hộ, đã nổi dậy chống người Pháp đông đảo và nhanh chóng như vậy” (4h).

“Cha chết vì nước, vì hạnh phúc của các con, thù này các con nhớ lấy, vĩnh biệt các con” — lời của Võ Trứ nói với các con khi ông đã tự nộp mình cho Pháp (4i).

“Các ông không thể dùng tình cảm để khuất phục ta được đâu. Ta muốn đánh người Pháp để giành độc lập cho đất nước và thay đổi triều đại đương kim đã phản bội lại dân chúng để lập lên triều vua khác, mà người cai trị là một thánh quân. Nhưng tiếc thay công việc không thành, ta chỉ biết lấy cái chết để đền nợ nước, không phải nói nhiều lời” — lời của Võ Trứ nói với công sứ Pháp (4k).

Đối với những đoạn trích trên, người viết bài này chỉ mạn phép dẫn lại, không bình luận gì thêm. Nội dung chúng đã khá rõ. Vả lại, người đọc có thể tìm đọc bài viết của thạc sĩ Đào Nhật Kim theo xuất xứ đã dẫn.

C. Thử tìm hiểu tư tưởng chính trị của Võ Trứ và cuộc khởi nghĩa nâu sồng 1898-1900

Qua nhiều nguồn tư liệu đã khảo sát được, và với phương pháp loại suy, chúng ta có thể xác tín một điều: Võ Trứ và cuộc khởi nghĩa nâu sồng 1898-1900 là có thật, là sự thật lịch sử, chứ không phải là truyền thuyết lịch sử với dung lượng huyền ảo chiếm một tỉ lệ quá lớn đến mức ngã hẳn về huyền thoại, hoặc được gọi là truyền thuyết nhưng thực chất chỉ là hư cấu hoàn toàn như truyền thuyết về ngôi mả Cao Biền ở Phú Yên.

Quanh nhân vật lịch sử Võ Trứ và cuộc khởi binh nâu sồng 1898-1900, còn có nhiều tư liệu điền dã khác. Có thể gọi đó là những sử liệu thuộc loại dã sử. Thêm vào đó, còn có tư liệu tộc phả của họ Võ làng Nhơn Ân, tổng Kỳ Sơn, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Một vài nhà nghiên cứu cũng đã khảo sát thêm tư liệu này, và cho chúng ta biết, họ Võ của Võ Trứ (em họ của Võ Thiệp) vốn là họ Nguyễn, nhưng vì có cụ tổ cách nhiều đời là Nguyễn Văn Trị, đô đốc nhà Tây Sơn, lấy công chúa Nguyễn Thị Quang Thúy, nên phải đổi sang họ Võ từ 4 đời trước. Chính chi tiết này cùng với một vài chi tiết khác, như lá cờ “Minh trai chủ tể”, nhất là câu trả lời cuối cùng của Võ Trứ trước mặt tên công sứ Celeron de Blainville (4k), khiến người đời sau dễ liên tưởng đến bản án ngụy triều Đồng Khánh và thực dân Pháp đã tuyên về Mai Xuân Thưởng (1860-1887).

Liệu có phải Võ Trứ cũng như Mai Xuân Thưởng, thực chất là “dương vị Hàm Nghi khởi nghĩa; âm vị ngụy Nhạc phục thù” (mặt phải vì Hàm Nghi mà khởi nghĩa; mặt trái vì ngụy Nhạc, nhà Tây Sơn, mà phục thù) hay không?

Một chi tiết không thuộc loại sử liệu gốc, liên quan đến nhân vật lịch sử Trần Cao Vân (1866-1916), khi hai người chưa gặp mặt nhau: Trần Cao Vân nghe tiếng và hiểu hành động chính trị của Võ Trứ nên đã viết một dòng chữ ở chiếc mõ của một ngôi chùa tại Bình Định: “Tất dả chính danh hồ!” (Ắt phải chính danh vậy thay!). Rõ ràng Trần Cao Vân muốn liên kết với Võ Trứ, nhưng trước hết, cần phải đề nghị Võ Trứ xác định tính chính danh của công cuộc vận động khởi nghĩa chống Pháp, để đừng rơi vào trường hợp như Mai Xuân Thưởng.

Do đó, khi Trần Cao Vân đã vào Phú Yên để làm quân sư cho Võ Trứ, người ta thấy tính chính danh ấy đã được thể hiện ở những tấm truyền đơn màu đỏ mà A. Laborde có đề cập tới:

“Ông ta thử lợi dụng danh tiếng [nhà sư, pháp sư – ct.] đó và một buổi sáng người ta thấy bay ở nhiều nơi hay cột ở trụ dây thép những lá cờ hiệu màu đỏ thông báo sự xuất hiện của “vị quan võ đáng nể mà triều đình Huế giao phó việc chống lại quân Pháp” [nguyên văn của Võ Trứ trong ngoặc kép – ct.]. Vị “quan võ đáng nể” đó chính là ông ta” (5).

Một khi Võ Trứ đã nhận nhiệm vụ của triều đình Huế (bấy giờ là triều vua Thành Thái [ở ngôi: 1889-1906]) hay tự nhân danh triều đình Huế để khởi nghĩa, thì rõ là tính chính danh thuộc phạm trù lịch sử thời phong kiến đã được công khai xác định. Và đó không phải là “chiêu bài”, trong trường hợp Trần Cao Vân. Trần Cao Vân một đời hoạt động đều nhân danh vì đất nước đồng thời vì triều Nguyễn (6).

Có điều, việc Võ Trứ đề ra chủ trương tự tôn xưng “Minh trai chủ tể” (vị chúa tể chay tịnh, sáng suốt), và đội mũ có năm con rồng, tượng trưng cho bậc hoàng đế, khiến chúng ta nghĩ Võ Trứ đã đổi thay mục tiêu ở cương lĩnh chiến đấu với nội dung tư tưởng chính trị của ông. Võ Trứ không chiến đấu vì triều Nguyễn, một triều đại mà từ sau khi Đồng Khánh lên ngôi (9-1885), đã và đang trên đà biến chất, trở thành phản động, làm tay sai cho thực dân Pháp, giết hại người yêu nước, chống Pháp. Ông thực sự chống ngụy triều Nguyễn và thực dân Pháp, nên ở trong tâm trạng “về làng thì sợ vua quan Tây tà”. Điều đó càng thể hiện rõ, ngay trong câu trả lời viên công sứ thực dân: “Các ông không thể dùng tình cảm để khuất phục ta được đâu. Ta muốn đánh người Pháp để giành độc lập cho đất nước và thay đổi triều đại đương kim đã phản bội lại dân chúng để lập lên triều vua khác, mà người cai trị là một thánh quân. Nhưng tiếc thay công việc không thành, ta chỉ biết lấy cái chết để đền nợ nước, không phải nói nhiều lời” (4k).

Nhưng liệu Thành Thái có phải là một vị vua toàn tâm bán nước, cam làm tay sai? Lịch sử đã trả lời Võ Trứ rằng: Không. Nhưng rạch ròi hơn, đúng là Thành Thái đang ở trong guồng máy bán nước thực sự (xét về mô thể), tuy bản thân ông vẫn là một ngụy vương yêu nước, muốn chống Pháp nhưng không thể chống được (xét về chất thể).

Điều này khiến chúng ta hiểu vì sao Trần Cao Vân không trực tiếp tham gia chiến đấu với Võ Trứ trong cuộc tấn công Sông Cầu vào đêm 14 rạng ngày 15-5-1900. Nhiều tác giả nghiên cứu cho rằng chỉ bởi lúc ấy Trần Cao Vân đang nằm liệt giường vì sốt rét ngã nước. Nhưng thật sự Trần Cao Vân liệt giường vì lâm bệnh hay vì Võ Trứ đã tự ý thay đổi chủ trương, cương lĩnh chiến đấu?

Về Trần Cao Vân, mãi cho đến cuộc khởi nghĩa Duy Tân (1916) và tận lúc chịu án chém cùng Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu, ông mãi mãi là trung dân của nhà Nguyễn.

Một khía cạnh khác, cũng thuộc về tư tưởng chính trị của cuộc khởi nghĩa, đó là đoàn kết lương – giáo. Chắc hẳn Võ Trứ chịu ảnh hưởng bởi sự cố vấn của Trần Cao Vân, người chủ trương “tứ giáo đồng quy” (hay “tứ giáo đồng nguyên”), Nho, Lão, Phật và Chúa cùng quy về một gốc, cùng một nguồn. Trong thực tế, vẫn có những giáo dân yêu nước chống Pháp, như Huỳnh Sự (Huỳnh Cụ), phó tướng của Võ Trứ, và đã hi sinh cùng ông. Nhưng cũng cần xét Thiên Chúa giáo trên nhiều phương diện, ít ra là hai phương diện: Thiên Chúa giáo như là tôn giáo thuần túy (nhất là khởi nguyên của lịch sử Thiên Chúa giáo trước khi tràn sang La Mã cổ đại) và Thiên Chúa giáo như là một công cụ tâm linh – chính trị, xâm lược của Vatican, của Pháp và nhiều nước thực dân khác, như Tây Ban Nha (ở các nước bị xâm lược khác và ở nước ta)… Đây là một khó khăn, quả là một vấn nạn lịch sử, không dễ bị ảo tưởng, mặc dù chúng ta vẫn yêu quý tất thảy đồng bào của chúng ta, không phân biệt lương – giáo.

Dẫu sao, Võ Trứ cũng chiến đấu và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vì lí tưởng Phật giáo, cho dù chỉ là Phật giáo bình dân, có nhiều yếu tố mê tín (kết hợp với biến tướng của Lão giáo là đạo phù thủy) và ông tự nhận cho bản thân sứ mệnh phải lập ra một triều đại do chính ông khai sáng, chứ không nhân danh một triều đại quá khứ nào, như nhân danh nhà Tây Sơn chẳng hạn. Võ Trứ cũng không nhân danh triều Lý, một triều đại được khai sinh bởi thế lực Phật giáo, trong lịch sử nước ta, như Vương Quốc Chính (?-1898) ở ngoài Bắc đã nhân danh. Nếu quả thật như vậy, Võ Trứ không thể chịu bản án như Mai Xuân Thưởng, và Võ Trứ cùng cuộc khởi nghĩa nâu sồng ở Phú Yên (1898-1900) vẫn rất chính nghĩa, rất sáng suốt, ở khía cạnh này.

Về việc khởi nghĩa vì lí tưởng Phật giáo, Võ Trứ và cuộc khởi nghĩa nâu sồng (Pháp gọi là “giặc Thầy Chùa”), vô hình trung cũng đã làm sáng tỏ về sự khủng hoảng ý hệ trung quân Nho giáo thuở bấy giờ. Tín điều trung quân Nho giáo đã trở thành sự lừa bịp trắng trợn! Đó là thời đoạn lịch sử mà các trào lưu tư tưởng dân chủ, tư sản dân quyền chưa lan tỏa, thấm sâu vào xã hội nước ta, còn cách mạng vô sản thì mãi đến 1920 mới lóe sáng bởi một luận cương về các quốc gia dân tộc bị áp bức. Võ Trứ tìm đến Phật giáo bình dân, với chủ trương “tứ giáo đồng nguyên” như một chất kết dính dân tộc trong công cuộc chống Pháp, chỉ là một cố gắng trong tình trạng khủng hoảng tư tưởng đó.

Tuy nhiên, không thể không nghĩ rằng bản thân Võ Trứ đặt một mục tiêu quá tầm, trong điều kiện khách quan và chủ quan, là sẽ giải phóng toàn bộ đất nước Việt Nam thoát khỏi ách thực dân Pháp. Võ Trứ đã phiêu lưu chính trị, quân sự chăng? Chính sắc phục sặc sỡ của người Thượng du (sách cũ gọi là người Mọi) và danh xưng mà quần chúng đương thời dành tôn vinh Võ Trứ — “Vị vua của người Mọi” – khiến chúng ta nghĩ Võ Trứ đã biết giới hạn mục tiêu chiến đấu của mình: Phải chăng Võ Trứ muốn thành lập một xứ Phật giáo Việt Nam tự trị, Kinh – Thượng đoàn kết, với cương thổ là vùng đất thuộc huyện Đồng Xuân và cao nguyên Gia Lai kề đó, như Hoàng Hoa Thám (1858-1913), được Pháp cho tự trị từ năm 1894 đến 1905, ở ngoài Bắc? Dẫu vậy, đấy chỉ là điều phỏng đoán. Cho đến nay, chưa có một văn bản nào xác nhận điều ấy. Trong lĩnh vực sử học, có thể luận bàn trên một vài cơ sở nào đó, nhưng không thể phỏng đoán với dữ liệu còn chưa rõ rệt. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nghĩ ông cùng quần chúng nhân dân, tăng ni Phú Yên khởi nghĩa, chiến đấu, chấp nhận bị thực dân trả thù tàn khốc, trong tình thế tuyệt vọng, cũng chỉ để nuôi dưỡng ngọn lửa độc lập, tự cường dân tộc tự nghìn xưa và để thực dân Pháp phải chùn tay trong áp bức, bóc lột.

Như thế, trên những cơ sở khá vững chắc, có thể yên tâm khẳng quyết, Võ Trứ không phải như Mai Xuân Thưởng trước đó, không phải như Vương Quốc Chính cùng thời, và cũng không phải như Trần Cao Vân, quân sư và đồng sự. Võ Trứ không phải là nhân vật lịch sử minh họa cho quan niệm, định kiến dòng tộc chủ nghĩa phong kiến.

Trần Xuân An
Khởi viết lúc 08:52’, ngày 19-10 HB10 (2010)
Viết xong lúc 11:16, ngày 20-10 HB10
Sửa chữa, bổ cứu xong, lúc 17:41, cùng ngày.

_____________________________

(1) Nguyễn Định (chủ biên), Lê Đức Công, Lê Bạt Sơn (sưu tầm, biên soạn), “Văn học dân gian Sông Cầu”, UBND. Huyện Sông Cầu ấn hành, 2002, tr. 61-63.

(2) A. Laborde, “Những người bạn cố đô Huế” (Bulletin des Amis du vieux Huế), bài “Tỉnh Phú Yên”, tập XVI, năm 1929, Nguyễn Cửu Sà dịch, Lưu Nguyễn, Nhị Xuyên hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 2003, tr. 389-391 [tr. 382-454]. Những câu, đoạn trích dẫn trong mục A.II là từ bài của A. Laborde.

(3) Lý Kim Hoa, “Châu bản triều Nguyễn – Tư liệu Phật giáo qua các triều đại Nhà Nguyễn 143 năm…”, sưu khảo – biên dịch, Nxb. Văn hóa – Thông tin, 2003, tr. 785-818. Những câu, đoạn trích dẫn trong mục B.I là từ 5 bản tấu trình mật, vốn được gọi là Châu bản, trong sách này. Theo phàm lệ đầu sách, có thể xác định đây là những tờ “châu bản rời”, và những tờ này không có châu phê (châu điểm, châu khuyên, châu mạt hay châu cải…) của vua Thành Thái. Căn cứ vào nội dung, chúng được gửi cho Cơ mật viện (Nguyễn Thân…). Xem thêm chú thích (6): sử liệu cũ.

(4a) Dẫn theo Đào Nhật Kim, “Võ Trứ và cuộc khởi nghĩa năm 1900 ở Phú Yên”, Tạp chí Xưa và Nay, số 364, tháng 9-2010, tr. 12-15. Celeron de Blainville, “Phúc trình chính trị Sông Cầu, ngày 5 tháng tư 1900. Công sứ Pháp ở Phú Yên gửi ông Khâm sứ tại An Nam ở Huế”.

(4b), (4c), (4e), (4g), (4i), (4k) Dẫn theo Đào Nhật Kim, bđd.: Celeron de Blainville, “Phúc trình chính trị Sông Cầu, ngày 29 tháng bảy 1900. Công sứ Pháp ở Phú Yên gửi ông Khâm sứ tại An Nam ở Huế”.

(4d) Dẫn theo Đào Nhật Kim, bđd.: Đây là một bài vè tuyên truyền chống Pháp của người Việt, xuất hiện trong cuộc khởi nghĩa Võ Trứ, nhưng Celeron de Blainville, công sứ Pháp ở Phú Yên, đã chép gửi khâm sứ tại An Nam ở Huế, trong Phúc trình chính trị Sông Cầu, thuộc tháng năm, năm 1900. Tuy vậy, có nhà nghiên cứu cho rằng, đó là bài vè của chính Võ Trứ sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng. Hiện còn có một dị bản: câu “Về làng thì sợ vua quan Tây tà” ở một bản khác lại là “Ra sông sợ cá, về làng sợ ma”. “Sợ cá”, có lẽ do cá ăn thây người chết quá nhiều; còn “sợ ma” là bởi làng mạc thì không bóng người sống, mà chỉ là thây người chết… Cả hai câu ở hai dị bản đều tố cáo chế độ thực dân bóc lột, tàn ác, phong kiến bù nhìn, tay sai.

(4h) Dẫn theo Đào Nhật Kim, bđd.: Celeron de Blainville, “Phúc trình chính trị Sông Cầu, thuộc tháng năm, năm 1900. Công sứ Pháp ở Phú Yên gửi ông Khâm sứ tại An Nam ở Huế”.

(5) Xem chú thích (2).

(6) Tuyệt mệnh thi 2 (“Lời nói sau cùng trên án chém”), thơ chữ Nôm, theo hậu duệ Trần Cao Vân: Trần Trúc Tâm, “Chí sĩ Trần Cao Vân (1886-1916)”, Nxb. Đà Nẵng, 1999, tr.170. Xem thêm: sử liệu cũ, gồm thông tin trên báo chí cũ về Trần Cao Vân và các đồng chí của ông: Nguyễn Trương Đàn, Tạp chí Sông Hương, số 243, tháng 05-2009, bài “Thời khắc hi sinh lẫm liệt của hai nhà chí sĩ”.

Đã đăng trên Tcđtl. TranNhuongCom, 03-11 HB10:
http://trannhuong.com…
Cũng có thể xem tại:
http://www.tranxuanan-writer.net/Home/…
http://www.phongdiep.net/… (05-11 HB10)

Bài khảo luận này tôi đang gửi đăng trên các báo, tạp chí in giấy,
nhưng theo yêu cầu của nhiều người đọc,
tôi đành phải công bố trước trên một vài điểm mạng (tạp chí điện tử…).
Kính mong được tòa soạn báo chí in giấy thông cảm.
TXA.
04-11 HB10 (2010)

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , | 2 Comments »

Chùm thơ 10 bài về Phú Yên

Posted by Trần Xuân An trên 15.09.2010

hidden hit counter

Cập nhật: 15-10 HB10: BÀI THỨ 10 ĐÃ ĐƯỢC BỔ SUNG 2 KHỔ THƠ VÀ 3 CHÚ THÍCH.

mừng hết lạm mù trong đáy mắt
bói trong thư ấy (8), vướng mê lầm
mõ vang khẽ thức hồn yêu nước
sử học là chuông, không quẻ xăm!

dịch biến tùy thời, mong chính trực
đâu ai tạ sự, nổ hay ngầm
Mai Xuân, án kết (9), nào sư Trứ
tuyệt mệnh thơ Người, mãi hát ngâm (10).

(Xem tiếp trọn bài 10 ở cuối khung này)

Cập nhật: 10-10 HB10 (2010): ĐÃ BỔ SUNG THÊM MỘT BÀI THỨ 10

Cập nhật: 03-10 HB10 (2010): ĐÃ ĐĂNG TRỌN VẸN 09 BÀI

CHÙM THƠ 3 BÀI KHI SẮP ĐI PHÚ YÊN

Trần Xuân An

1). Hình dung khi đến Phú Yên
2). Kính nghĩ về Lê Thành Phương (1825-1887), nghĩa tướng Cần vương (*)
3). Gành Đá Đĩa

_____________________

(*) Theo một số tài liệu gần đây cho biết, Lê Thành Phương là tác giả “Hịch Chiêu quân”. Trong đó, có câu không đúng với sự thật lịch sử. Phải chăng đó là một văn bản đáng ngờ? (Giới sử học và bản thân tôi đã làm sáng tỏ). Cũng nên nói thêm: Ngoại trừ các chi tiết bôi nhọ, xuyên tạc, chính các bản dụ, cáo thị của thực dân Pháp, nguy triều Đồng Khánh – Nguyễn Hữu Độ cũng vô hình trung ghi nhận lòng trung thành của nhân dân, phong trào Cần vương các tỉnh tả kì đối với Nguyễn Văn Tường (1824-1886), Tôn Thất Thuyết (1839-1913). Do đó, “Hịch Chiêu quân” chắc hẳn đã bị thêm bớt do người đời sau.

Lê Thành Phương không được sách sử trong Nam ngoài Bắc, từ trước đến nay đề cập đến, mặc dù đều có viết về phong trào Cần vương ở Phú, Khánh, Thuận (?). Đền thờ ông mới được người dân địa phương (?) xây dựng từ 1956, tu bổ vào năm 1971. Xin đánh 2 dấu hỏi khoa học ở 2 điểm này.

Xin xem thêm bốn (04) đầu sách của Trần Xuân An đã xuất bản và các bài khảo cứu khác của tác giả về đề tài Nguyễn Văn Tường (1824-1886).

TXA.
12 &14-9 HB10 (2010)

SẼ CÔNG BỐ SAU

—————————————–

Cả thảy 9 bài
ĐÃ NỘP (27-9 HB10):
Trưởng trại, nhà văn Đỗ Viết Nghiệm (cùng một số nhà thơ, nhà văn trại viên)
& ĐÃ GỬI ĐĂNG, PHÁT (23 & 27-9 HB10):
Nhà thơ Phan Hoàng, nhà văn Thu Trân (tạp chí Đương Thời) & các báo, đài ở Phú Yên
Nhạc sĩ Ngọc Quang (chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Yên)
Tttđt. Hội Nhà văn Việt Nam (29-9 HB10)

Cập nhật: 29-9 HB10 (2010):

Các bài thơ Trần Xuân An viết tại Đồi Thơm, Tuy Hòa, Phú Yên, trong thời gian dự Trại sáng tác do Hội Nhà văn TP.HCM. tổ chức, phối hợp với Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Phú Yên, với sự hỗ trợ của Công ti Du lịch sinh thái Sao Việt, từ 18 đến 28-9 HB10 (2010):

4). Bài toán đố về trung thu
5). Cuộc khởi binh nâu sồng 1898
6). Tùy bút ở Phú Yên
7). Từ Sông Cầu, ngắm Phú Yên như tranh sơn thủy
8). Ở Gành Đá, Huế bỗng dưng Tuy Hòa
9). Tiền Chiến và Đồng Cam

Bản đồ lớn hơn: Nguồn: khudothimoi. com

Ảnh lớn hơn

TXA. nhiếp ảnh tại Phú Yên, trong thời gian tham dự Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM., từ 18 đến 28-9 HB10 (2010)

Trần Xuân An

KÍNH NGHĨ VỀ LÊ THÀNH PHƯƠNG (1825-1887),
NGHĨA TƯỚNG CẦN VƯƠNG

Lệnh người đi – Dụ về kẻ ở (1)
chiếncần; “hòa” quyết bất đồng (2)
Ông yêu nước trách Người yêu nước?
hay cáo giặc làm ai nhiễu lòng? (3)

năm thập niên gần đây tưởng nhớ (4)
nước mắt buồn chảy ngược vào hồn
trang sử cũ giờ đây lật mở
Ông và Người chung trái tim son

Người gục chết, đảo đày – châu Mỹ (5)
bến Cây Dừa, máu đẫm vai Ông
Hịch Chiêu quân, chữ nào đã lỡ?
chú giải đành khắc giữa núi sông (6)

hay chỉ từ một chín bảy mốt
Hịch thêm vào nét nghĩa vu oan
tranh thờ Ông, cũng sai trang phục
quản hương binh, hệt tướng vua Càn! (7)

nghìn đời sau dâng hương lễ hội
trán trang nghiêm, ánh mắt trong hơn
kế li gián, giặc gieo, đã rõ
Ông và Người cùng sáng nước non.

TXA.
15:40, ngày 13-9 HB10 (2010)
và sáng sớm 14 – 9 HB10, tại TP.HCM.

(1) “Lệnh dụ thiên hạ Cần Vương” và “Dụ Nguyễn Văn Tường”, từ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị), được phát đi khắp nơi và gửi về Huế trong cùng một ngày, 13 – 7 – 1885 (02 – 6 Ất Dậu), với sách lược “kẻ ở, người đi”.

(2) Kháng chiến là cần vương (giúp vua [cứu nước]); “hòa”, nhưng quyết không cùng lòng với giặc Pháp. “Hòa” ở trường hợp Nguyễn Văn Tường, trong thời điểm sau ngày 05 – 7 – 1885, thực ra là chiến. Nguyễn Văn Tường vốn là người đứng đầu nhóm chủ chiến (xem: bản án chung thẩm trong “Đại Nam thực lục”, kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., tr. 35).

(3) “Hịch Chiêu quân” của Lê Thành Phương có câu không đúng với sự thật lịch sử. Từ lâu, giới sử học cùng bản thân tôi đã làm rõ. Cũng cần nói thêm: đồng thời với các chi tiết bôi nhọ, xuyên tạc, chính các bản dụ, cáo thị của thực dân Pháp, ngụy triều Đồng Khánh – Nguyễn Hữu Độ cũng vô hình trung ghi nhận lòng trung thành của nhân dân, phong trào Cần vương các tỉnh tả kì đối với Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), Tôn Thất Thuyết (1839 – 1813). Do đó, “Hịch Chiêu Quân” chắc hẳn đã bị thêm bớt do đời người đời sau (“hay cáo giặc làm ai nhiễu lòng?” – TXA) (*). Xin xem thêm bốn đầu sách đã xuất bản chính thức của Trần Xuân An cùng các bài khác của tác giả (trong cuốn “Bàn thêm về mấy vấn nạn sử học”) về đề tài Nguyễn Văn Tường.

(*) Năm 1971, mới công bố “Hịch Chiêu quân”. Trích dẫn từ các nguồn tài liệu:

— “Do các ông Lê Thành Thao, Lê Thành Lược, Võ Toàn Lưu, cháu nội ngoại 4 đời của Lê Thành Phương sưu tầm. Các bài này hiện còn ghi tại đền thờ Lê Thành Phương” (Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật Phú Khánh, xuân Giáp Tý, số 2 – 1984, tr. 32 – tài liệu tại Thư viện Phú Yên).

— “Bài hịch này, đọc trước ba quân tướng sĩ (*1), vào tháng 8-1885, ở núi Một, thôn Tân An, tổng Xuân Vinh, phủ Tuy An. Thân quyến Lê Thành Phương đã ghi chép và lưu giữ bản hịch này. Đến năm 1971 (đền thờ Lê Thành Phương xây dựng xong), ông Võ Toàn Lưu và ông Lê Thành Thao chép bài hịch thành văn bản để thờ tại đền thờ Lê Thành Phương” (Đặc san “Danh nhân lịch sử Lê Thành Phương”, Bảo tàng tỉnh Phú Yên xuất bản, 2-1997, tr. 17 – tài liệu của ThS. Nguyễn Quang Trung Tiến)

(*1) Lê Thành Phương chỉ là một vị chỉ huy lực lượng hương binh ở một địa phương mà thôi.

Thêm vào đó, tấm chân dung Lê Thành Phương được đặt ở bàn thờ trong đền thờ ông là một bức họa được vẽ, cho chúng ta thấy ông mặc quan phục (trang phục quan võ triều Nguyễn?). Rõ ràng đó là chi tiết phi lịch sử. Suốt đời Lê Thành Phương chưa hề làm quan (chỉ đỗ tú tài, ở nhà dạy học) và lúc khởi nghĩa Cần vương (sau 5-7-1885), chắc chắn ông không có điều kiện kịp thời để mặc quan phục võ tướng. Mặt khác, các sĩ phu lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa Cần vương chỉ chỉ huy hương binh và cung cách ăn mặc cũng theo cách của các nghĩa sĩ, nghĩa là không mặc quan phục võ tướng như thế.

(4) Lê Thành Phương không được sách sử trong Nam ngoài Bắc từ trước đến nay đề cập đến, mặc dù đều có viết về phong trào Cần vương ở Phú, Khánh, Thuận. Thậm chí, A. Laborde còn cho rằng phong trào Cần vương ở Phú Yên (1885-1887) là do người Bình Định thúc đẩy, cụ thể là Mai Xuân Thưởng (1860-1887) (bài “Tỉnh Phú Yên”, trong “Những người bạn cố đô Huế” [B.A.V.H.], tập XVI, năm 1929, Nguyễn Cửu Sà dịch, Lưu Nguyễn, Nhị Xuyên hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 2003, tr. 389-391 [tr. 382-454]). Đền thờ Lê Thành Phương mới được dựng từ 1956, tu bổ vào năm 1971. Xin đánh dấu hỏi khoa học ở điểm này.

(5) Quần đảo Tahiti, thuộc Pháp, trên Thái Bình Dương, gần châu Mỹ.

(6) Hiện nay, thực hiện yêu cầu khoa học cần thiết là chú giải vào “nguyên bản” lưu hành. Gọi là “nguyên bản” nhưng thực ra bản gốc “Hịch Chiêu quân” không còn.

(7) Khổ thơ này, tôi viết thêm sau khi từ Phú Yên về (29 – 30-9 HB10), để sát hợp với thông tin – tư liệu hơn. Xem lại bị chú của chú thích 3.

 



____________________________________________________
 
Cập nhật bổ sung (ngày 05-10 HB10 [2010]):
 
 
 



Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 101, 9+10-2010 – mục lục

Xin lưu ý trang này:



T.chí Huế Xưa và Nay, số 101, 9+10-2010 – 2 tr. cuối b. khảo cứu

 


________________________________________________

 

Ảnh lớn hơn

Các nhà văn, nhà thơ Đoàn Thạch Biền, Trần Xuân An, Trần Hữu Dũng, Ngô Liêm Khoan, trại viên Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM. tại Phú Yên, và một phóng viên, từ 18 đến 28-9 HB10 (2010) —- Nhiếp ảnh: Nguyễn Nhân (photo . net)

Ảnh lớn hơn

8 nhà thơ, nhà văn dự trại Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM. tại Phú Yên, 18 — 28-9 HB10 (Thu Trân, Trần Xuân An, Đỗ Viết Nghiệm – trại trưởng -, Đặng Hồng Quang, Phố Giang, Nguyễn Bính Hồng Cầu, Quang Chuyền, Trần Hữu Dũng), nhạc sĩ Ngọc Quang (chủ tịch HVNNT.PY.), nhà thơ Phan Hoàng (UV.BCH.HNV.TP.HCM.). Ảnh được chụp lúc đến thăm Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Phú Yên —- Nhiếp ảnh: anh Bình (tài xế Cty Sao Việt)

Xem thêm: Các bản tin của báo chí (links) về Trại sáng tác HNV.TP.HCM. tại Phú Yên.

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

Cập nhật: 03-10 HB10 (2010)
Đã đăng trọn vẹn:

Bài 1

Trần Xuân An

HÌNH DUNG KHI ĐẾN PHÚ YÊN

xe với sao mai cùng lúc tới
Phú Yên, nhụy sáng, xinh Tuy Hòa
mình, con đom đóm nhiều năm trước
gùi trăng Chiau Mạa, có lần qua

đèn đuốc thuở nào hiu hắt lắm
sáng nhau, nguồn sáng là trăng trời
sớm nay còn xám, thơ bừng thắp
tâm kết mỗi từ, trăm ngọc tươi

đâu phải Tản Đà thơ quán gió:
đa tình con mắt Phú Yên xưa
duyên hơn lửa, nắng, trăng và điện
tim ngời, sao liếc, nghe đong đưa!

lòng hòa, nốt nhạc vin dây vút
đất giàu thương mến, rất bình an (*)
ngày đầu khẽ lắng chuông trong ngực
đom đóm – ngọc trai – sao biếc ngân.

TXA.
Lúc 17giờ, 12-9 HB10 (2010)
& lúc 12 giờ, 17-9 HB10 tại TP.HCM.

(*) Phần nào theo nghĩa chữ Hán của hai địa danh Tuy Hòa, Phú Yên.

Bài này được viết
sau khi nhận được thông báo sẽ đi dự trại sáng tác Phú Yên
từ 18 đến 28-9 HB10 (2010)
& có sửa ít chữ sau cuộc họp nhóm nhà văn, nhà thơ dự trại ở cơ quan HNV.TP.HCM.

Bài 2
(xem ở bên trên)

Bài 3

Trần Xuân An

GÀNH ĐÁ ĐĨA

thơ tiên đĩa gốm huyền vàng?
kìa em, hoành tráng đã ngàn năm đây

chồng chồng đĩa nhạc say say
ngắm cao lớp lớp ảnh đầy đĩa ghi?

núi trào cảm xúc, lạ chi
tận nơi, mắt mới ngợp kì công ai

ta xây thêm nhé, tháp đài
đĩa ngời biển chữ vun hoài tượng em.

TXA.
7:10, 14 – 9 HB10
tại TP.HCM.

Bài 4

Trần Xuân An

BÀI TOÁN ĐỐ VỀ TRUNG THU

mỗi tháng một lần tròn đầy
mỗi năm một lần sáng nhất
nếu chia đều trên trái đất
mỗi người đẹp mấy đêm ngày?

bài toán đố rất thơ ngây
mãi mãi loài người nát óc
trăng bạc phai dần mái tóc
vẫn trăng nhắc nhở giữa trời

nhưng đó là trăng xa xôi!
trăng đời: chén cơm đều trắng
trăng đời: bóng đèn đều rạng
cho dù sáng – mờ, đầy – vơi

sáng và tròn trên cõi đời
lại là vượt lên hiện có
mỗi người, mấy thời vượt khó?
lời giải là ở mình thôi!

TXA.
6g – 6g45’, 20.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

Bài 5

Trần Xuân An

CUỘC KHỞI BINH NÂU SỒNG 1898

tam quan, bình phong nứt
khu bảo tháp gió lùa
chùa cổ đồi Đá Trắng
còn chăng dăm nét xưa?

am nghĩa binh Võ Trứ
vọng hoài vó ngựa khua
gạch vôi sao quá mới
dưới gốc thu trăm mùa

tìm đâu thư tịch cũ
qua lửa bão đạn mưa
kí ức rêu bụi phủ
chuyện sử đành phai thưa

rộng cửa thiền xưa đón
giúp vua lẫn không vua
duy một điều: yêu nước
là chung tấm lòng chùa

tượng bồ tát từng lấp
chuông đồng đau vết cưa
Phật nguyên nụ cười Việt
lung linh bóng nắng trưa.

TXA.
13- 16:40, 23.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM.

Bài 6

Trần Xuân An

TÙY BÚT Ở PHÚ YÊN

Đà Diễn xưa, có một nguồn Thạch Hãn (*)
Quảng Trị ơi, vào đây tự bao giờ?
thời mở cõi dẫu khuyết hao lịch sử
nhưng địa chí kia nào phải mơ hồ

chiều Sông Hinh, mưa mịt mờ
nghe một thoáng đăm chiêu áy náy
quán cà phê sớm mai, nhã nhạc dăm đời xa ngái
ca từ mỗi thời mỗi khác rồi chăng?

một nguồn Đà Rằng: mấy đời tiên tổ đã dừng chân
ở Quảng Trị của cõi miền Thuận – Quảng?
chỉ mang vào Phú Yên tên sông Thạch Hãn
vẫn giữ gốc xa xưa: Thanh Hóa, Nghệ An?

nghe cây lá gật gù, nắng bớt phân vân
và chiếc xe băng qua ban trưa ngẫu hứng
ngỡ xoay quanh núi Đá Bia sừng sững
tôi tình cờ tìm thêm một góc nhìn riêng

Đá Bia: Phượng hoàng dợm cánh bay lên!
bay lên tầm nhìn Tây Sơn – Gia Long nhất thống
bay lên tầm nhìn Vũng Rô thâm sâu lặng sóng
bay lên tầm nhìn biển bờ Mũi Điện – Trường Sa

Tháp Nhạn như cây xương rồng nâu non không già
từ Đa Đảo sóng giạt vào, mấy trăm năm còn lại
đôi mắt Phật, đôi mắt Shiva
trông ra Biển Đông thức mãi
bóng áo lam
như bay lên
trong lời khấn nguyện cuối chiều tà

đón chuyến xe về là trăng sáng giữa xanh xa
một trung thu trên Đồi Thơm, thơm ngát
giữa những ước mơ, có ước mơ:
không sai lạc
trên trang sách tuổi thơ.

TXA.
Chiều 22.9 HB10 (16.8 Canh Dần), lúc 15:00 – 17:12
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

(*) Đà Diễn: sông Đà Rằng ngày nay. Trong các nguồn, các nhánh sông Đà Rằng, có một dòng mang tên Thạch Hãn (theo Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 3, Bản dịch Viện Sử học (người dịch: Phạm Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh), Nxb. Thuận Hóa, 1992, phần viết về Phú Yên, tr. 72).

Bài 7

Trần Xuân An

TỪ SÔNG CẦU,
NGẮM PHÚ YÊN NHƯ TRANH SƠN THỦY

1
ai trên gành cát Phú Yên
quê xa, ai cũng trên triền cát xa?
– biển trời soi chiếu bóng ta
lên mây xuống cát cho xa thành gần
cũng dương liễu rất quen thân
cát muôn đời vẫn trắng ngần Miền Trung

nhưng dạt dào sóng Cửa Tùng
thiết tha Mỹ Thủy, trầm hùng Việt Yên! (1)
biển Xuân Đài lại rất thiền
Vịnh Hòa, Xuân Hải nếp phiền phẳng phiu
vuông Ô, lồng Lấm hiu hiu
nuôi bao nguồn sống dưới trìu mến xanh

2
giấc trưa Bến Ghé ngọt lành
vương chiều Gành Đỏ nhớ quanh quất nào
mướn Xiêm khẩn đất, tiễn chào (2)
đưa miền Thuận – Quảng gắn vào Phú Yên
Thành Hồ, xe chỉ lướt nghiêng
nghe An Thổ vọng tiên hiền: thần Lương (2)

3
khi không chín nhớ mười thương
bạc rồi một nhớ quê hương trong mình!
trội hơn thi sĩ đa tình
hai đèo – guốc võng, trùng trình: Phú Yên
đẹp xinh sơn thủy nên tiên
chút đa tình để chiêu hiền, thuở xưa ?

Phú Yên: mười ngón xòe thưa –
núi non – múc cát, thêu thùa Biển Đông
chỉ tay nối lại bao sông?
xe mình đi cũng trong lòng tay thiêng
bạc tình quê, bạc tình riêng
Sông Cầu một sáng còn miên man chiều…

TXA.
6:30 – 11:03, 25.9 HB10 (2010)
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn Hội Nhà văn TP.HCM. –

(1) Cửa Tùng, Mỹ Thủy, Việt Yên (Cửa Việt) ở Quảng Trị.

(2) Theo Quốc sử quán Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện”, tiền biên (tập 1), bản dịch VSH., Nxb.Thuận Hóa, 1993, tr. 89.

Bài 8

Trần Xuân An

Ở GÀNH ĐÁ, HUẾ BỖNG DƯNG TUY HÒA

cách đây ngàn năm xa
hình như lũ phù sa
tràn về gần lút núi
hay từng năm, dần dà
núi thành cụm đá gửi
trên cánh đồng Tuy Hòa

bao mùa vàng rộng ra
sóng lúa thay sóng biển
vỗ Gành Đá thơ ca
sông Ba cùng cất tiếng
trầm đục và ngân nga
trên bao la Tuy Hòa

tóc em là sông Ba
tay em, mùa vàng đó
ôm anh trong tình ca
cho Gành Đá anh thở
đừng bắt anh khuyụ đổ
trên mênh mông Tuy Hòa

tình ta ngàn năm qua
bao vun bồi, không đếm
bao lần chung môi nếm
sao ào ạt, khi xa
một mình, không chăn đệm
Huế bỗng dưng Tuy Hòa!

TXA.
14:30 – 16:19, 26.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

Bài 9

Trần Xuân An

TIỀN CHIẾN VÀ ĐỒNG CAM

rất nhiều nơi hẳn bình thường
ở nước mình sao thấy lạ
nỗi chiến tranh còn vật vã
phu phen nô lệ được thờ!

giặc Pháp thương chi đồng khô
sợ đói khiến dân nổi dậy
chúng mong thóc đầy hạt mẩy
tàu viễn chinh há họng to

nhưng ta thương bao nhà thơ
phần nào văn nô thuở đó
ép lệ tình duyên òa đổ
cũng như dòng kênh Đồng Cam!

thắp hương, cháy nỗi đau thầm
chết đập khác gì chết giấy
Tiền Chiến là Đồng Cam đấy
chừng nay tim ấm lòng no

chiến tranh đau đến bao giờ?
cách nào niềm đau chóng dứt?
người thắng khơi trong – vớt mục
lạ, nhưng bỡ ngỡ gì đâu!

TXA.
6:00 -9: 27, 9 HB10 (2010)
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV. TP.HCM. –

Đã đăng 09 bài ở Tcđttl. TranNhuongCom

Cũng có thể xem tại điểm mạng chính của TXA.

Đã đăng 02 bài ở Tcđttl. PhongDiepNet

Bài 10

Trần Xuân An

TRONG ÂM HƯỞNG SỬ PHÚ YÊN,
NHỚ TÊN TRƯỜNG CŨ TRẦN CAO VÂN Ở TAM KỲ
(thêm một bài bổ sung vào chùm thơ về Phú Yên – 10-10-10)

quân sư của Võ – truyền đơn đỏ (1)
dù cũi Phú, Bình, ngục Quảng Nam
Côn Đảo, lưu đày, lòng chẳng khác
chí ngời khởi nghĩa lắng sen Tâm (2)

học đón Duy Tân như Trị – Tĩnh (3)
đầu rơi, Cống Chém ngập hờn căm (4)
ai người Mai – Hãn tìm xương lấp
cải táng trong đêm Huế tối tăm? (5)

nhà sư mãi sáng Trung Thiên dịch
Trời với Đất thân, Người xứng tầm (6)
mấy thuở đuổi thù, bao thuở kính:
chuông chùa Đá Trắng vọng ngàn năm (7)

mừng hết lạm mù trong đáy mắt
bói trong thư ấy (8), vướng mê lầm
mõ vang khẽ thức hồn yêu nước
sử học là chuông, không quẻ xăm!

dịch biến tùy thời, mong chính trực
đâu ai tạ sự, nổ hay ngầm
Mai Xuân, án kết (9), nào sư Trứ
tuyệt mệnh thơ Người, mãi hát ngâm (10).

TXA.
10-10-10 (HB10 – 2010)

(1) Theo A. Laborde, “Tỉnh Phú Yên” (BAVH., 1929): Võ Trứ (1855? – 1900?) dán và rải truyền đơn màu đỏ với nội dung Cần vương (cũng có thể hiểu là nhân danh vua Thành Thái?).

(2) Hồ Tịnh Tâm (Huế), 1916, nơi Trần Cao Vân (1866-1916) và Thái Phiên tìm gặp vua Duy Tân.

(3) Các căn cứ của triều đình kháng chiến (1885-1888): Tân Sở (Quảng Trị), Hương Khê (Hà Tĩnh) và còn dự kiến một sơn phòng ở Thanh Hóa.

(4) Cống Chém (An Hòa, Huế).

(5) Theo vài tài liệu, bà Trương Thị Dương, người Quảng Trị — xứ non Mai sông Hãn –, đồng chí của Trần Cao Vân, đã âm thầm cải táng di cốt ông cùng Thái Phiên vào năm 1925.

(6) Tác phẩm lập thuyết của Trần Cao Vân, chỉ mới phổ biến trực tiếp bằng trò chuyện và bằng bài thơ “Vịnh Tam tài”: Thiên (tả, thượng) – Nhân (trung) – Địa (hữu, hạ), cũng cùng ý tưởng thể hiện trong bài thơ tuyệt mệnh: “Đứng giữa Trời – Đất, không dựa vào Thượng đế”, đề cao vai trò chủ thể của Con Người.

(7) Chùa Đá Trắng (Từ Quang) ở Tuy An, Phú Yên.

(8) Các loại thư từ thuộc lĩnh vực bói toán, địa lí phong thủy… Ngoài ra, còn có các văn thơ thư từ liên lạc tại Phú Yên, kí tên Chánh Minh, Chơn Diện (xem: Tô Đình Cơ, “Thân thế và sự nghiệp Trần Cao Vân (1866-1916)”, Sở VHTT. Bình Định, 1995, tr. 27). Riêng bức thư gửi vua Duy Tân, theo tác giả Trần Trúc Tâm, “Chí sĩ Trần Cao Vân (1886-1916)”, Nxb. Đà Nẵng, 1999, tr. 53-54: “Thư dài nhưng tựu trung mang 3 ý ‘Tha Mỹ quốc… chung nhược’; ‘Thiên khải… chi quyền’; ‘Phụ hoàng đế… kiến quật’…” và tất nhiên, còn có ý kiến nghị vua đứng đầu cuộc khởi nghĩa, như nhiều sách đã chép lại và diễn ý, ngoài ra không có gì khác.

(9) Bản án ngụy triều Đồng Khánh và thực dân Pháp về Mai Xuân Thưởng: “Dương vị Hàm Nghi khởi nghĩa, âm vị ngụy Nhạc phục thù” (Mặt phải, vì Hàm Nghi mà khởi nghĩa; mặt trái, vì ngụy Nhạc [Tây Sơn] mà phục thù). Bản án về Võ Trứ (1898? / 1900?) hẳn không phải vậy.

(10) TXA. mới viết thêm hai đoạn cuối (2 khổ thơ thứ 4, thứ 5), theo tinh thần bài viết về cụ Trần Cao Vân trong một đặc san từ 1974 (1995, đăng lại trong kỉ yếu Trường THPT. Trần Cao Vân, Tam Kỳ), đồng thời theo yêu cầu của nhiều người đọc, và cũng để công bằng hơn trong nhận định, tuy là nhận định bằng thi ca.

Đã đăng ở PhongDiepNet & TranNhuongCom – 11-10 HB10

http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=11275
http://trannhuong.com/… NHỚ-TÊN-TRƯỜNG-CŨ-TRẦN-CAO-VÂN-Ở-TAM-KỲ

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , | 11 Comments »