Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Posts Tagged ‘ly lich’

27-7 (2019) Dăm câu thơ trích, thơ rời. VÀ TÀI LIỆU VỀ TRUNG QUỐC

Posted by Trần Xuân An trên 27.07.2019

hidden hit counter

 
.
Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau
bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó

(thơ Trần Xuân An, 08-05-2019 HB19)

.
https://txawriter.files.wordpress.com/2019/07/66fc1fe8-4081-42d3-b8ab-f679b8541e12.jpeg
.

Lí lịch nhân vật

người phơi thân phận dưới trời
cầu Ý Hệ cứu độ người hai bên.

T.X.A.
26-07-2019 HB19

.
https://txawriter.files.wordpress.com/2019/07/e4a0e869-42dc-429c-b079-713bdce58f18.jpeg
.

27-7

hai Đàng, Gianh tế chung đèn
sao Bến Hải đỏ trống kèn một bên?

T.X.A.
27-07-2019 HB19

……………….

Tài liệu lịch sử do anh Tôn Thất Thọ sưu tầm: Bích chương thời Việt Nam cộng hoà (và cả trước đó, thời Quốc gia Việt Nam).
Ngoài bích chương, khẩu hiệu vách tường, thời Việt Nam cộng hoà ngày nào Đài Tự do cũng hô hào chống Nga Xô, Trung Cộng (“quan thầy Nga Sô, Trung Cọng”)!
Đó là quốc sách chiến lược của chế độ cũ.
NƯỚC TA BỊ KẸT GIỮA HAI KHỐI XÂM LƯỢC (1945-1975): nội chiến trong Chiến tranh Lạnh giữa hai Khối.

null
.
………………

Tư liệu tham khảo:
MAO TRẠCH ĐÔNG GIÚP VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

Bài viết của TRƯƠNG NHUNG (CHANG JUNG) VÀ JON HALLDAY
(VHNA. đăng vào ngày Thứ hai, 27 Tháng 6 2016 16:48)

http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/mao-trach-dong-giup-viet-nam-nhu-the-nao
.
Ngay ở châu Á, chỗ nào Mao Trạch Đông cũng gặp trở ngại. Thảm hại nhất là vụ “để mất” Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN).

Năm 1950, Stalin đã giao cho Mao «quản lý» ĐCSVN. Nhiều năm qua, Mao xuất tiền, xuất người giúp ĐCSVN đánh Pháp, rồi đánh Mỹ. Nhưng vì Mao coi ĐCSVN như quân cờ trên bàn cờ của mình nên người Việt Nam bất hòa với Mao.

Năm 1954, Mao bắt đầu xây dựng ngành công nghiệp quân sự, cần mua nhiều vật tư cấm vận của phương Tây. Ông muốn dùng Pháp làm đột phá khẩu phá thế cấm vận. Hồi ấy Pháp đang đánh nhau với Việt Nam. Kế hoạch của Mao là bảo ĐCSVN mở rộng chiến tranh «nhằm tăng thêm khó khăn bên trong nước Pháp» (lời Chu Ân Lai), khi nào Pháp sứt đầu mẻ trán thì Trung Quốc đứng ra giúp Pháp thương lượng với Việt Nam, qua đó đổi lấy sự thông cảm của Pháp trên vấn đề xuất khẩu vật tư chiến lược cho Trung Quốc.

Tháng 4/1954, hội nghị Geneva giải quyết vấn đề Việt Nam và Triều Tiên bắt đầu họp, Chu Ân Lai dẫn đầu phái đoàn Trung Quốc đến dự. Hơn một tháng trước đó, Mao đã quyết định phải đạt được hiệp định đình chiến tại Việt Nam, nhưng ông không cho ĐCSVN biết chuyện đó mà lại tạo ra cho lãnh đạo ĐCSVN ấn tượng là Mao ủng hộ Việt Nam tiếp tục chiến đấu.

Hồi ấy ĐCSVN có lực lượng mạnh ở miền Nam Việt Nam, còn ở miền Bắc, họ đang tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 4/4, Mao chỉ thị Vi Quốc Thanh (Tổng Cố vấn quân sự Trung Quốc bên cạnh ĐCSVN) chuyển lời đến lãnh đạo Việt Nam: «Tranh thủ kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ trước mùa mưa (đầu tháng 5), lợi dụng mùa mưa để nghỉ ngơi, bổ sung lực lượng. Tháng 8 hoặc tháng 9 bắt đầu tấn công Luang Prabang và Vientiane, giải phóng hai thành phố này». Luang Prabang và Vientiane là hai kinh đô của nước Lào. Mao yêu cầu ĐCSVN «Tích cực chuẩn bị mùa đông năm nay hoặc chậm nhất là đầu năm sau bắt đầu tấn công vùng Hà Nội và Hải Phòng, tranh thủ năm 1955 giải phóng đồng bằng Bắc Bộ».

(Mao tham dự chỉ huy cuộc chiến tranh của ĐCSVN. Khi bắt đầu chiến tranh Triều Tiên, Mao thu hẹp quy mô chiến tranh Việt Nam. Tháng 5/1953, Mao quyết định đình chiến ở Triều Tiên rồi phái nhiều cán bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc từ Triều Tiên sang thẳng Việt Nam. Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Chính là Vi Quốc Thanh tự tay giao cho Hồ Chí Minh bản «Kế hoạch Nava» tuyệt mật bố trí chiến lược của Pháp. Bản kế hoạch mang tên viên tướng Pháp Henri Navarre này do Trung Quốc lấy được từ Pháp. Chính là căn cứ vào tình báo đó [Việt Nam] mới quyết định đánh trận quyết chiến Điện Biên Phủ. Tháng 5/1954, được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Quốc và được cố vấn Trung Quốc giúp đỡ, trận quyết chiến này đã giành toàn thắng).

Ngày 7/5/1954, Việt Nam chiếm được Điện Biên Phủ. Ngày 17/6 chính phủ Pháp đổ. Đã đến thời điểm giao thiệp với nhau. Ngày 23/6, Chu Ân Lai gặp tân Thủ tướng Pháp Pierre Mendès France tại Thụy Sĩ, cùng nhau bàn phương án đình chiến.

Chu Ân Lai yêu cầu Việt Nam tiếp thu phương án này. Các nhà lãnh đạo ĐCSVN không muốn ký [hiệp định đình chiến]. Sau này Lê Duẩn nhớ lại: Chu Ân Lai tỏ ý ‘Nếu Việt Nam còn muốn đánh tiếp thì đành phải tự dựa vào sức mình thôi, ông ấy sẽ không giúp nữa, ông ấy ép chúng ta ngừng chiến’. Không có Trung Quốc thì Việt Nam không thể tiếp tục tiến hành chiến tranh. Hồ Chí Minh yêu cầu người chủ trì đàm phán là Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký [hiệp định đình chiến]. Phạm Văn Đồng ứa nước mắt ký. Lê Duẩn được trao nhiệm vụ thông báo tin tức này cho bộ đội Việt Nam ở miền Nam: «Tôi ngồi xe bò đi vào miền Nam. Dọc đường đồng bào đến hoan nghênh tôi, họ đều nghĩ rằng chúng ta đã thắng lớn. Thật là vô cùng đau khổ».

Từ đó ĐCSVN bắt đầu không tin Đảng CSTQ. Còn Pháp thì bắt đầu nới rộng sự cấm vận với Trung Quốc.

Có thể nói trong nhiều năm qua Trung Quốc là nước duy nhất giúp Bắc Việt Nam. Đầu năm 1965, tân lãnh đạo Liên Xô Brezhnev bắt đầu viện trợ mạnh cho Việt Nam, cung cấp những vũ khí hạng nặng cần thiết nhất để bắn máy bay Mỹ như pháo cao xạ, tên lửa đất đối không. Mao sợ Liên Xô sẽ thay thế địa vị người bảo hộ ĐCSVN của Mao. Ông khuyên Liên Xô chớ nên «quản» chuyện Việt Nam. Mao nói với Thủ tướng Liên Xô Kosygin: «Nhân dân Bắc Việt Nam không có sự viện trợ của Liên Xô cũng có thể tiến hành tốt cuộc chiến đấu… Họ có thể dựa vào sức mình đánh đuổi người Mỹ». Mao còn nói: «Người Việt Nam có thể tự lo cho họ, Mỹ ném bom không làm chết nhiều người, vả lại chết một số người cũng chẳng có gì ghê gớm cả». Nhà lãnh đạo ĐCSTQ đề nghị Liên Xô «Đối phó với đế quốc Mỹ ở phương Tây và các nơi khác».

Mao cũng ra sức khuyên ĐCSVN từ chối viện trợ của Liên Xô. Chu Ân Lai từng bảo Phạm Văn Đồng: «Không có viện trợ của Liên Xô càng tốt, tôi không tán thành Liên Xô cử nhân viên tình nguyện sang Việt Nam, cũng không tán thành Liên Xô viện trợ Việt Nam». Thậm chí Chu Ân Lai còn bảo Hồ Chí Minh: Liên Xô viện trợ Việt Nam nhằm mục đích «cải thiện quan hệ Xô-Mỹ». Cho dù Chu Ân Lai giỏi uốn ba tấc lưỡi thì kiểu logic ấy thực là thiếu sức thuyết phục.

Mao không còn cách nào ngăn ĐCSVN nhận viện trợ Liên Xô, lại càng không thể kéo ĐCSVN cắt quan hệ với Liên Xô. Mao muốn thông qua Hồ Chí Minh thân Trung Quốc để nắm ĐCSVN. Nhưng trong ban lãnh đạo Việt Nam, Hồ không phải là người nói làm là làm được. Hồ Chí Minh thường xuyên ở Trung Quốc, từng ngỏ ý nhờ phía Trung Quốc tìm cho mình một bà vợ người Trung Quốc. Phía Trung Quốc cũng đã kiếm được cho Hồ một bà. Nhưng ĐCSVN phủ quyết cuộc hôn nhân này, nói nhà lãnh đạo của họ ở tình trạng độc thân thì có lợi hơn cho sự nghiệp cách mạng. Muốn duy trì ảnh hưởng của mình đối với ĐCSVN, Mao chỉ còn cách duy nhất là cho họ nhiều tiền, nhiều hàng, cho nhiều lính sang giúp Việt Nam.

(Từ 1965 đến 1968, Trung Quốc đã cử sang Việt Nam hơn 320 nghìn quân, gồm hơn 150 nghìn lính bộ đội cao xạ, có đơn vị đến năm 1975 mới về nước. Nhờ có số quân Trung Quốc này, Bắc Việt Nam mới có thể dành ra lực lượng quân đội vào miền Nam chiến đấu. Có đơn vị bộ đội Việt Nam còn có cố vấn Trung Quốc đi kèm).

Dù thế, ĐCSVN cũng không chịu lép vế. Ngày 3/4/1968, dù chưa được Mao Trạch Đông đồng ý, Việt Nam ra tuyên bố nói bắt đầu đàm phán với Mỹ. Chu Ân Lai trách Việt Nam: «Nhiều người không hiểu vì sao các đồng chí phải vội vã ra bản tuyên bố ấy… đây là quan điểm của nhân dân thế giới». Chu Ân Lai lại còn gán cho ĐCSVN cái tội làm cho thủ lĩnh người da màu Mỹ Martin Luther King bị ám sát chết. Chu nói: «Nếu bản tuyên bố của các đồng chí ra muộn một hai ngày thì căn bản không thể xảy ra vụ ám sát ấy».

Mao muốn thọc tay vào quá trình đàm phán [Việt Nam-Mỹ]. Chu Ân Lai nói với ĐCSVN rằng Trung Quốc có kinh nghiệm đàm phán hơn Việt Nam. ĐCSVN phớt lờ Chu. Mao trả thù bằng cách bảo Chu từ chối tiếp phái đoàn Đảng và Chính phủ Việt Nam sang xin viện trợ, với lý do nhà lãnh đạo Trung Quốc «bận việc trong nước». Nhưng cuối cùng Mao vẫn không thể không tiếp tục rải tiền cho Việt Nam. Muốn làm lãnh tụ thế giới, Mao không thể không đứng đằng sau Việt Nam đang đánh Mỹ.

ĐCSVN chẳng những không nghe Mao mà còn phát triển phạm vi thế lực của mình ngay trước mắt Mao. Cho dù Trung Quốc viện trợ mạnh cho đảng cộng sản Lào, nhưng người Lào vẫn theo Việt Nam. Tháng 9/1968, nhà lãnh đạo Lào mấy lần khéo léo mời vị tổ trưởng Tổ Liên lạc của Trung Quốc «về nước nghỉ ngơi». Cuối cùng phía Trung Quốc đành phải rút tổ này về. Lào cũng như ĐCSVN càng ngày càng gần gũi với Moskva.

Cho đến cuối thập niên 60, lãnh tụ «chống Mỹ» của thế giới vẫn là Liên Xô chứ không phải là Mao Trạch Đông. Trong mọi cuộc hội nghị lớn nhỏ, các quan chức Trung Quốc đều không ngừng lên án Liên Xô giúp đỡ bọn đế quốc. Người nghe thường không chịu nổi mà xấu hổ cho Trung Quốc. Đã nhiều lần có người đứng lên đòi Trung Quốc im mồm. Chính phủ Mỹ rút ra kết luận: Chủ nghĩa Mao-ít không còn gây ra mối đe dọa ở các nước đang phát triển. Mao biết rõ thất bại của mình. Năm 1969, Mao nói với Tổ Cách mạng văn hóa Trung ương: «Bây giờ chúng ta bị cô lập rồi, chẳng ai để ý đến chúng ta nữa». Mao cho rằng các nhóm «Mao-ít» kia thực ra là vô dụng, ông cắt giảm khoản viện trợ cho họ.

Ngày 18/3/1970, Campuchia xảy ra đảo chính. Hoàng thân Sihanouk bị lật đổ. Tin chắc đảo chính là do CIA gây ra, Sihanouk quyết tâm chiến đấu chống Mỹ tới cùng. Ngày thứ hai sau đảo chính, Sihanouk từ Liên Xô đến Trung Quốc. Mao mời ông ở lại. Từ đó cuộc chiến tranh Việt Nam trở thành cuộc chiến chống Mỹ của toàn Đông Dương. Lãnh tụ của một trong ba nước Đông Dương là Sihanouk nay sống lưu vong tại Trung Quốc, Mao mong rằng có thể dựa vào Sihanouk để tạo dựng cho Mao hình ảnh vị lãnh tụ chống Mỹ.

Sau khi Sihanouk ở lại Trung Quốc, Mao cấp cho ông ta 7 đầu bếp, 7 chuyên gia làm bánh ngọt, lại còn dùng máy bay chở gan ngỗng từ Paris về. Tại Trung Quốc, Sihanouk có đoàn tàu riêng, khi ra nước ngoài có hai máy bay riêng, một chiếc chở hành lý và quà tặng. Mao bảo Sihanouk: «Ngài cần gì cứ bảo chúng tôi. Chúng tôi có thể làm thêm chút việc cho ngài. Chẳng có gì ghê gớm đâu mà». Nói đến chuyện tiền nong, Sihanouk áy náy ngại làm tăng gánh nặng cho Trung Quốc, Mao bảo: «Tôi đề nghị ngài hãy tăng nữa lên phần chúng tôi cần gánh vác».

Nhà lãnh đạo Khơ-me Đỏ Pol Pot lúc đó đang bí mật ở Trung Quốc. Dưới sức ép của Trung Quốc, Pol Pot phải hợp tác với Sihanouk. Trong quá khứ Trung Quốc từng ủng hộ «Khơ-me Đỏ» lật Sihanouk. Hai năm trước, tháng 3/1968, Sihanouk công khai lên án Bắc Kinh «chơi trò bẩn thỉu», và nói «Khơ-me Đỏ là do Bắc Kinh nặn ra», «Mới cách đây hai ngày, chúng tôi thu được một lượng lớn vũ khí, đều là do Trung Quốc chở đến».

Bây giờ Sihanouk trở thành của quý của Mao. Mao lấy danh nghĩa Sihanouk tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ba nước Đông Dương. Hội nghị họp vào tháng 4 tại Quảng Châu. Ngày khai mạc, Trung Quốc phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên, như để ra oai với những người dự họp và với toàn thế giới. Vệ tinh bay vòng quanh trái đất và phát nhạc bài tụng ca Mao «Phương Đông hồng». Khi tiếp các công thần phóng vệ tinh, Mao mừng rỡ toét miệng nhắc đi nhắc lại câu: «Giỏi lắm! Giỏi lắm!».

Sau đó Mao ra bản tuyên bố «20 tháng 5» với giọng điệu của vị lãnh tụ cuộc đấu tranh chống Mỹ trên toàn cầu. Bản tuyên bố có tiêu đề «Nhân dân toàn thế giới đoàn kết lại đánh bại bọn xâm lược Mỹ và tất cả lũ chó săn của chúng!». Mao lên thành lầu Thiên An Môn, Sihanouk đứng cạnh. Lâm Bưu (ngày ấy còn đang có quyền thế) đọc bản tuyên bố nói trên trong cuộc mít tinh có nửa triệu người tham gia.

Lâm Bưu đang bệnh tật đầy người, để đọc được bản tuyên bố ấy, bác sĩ phải tiêm cho Lâm một liều thuốc kích thích. Trước khi đi lên Thiên An Môn, Sihanouk để ý thấy Lâm Bưu «xem ra hình như bốc đồng, không tự chủ được, ông ta thỉnh thoảng ngắt lời Mao rồi hoa chân múa tay, thao thao bất tuyệt cao giọng đọc bài diễn thuyết chống Mỹ».

Đến khi đọc bản tuyên bố, Lâm Bưu giọng run rảy chậm rãi nói: «Tôi muốn nói! – Tôi nói về Việt Nam – hai Việt Nam – một nửa Việt Nam – ». Cứ thế ông ta nói lung tung mấy câu chẳng đâu vào đâu rồi mới đọc tới phần chính bản tuyên bố. Nhưng rồi lại vẫn đọc nhầm «Palestin» thành «Pakistan».

Bản tuyên bố gọi đích danh Tổng thống Mỹ Richard Nixon ra để lên án. Nixon uống rượu say tức giận định ra lệnh điều tàu chiến Mỹ trả đũa. Nhưng ông ta nhanh chóng lấy lại bình tĩnh. Cố vấn An ninh quốc gia Kissinger nói với Nixon rằng Mao «Ngoài việc nói miệng ủng hộ Việt Nam ra, thực tế chẳng làm được chuyện gì». Thế là người Mỹ không có phản ứng với bản tuyên bố «20 tháng 5» của Mao.

Trong chiến tranh Đông Dương, người phương Tây chỉ coi trọng Việt Nam. Báo The Times (London) viết: Sihanouk «muốn trở lại sân khấu chính trị thì phải dựa vào Việt Nam». Kissinger mở miệng là nói tới «Dã tâm của Việt Nam đối với Campuchia».

Mao tức giận khi thấy phương Tây không coi ông ta ra gì. Ông chửi Kissinger là «Đồ trí thức thối thây», «Giáo sư đại học mà chẳng biết quái gì về ngoại giao».

Cuối cùng Mao Trạch Đông nghĩ ra một cách làm cho mình được cả thế giới chú ý [nguyên văn: xuất hiện dưới ánh đèn flash của cả thế giới]: «Câu» Tổng thống Mỹ đến Trung Quốc!

Nguyên Hải biên dịch
Nguồn: bosun. com

………

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2350884685185469/
.
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »

Nói chung về lí lịch của người viết văn chương, nghiên cứu & 2 bài khác về sử

Posted by Trần Xuân An trên 04.07.2019

hidden hit counter

 
.

CÂY TRƯỚC NHÀ
Trần Xuân An

phượng điệp, muồng điệp vàng
hay lim xẹt vàng chói?
lim sét màu sét han?
một cây nhiều tên gọi *

vướng dây điện giăng ngang
cây cong thành dấu hỏi
cây mới mười tuổi vội
cúi nhìn đường nhân gian

hỏi tên, cây không nói
hỏi tuổi, cây chẳng rằng
trả lời, cây không đợi
vô tri hay triết nhân?

người khác cây, cây hỡi
khai sinh, bia mộ phần
căn cước và gốc cội
đời ta chưa viết man

văn chương khác cây cối
độc đáo nhờ nhân thân
vẫn mình, luôn đổi mới
nhiều kiếp một nhà văn

lí lịch nhà văn rối
như nội chiến tức tưởi
càng gần gũi nhân dân
đau mọi ách ngoại bang

xin thưa, không tăm tối
dám bẩm, chưa rỡ ràng
tuổi ta, gấp sáu rưỡi
tên ta, Trần Xuân An

mười tuổi? Trăm rưỡi tuổi?
phượng điệp lim muồng vàng!
phận cây sao thay nổi!
người, nhìn không đóng băng.

T.X.A.
03-7-2019
…………

(*) Phượng điệp hoa vàng, muồng điệp hoa vàng, lim xẹt hoa vàng, lim sét hoa vàng — (tham khảo tên gọi loài cây này và ảnh minh hoạ: Wikipedia).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2333944773546127
.
https://txawriter.files.wordpress.com/2019/07/lim-xet_phuong-diep_muong-diep_wikipedia.jpg
.
.
https://txawriter.files.wordpress.com/2019/07/cay-truoc-nha.jpg
.
.
https://txawriter.files.wordpress.com/2019/07/txa-den-tho-phan-cong-hon_ba-diem-hoc-mon_28-6-2019.jpg
.
.
Thất thủ kinh đô Huế 1885…
VỀ XÃ BÀ ĐIỂM, KÍNH VIẾNG
Trần Xuân An

Tân Sở, sơn phòng, tính nhiều năm trước
Tết Ất Dậu, chưa thất thủ kinh đô
Phan Văn Hớn, cùng Hóc Môn, nổi lửa *
gươm súng Cần vương, đâu phải bất ngờ

quan thuộc địa không trả dân thành luỹ
(chỉ đất vua, sắp đặt với nghĩa binh)
phân tán Pháp, khi Pháp vây ép Huế
Pháp chùn tay, lúc ông chịu hành hình

Ngày Quảy Cơm Chung, năm nay ở Huế
vẫn những nén nhang hướng vào Hóc Môn
tưởng nhớ nghĩa binh – hồn thuần dân tộc
viếng Đền thờ Phan Công Hớn sắt son

không chảy ngược vào lòng, xuôi xuống đất
cùng khói hương, nước mắt tím mây bay
về trong mưa, dầm mưa như sóng mặn
cố đô trong Bà Điểm, Hóc Môn này.

T.X.A.
sáng 28 & 29-06-2019 HB19
…………..

(*) Phan Văn Hớn (Phan Công Hớn, 1830-1886) cùng nghĩa binh khởi nghĩa vào ngày 25 tháng chạp năm Giáp Thân (ngày 8 rạng ngày 9 tháng 2 năm 1885) tại Hóc Môn, Gia Định (nay thuộc TP.HCM.).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2331073443833260

Sử là môn động chạm đến mỗi thân phận người
QUỐC SỬ 1930-1975…
TRONG MỖI SƠ YẾU LÍ LỊCH
Trần Xuân An

niềm quốc sử, nỗi nước non
đọng trong lí lịch cháu con mấy đời
không ai thoát! cả mồ côi
những khoản trống khiến mắt soi nghi ngờ

thì nhìn quốc sử, làm thơ
nhà viết sử đến bao giờ thật đây?
lí lịch mấy triệu lính chay?
mỗi người dân viết, sử đầy núi sông

cờ vàng “bảo hộ” là gông
ách cờ đỏ cũng tạm tròng trên vai
lính chay lí lịch vắn dài
bảy bông vàng đỏ lam hoài sáng lên.

T.X.A.
05-07-2019
…………………

1930-1975…
Khi mỗi người dân Việt Nam viết sơ yếu lí lịch, kê khai hộ khẩu là đã đụng đến quốc sử 1930-1975-1991… Quốc sử hiện diện trong đó, khi điền vào các khoản về ông bà nội, ngoại; cha mẹ; chú, bác, cô; cậu, dì; anh, chị, em…

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2335122693428335/
.
Xem thêm (bấm vào dòng chữ link-hoá):
QUỐC SỬ & LÍ LỊCH MỖI CÔNG DÂN
https:// txawriter. wordpress. com/2019/06/17/quoc-su-li-lich-moi-cong-dan/

.
Đặc biệt, bài “Huế ba lần lẫn máu trộn xương”:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1995059427434665/
.
Bài 18
trong tập “Bón năm chữ thập đỏ”:
HUẾ BA LẦN LẪN MÁU TRỘN XƯƠNG
Trần Xuân An

Huế ba lần máu ướt đầm
vương cây ngập cỏ đỏ bầm sông Hương

xác quân Lê – Trịnh tràn đường
gươm Tây Sơn chém, dao thường dân vung (1)

uất căm, súng Nguyễn vang lừng
Dụ Tân Sở rõ bi hùng máu xương (2)

Mậu Thân, khói quyện vào hương
Bãi Dâu máu thấm mạch tuôn Đá Mài (3)

sông Gianh trào huyết nơi đây
xương Bến Hải cũng Huế này trắng trôi

nội xâm, ngoại xâm, rạch ròi
chỉ còn mộ Việt muôn đời trộn nhau

cải táng lầm, hoá bớt đau
xương Nam lẫn Bắc thơm sâu nhang thờ

giỗ chung những vạn cốt khô
nến Âm Hồn nhớ bốn bờ sông chia (4).

T.X.A.
trước 09:50, 25-01-2018 HB18
…………….

(1) 1786. Trích Đại Nam liệt truyện: “… [Nguyễn] Huệ đem quân vào thành [Phú Xuân], giết rất dữ. Quân miền Bắc [của họ Trịnh] ở trong thành vài vạn người đều [bị] giết hết cả. Người nào chạy ra ngoài thành, thì dân [Thuận Hoá] tranh nhau giết chết…”.
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1995092244098050
(2) 5-7-1885 (23-5-Ất Dậu 1885). Dụ Cần vương và Dụ Nguyễn Văn Tường, Dụ hoàng tộc. Chính thực dân Pháp đã thảm sát tại Huế sau khi kinh đô Huế bị thất thủ.
(3) Tết Mậu Thân 1968:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1995085977432010
Bổ sung tư liệu (01-02-2018): Bác Hồ nói “… Các chú giết nhiều quá…”: https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1998579570415984
(4) Đàn và Miếu Âm Hồn là hai điểm thờ và giỗ tưởng niệm ngày Thất thủ Kinh đô (1885), nhưng nên chăng phối thờ và hiệp kị, tưởng niệm thêm 1786 (thời giới tuyến sông Gianh) và 1968 (thời giới tuyến sông Bến Hải).

.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

QUỐC SỬ & LÍ LỊCH MỖI CÔNG DÂN

Posted by Trần Xuân An trên 17.06.2019

hidden hit counter

 
.
https://txawriter.files.wordpress.com/2019/06/2b7c3451-f2de-4215-886f-5e676e581a11.jpeg
.
Chùm thơ bốn bài về lí lịch,
nhân “Ngày của Người Cha”

NGÀY CỦA NGƯỜI CHA,
NGHĨ VỀ BÁC HỒ VÀ LÍ LỊCH
Trần Xuân An

thân sinh Bác cờ vàng
ách đời Bác cờ đỏ
dân tộc mình quá khổ
đau lí lịch Việt Nam.

T.X.A.
16-06-2019 HB19

LÍ LỊCH LÀ KHÔNG
TRONG THƠ BÁC HỒ
Trần Xuân An

giấu thương mẹ, nhớ cha
trong bao bài thơ Bác
hẳn có gì xót xa
nghìn sau nghẹn nước mắt.

T.X.A.
16-06-2029 HB19

ƠN CHA MẸ
Trần Xuân An

lí lịch vàng là nguỵ?
lí lịch đỏ: tay sai?
tự mình sinh số phận
chữ hiếu không nhạt phai.

T.X.A.
16-06-2019 HB19

. .

TỪ CHỮ “TRẮNG”
CỦA CỤ PHÓ BẢNG
Trần Xuân An

~~ “Tôi trắng như tuyết, theo pháp luật,
theo lương tâm của mình và luật lệ quốc tế…”.
(Thư Cụ Sắc, 20-04-1928) ~~

người Miền Nam, giao thời
gì cũng như dân trắng
thương Cụ xưa án riêng
Bảy Lăm, chung một án

theo pháp luật “bảo hộ”
có yêu nước cũng thầm
đời Cụ không cách mạng
nhưng trắng tuyết lương tâm

luật quốc tế thuở Cụ
ở thuộc địa cũng câm
thù Pháp, ra tị địa
vào thuộc địa, hẳn lầm

Nam Kỳ tuy Pháp chiếm
thiên nhiên thương lam làm?
thời hậu sinh, yêu nước
khác Cụ, thơ vang ngâm

yêu nước, lách theo đỏ
tâm trắng, dân trắng tay
như Cụ, mơ độc lập
thoát cờ ngoại cường nay

Cụ sinh, nuôi dạy Bác
thế Đỏ tái tạo Người
đỏ ngoại cường, khác Cụ
giống trắng là trong thôi

thắp tứ thơ vái Cụ
nhang Thống Nhất so le
khói nhớ thời Mở Cõi
dân trắng, trắng tái tê…

cờ vàng Pháp “bảo hộ”
đến đỏ lệ thuộc Nga
độc lập rồi, thưa Cụ
tuy còn quán tính xa!

trăm năm, quán tính xa!
hết rồi thời phiên thuộc
hẫng, nếu cởi ách ra!
nên Cụ còn đứt ruột!

trắng trong và trắng án
trắng bạch đinh, lưu dân
trắng hận thời vàng – đỏ
kính vái, Trống Đồng ngân.

T.X.A.
18-06-2019 HB19

Có thêm 4 câu (18-10-2019):
(…)
thù Pháp, ra tị địa
vào thuộc địa, hẳn lầm

Nam Kỳ tuy Pháp chiếm
thiên nhiên thương lam làm?
(…)
.
https://txawriter.files.wordpress.com/2019/06/de37ee32-3829-47ab-9c1f-4d863c426886.jpeg

……….

* Hai câu thơ trong ảnh, của chính tác giả, trích từ bài trên.
Liên tưởng đến Giả Đảo: “Nhị cú tam niên đắc / Nhất ngâm song lệ lưu” (Hai câu, ba năm đạt / Riêng ngâm, đôi lệ tuôn). T.X.A. mạn phép dich thành lục bát: hai câu, viết ba năm ròng / một mình ngâm ngợi, đôi dòng lệ tuôn.

& Đọc lại
Bài thứ hai mươi lăm tập XXI (tập Danh dự)
LÍ LỊCH & QUỐC SỬ
Trần Xuân An

tính ba đời, lí lịch nào cũng thế
dăm chấm đỏ xen lẫn dăm chấm vàng
hết mặc cảm dựa ngoại xâm hai Khối
khi quốc sử chống hai Khối xâm lăng

mỗi lí lịch đọng bi kịch đất nước
nhà chép sử lại thiên vị một bên
thuộc Khối nào cũng đứng về xâm lược
quốc sử bôi đen lí lịch nhọ đen.

T.X.A.
07:30-08:47, 04-10-2018

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2162831400657466

~~ o0O0o0O0o ~~

Số phận mỗi người bị chi phối, thậm chí bị định đoạt bởi thời thế và cách nhìn của người cầm quyền, thế lực thống trị, như chủ nghĩa lí lịch thiên vị, vì quyền lợi phe đảng, hẹp hòi, máy móc. Tuy vậy, người chân chính đúng nghĩa là người tự sinh ra số phận với chính kiến của mình, mà tinh thần dân tộc, lòng yêu nước là thước đo bề sâu của tính chất chân chính ấy.

T.X.A.
16-06-2019 HB19

~~ o0O0o0O0o ~~


3
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2321570614783543/
2
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2321177488156189/
1
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2321150684825536/
Chú thích:
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2321121878161750/
.
Sách tư liệu YBook, thể hiện quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước hiện hành (vui lòng đối chiếu, nếu thắc mắc):
https://thuviensachhochiminh.tphcm.gov.vn/documents/20181/29919/QueHuongVaGiaTheChuTichHoChiMinh.pdf/a0d5fcb5-6bce-4279-a1d1-510cdafc9eb6
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

LÍ LỊCH NGUYỄN ÁI QUỐC TỰ KHAI NĂM 1934

Posted by Trần Xuân An trên 30.10.2015

hidden hit counter

 
.
.
LÍ LỊCH NGUYỄN ÁI QUỐC TỰ KHAI NĂM 1934
— cảm nghĩ ngắn của Trần Xuân An —

BẢN KHAI LÍ LỊCH CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC VÀO NĂM 1934, NẾU RƠI VÀO TAY CÁC CÁN BỘ TỔ CHỨC, CÁN BỘ HỘ KHẨU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY, CHẮC CHẮN SẼ BỊ XẾP VÀO LOẠI “CÓ VẤN ĐỀ”, NHƯNG ĐỐI VỚI NGƯỜI VIẾT TIỂU THUYẾT (GIỚI CẦM BÚT NÓI CHUNG), ĐÓ LÀ MỘT PHÁC THẢO NHÂN VẬT RẤT HẤP DẪN, LI KÌ.

NGUYỄN ÁI QUỐC, THUỞ 1934, CÓ BỊ KHUYNH HƯỚNG THIÊN BẨM CỦA MỘT NGƯỜI MÊ ĐỌC TIỂU THUYẾT, THÍCH VIẾT TRUYỆN CHI PHỐI ĐẾN ĐỘ TỰ HƯ CẤU THEO KIỂU TIỂU THUYẾT HOÁ LÍ LỊCH BẢN THÂN KHÔNG?

ĐỐI VỚI NHÀ TIỂU THUYẾT, BẢN LÍ LỊCH NHƯ LÀ PHÁC THẢO NHÂN VẬT ẤY THÌ THẾ NÀO? NGƯỜI VIẾT TIỂU THUYẾT THẬM CHÍ CÒN BỊA RA, THÊM THẮT NHIỀU CHI TIẾT LI KÌ HƠN NỮA, ĐỂ HÌNH TƯỢNG PHONG PHÚ, PHỨC TẠP VÀ DO ĐÓ SINH ĐỘNG HƠN.

NHƯNG RẤT TIẾC, CHUYỆN NGƯỜI THẬT VIỆC THẬT THÌ KHÔNG THỂ BỊA THÊM VÀO ĐƯỢC. NẾU VIẾT TRUYỆN KÍ, YẾU TỐ HƯ CẤU VỚI TỈ LỆ PHẢI RẤT NHỎ, VÀ CHỈ ĐỂ LÀM SỰ THẬT ĐƯỢC NỔI RÕ HƠN THÔI, CHỨ KHÔNG THỂ BIẾN TRẮNG THÀNH ĐEN, ĐỔI ĐEN RA TRẮNG. NẾU VIẾT Ở THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT, HƯ CẤU CŨNG PHẢI CÓ NGUYÊN TẮC, ÍT RA CŨNG PHẢI ĐỔI TÊN HỌ, QUÊ QUÁN NHÂN VẬT.

NGUYỄN ÁI QUỐC (PAUL THÀNH) LÀ MỘT CON NGƯỜI CÓ THẬT, LẠI LÀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ LỚN, NÊN NGƯỜI VIẾT TIỂU THUYẾT CÀNG PHẢI NÓI LÀ RẤT TIẾC. VIẾT VỀ BÁC HỒ MÀ LỠ SAI MỘT CHÚT LÀ ĐỦ ĐỂ MANG HOẠ MẤY ĐỜI!

T.X.A.
30-10 HB15 (2015)

BÁC HỒ CÓ ĐI LÍNH PHÁP TRONG THẾ CHIẾN 1 (1914-1918),
THÔNG TIN MỚI ĐƯỢC CÔNG BỐ

Theo bài viết của Quốc Phong (bài “Về một quãng thời gian “trống” trong tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Xưa & Nay, số 464, tháng 10-2015, tr.4-8.): Nguyễn Tất Thành đi lính thay cho con trai của một người Pháp, Escoffier, trưởng bếp của một nhà hàng ở Anh, trong Chiến tranh Thế giới lần I (1914-1918). Hình như Nguyễn Tất Thành đào ngũ vào năm 1917, trốn tại Pháp. Sau đó, không biết do đâu, ông Paul Thành có sang Réunion gặp vua Thành Thái, 1918 (có thể bị bắt lính lại, và phải sang đó? không rõ!). Tiếp đến, Paul Thành sang Mỹ, làm bồi bàn trong một nhà hàng ăn uống (1918-1919), rồi lại về Pháp, làm thợ sửa ảnh (1919-1921).

Theo đó, Cách mạng tháng Mười Nga 1917 chỉ tác động đến Nguyễn Tất Thành vào thời điểm khoảng 1919-1920.

Cuộc đời của Bác Hồ cũng li kì thật!

Theo tôi, cho dù lí lịch thế nào đi nữa, Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh…) mãi mãi vĩ đại, vì ông ấy đã đánh đuổi được thực dân Pháp khỏi nước ta.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1634312903509321

Tìm thấy ở Google sau khi đọc bản đăng trên tạp chí in giấy:
“VỀ MỘT QUÃNG THỜI GIAN ‘TRỐNG’ TRONG TIỂU SỬ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH”
— TOÀN VĂN BÀI BÁO CỦA QUỐC PHONG, ĐĂNG Ở TẠP CHÍ XƯA & NAY, SỐ 464, THÁNG 10-2015:
http://chuyencuachi.blogspot.com/2015/10/ve-mot-quang-thoi-gian-trong-trong-tieu.html

Tác giả Quốc Phong viết: (trích) “Cũng liên quan đến khoảng thời gian này, có một tư liệu có giá trị và chứa đựng một thông tin rất quan trọng được Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm từ các cơ quan lưu trữ ở Nga (12-2006) và được công bố trong cuốn sách “Hồ Chí Minh với nước Nga”do Ban Tuyên giáo Trung ương cùng Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia tổ chức xuất bản năm 2013 (sách có lời giới thiệu của Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh). Đó là Bản khai lý lịch được lập theo lời củachính Nguyễn Ái Quốc khai ngày 16-9-1934 để đến tháng 10 năm đó được nhập học Trường Quốc tế Lênin. Với bí danh Linôp (Linof) có năm sinh là 1894, bản khai này đề cập tới nhiều chi tiết (xem ảnh 1&2) trong đó có một chi tiết đáng chú ý tại mục khai về công việc (nghề nghiệp) qua từng thời gian hoạt động : “Làm lính (tại) Pháp (vào thời gian) 1914-1918 (xem ảnh 3& 4)”.” (hết trích)

Như vậy, bản lí lịch này đã được sưu tầm từ 2006, công bố chính thức vào năm 2013, với lời giới thiệu của ông Đinh Thế Huynh (UV.BCT.).

Bài viết cũng kể lại lời tiết lộ của ông Vũ Kỳ (thư kí riêng, thân cận hằng ngày với Hồ Chí Minh): Ông Vũ Kỳ đã nghe Bác Hồ kể với Nguyễn Lương Bằng từ những năm cuối thập niên 60/XX; trước khi chết, ông Vũ Kỳ có triệu tập cán bộ Bảo tàng HCM. lại, để ghi âm lời chính Vũ Kỳ thuật lại việc đó (2004).

.

.
.

.
.

.
.

.
.

NHÂN BÀN CHUYỆN LÍ LỊCH BẢN THÂN TỰ KHAI CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC,
CHỢT NGHĨ VỀ CÁC CỤM TỪ THUỘC “CHỦ NGHĨA LÍ LỊCH”
Trần Xuân An

Trong những năm sau Ngày 30-4-1975, vấn đề lí lịch bản thân (không những chỉ bản thân mà cả ba đời nội ngoại!) bị đặt ra một cách nặng nề. Trong những tính chất nặng nề đó, có khía cạnh từ ngữ thể hiện quan điểm, lập trường. Đặc biệt, trong những năm tôi đi dạy học, có dịp nhìn thấy hay phải quản lí lí lịch của các học sinh thuộc các lớp học tôi có giảng dạy, chủ nhiệm, tôi thấy có nhiều học sinh dùng từ ngữ do cán bộ hộ khẩu địa phương yêu cầu, theo dạng nói trên. Ví dụ: lính Pháp, lính Mỹ (với nghĩa là lính ngụy nói chung) (*)… Thực chất, đó là cách nói tắt, viết rút gọn mang màu sắc cực tả (“cách mạng cực đoan”), từ các cụm từ “lính thời Pháp thuộc”, “lính thời Mỹ ‘can thiệp'”…

Nhân bàn về bản lí lịch tự khai (cán bộ Nga ghi) của Nguyễn Ái Quốc (chủ tịch Hồ Chí Minh) khi vào học Trường Quốc tế Lê-nin tại Nga, năm 1934, tôi đề nghị, nên sử dụng các cụm từ dưới đây, thay vì những cụm từ kể trên:

1) Giai đoạn trước 1945:
—- 1a) Tham gia tổ chức Cộng sản
—- 1b) Tham gia các chính đảng chống thực dân khác
—- 1c) Công chức hay lính thời thực dân – nửa phong kiến
2) Giai đoạn 1945-1954:
—- 2a) Công chức hay lính thời Việt Minh (1945-1952-1954)
—- 2b) Tham gia các chính đảng chống thực dân khác
—- 2b) Công chức hay lính thời Quốc gia Việt Nam (1949-1954-1955)
3) Giai đoạn 1954-1975:
—- 3a) Tham gia tổ chức Cộng sản
—- 3b) Tham gia các chính đảng khác tại Miền Nam
—- 3c) Công chức hay lính thời Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Miền Bắc (1954-1975)
—- 3d) Công chức hay lính thời Việt Nam cộng hòa tại Miền Nam (1954-1955-1975)

Dĩ nhiên, trong xã hội còn có nhiều thành phần khác nữa, nhưng ở đây, chỉ nêu ra trường hợp vốn bị xem là có tính chất chính trị nhất.

T.X.A.
31-10 HB15 (2015)
——————————
(*) “Lính Pháp” nếu hiểu đúng nghĩa, chính xác là lính người Pháp thuộc quân đội Pháp, cũng có thể hiểu là lính có quốc tịch nhiều nước khác Pháp, nhưng trực thuộc quân đội Pháp, khác với lính Nam triều (triều đình Đại Nam), lính Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại làm quốc trưởng). Còn lính Việt Nam cộng hoà (quân đội Việt, toàn người Việt) thì khác với “lính Mỹ” (lính thuộc quân đội Mỹ, toàn là người Mỹ). —- Về thông dịch viên: thông dịch viên người Việt có thuộc quân đội Pháp, quân đội Mỹ, đoàn cố vấn Trung Quốc, đoàn chuyên gia Liên Xô không, hay chỉ biệt phái vào?
.
.
FACEBOOK:

.
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer
.
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , | 1 Comment »

Vấn đề nhân vật: Bản lí lịch 3 đời hay bộ hồ sơ học bạ?

Posted by Trần Xuân An trên 25.06.2010

hidden hit counter

VẤN ĐỀ NHÂN VẬT:
BẢN LÍ LỊCH 3 ĐỜI hay BỘ HỒ SƠ HỌC BẠ?

Bài “Văn chương về các ‘vết thương’ chiến tranh, hậu chiến & ánh sáng mới” (*) sau khi đăng tải, tác giả nhận được thư của ông Nguyễn Huỳnh (Gò Vấp): “Nếu ông cho rằng chủ nghĩa lí lịch 3 đời dễ gây ngộ nhận khi đánh giá một con người, đặc biệt là tính cách của con người ấy, thì biết căn cứ vào đâu khi xây dựng một nhân vật trong tác phẩm văn chương?”. Tác giả xin trả lời bằng bài viết ngắn dưới đây. — TXA. —

Cơ sở nào để chứng minh rằng chủ nghĩa lí lịch 3 đời là thiếu tính biện chứng, tôi đã có nhiều dịp để trình bày trong tác phẩm của mình, đặc biệt là trong “Mùa hè bên sông” (tiểu thuyết), qua lời của nhân vật nhà văn Quyển. Nhà văn Quyển không lấy căn cứ ở đâu xa lạ, mà chính là một câu nổi tiếng của Karl Marx: “Con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội, trong tính hiện thực của nó”. Marx không chú trọng đến quan hệ gia đình lắm, mà chủ yếu là quan hệ xã hội… Xin nhấn mạnh là “trong tính hiện thực của nó”. Một lãnh tụ cách mạng Việt Nam, quê gốc Quảng Trị, ông Lê Duẩn, cũng cho rằng con người chỉ có 3 cấp độ sống: cá nhân, vợ chồng, xã hội.

Còn ông hỏi căn cứ vào tư liệu văn bản nào, tôi xin thưa:

Nếu “điều nghiên” quãng đời học sinh ở Miền Nam như lứa tuổi tôi (sinh năm 1956), thì bộ học bạ, nhất là học bạ từ lớp đệ thất đến lớp đệ nhất (lớp 6 đến lớp 12), là rất quan trọng. Mỗi lục cá nguyệt (học kì ) đều có đến 8 hoặc 9 thầy cô giáo phê nhận xét, đánh giá về học tập, đạo đức và còn có thêm một lời phê tổng quát của giáo sư hướng dẫn (giáo viên chủ nhiệm)… Như vậy, mỗi năm có đến khoảng 20 lời phê của khoảng chừng ấy giáo sư bộ môn, giáo sư chủ nhiệm (cũng có khi ít hơn, vì có thầy cô dạy cả 2 lục cá nguyệt trong một năm học).

Xin nhớ là trong nhà trường ở Miền Nam trước 1975, tuyệt đối không có những tổ chức, đoàn thể chính trị (đảng, đoàn, đội…), và nội dung giảng dạy không gắn liền với chế độ chính trị Miền Nam thuở bấy giờ.

Ngoài ra, trong học bạ, ở bìa 4 (trang 4) cũng có vài nét về gia cảnh (cha mẹ hay người giám hộ bao nhiêu tuổi, làm gì, ở đâu; anh em mấy người).

Tất nhiên, nhân vật trong tác phẩm văn chương chỉ là nhân vật hư cấu, nhưng hồ sơ học bạ cũng là tư liệu bảo chứng. Bộ học bạ của nhân vật là một căn cứ đáng kể. Và nhân vật trong tác phẩm văn chương, cái chính yếu mà người đọc quan tâm vẫn là năng lực, tư cách, tác phong thể hiện qua hành vi, suy nghĩ nội tâm, rất cụ thể, sinh động…

Nói như thế cũng dễ lẫn lộn giữa loại nhân vật người thật, việc thật, loại nhân vật kí sự với loại nhân vật truyện kí, với loại nhân vật tiểu thuyết. Cần tách ra 4 loại như vừa kể ra.

Thưa ông, vậy đó, “điều nghiên” quãng đời học sinh của nhân vật người thật, việc thật, nhân vật kí sự thì quan trọng nhất là bộ hồ sơ học bạ.

Nếu bộ hồ sơ học bạ gồm cả trăm chữ kí với lời phê của thầy cô giáo, rất giá trị, mà trót bị thất lạc, bị thiêu hủy, thì chỉ còn cách là gặp gỡ các thầy cô giáo cũ, bạn học cũ. Tuy nhiên, thầy cô giáo cũ, bạn học cũ cũng có khi bị chi phối bởi “tâm thế – áp lực thời điểm”, “không khí thời đoạn xã hội”… Nếu ai còn giữ được bộ hồ sơ học bạ thì may mắn vô cùng.

Dẫu sao, sự thật là thực thể con người rất phong phú, phức tạp. Nhưng nếu chọn giữa bản lí lịch 3 đời và bộ hồ sơ học bạ, để “điều nghiên” về một con người, đặc biệt là giai đoạn quan trọng nhất của con người cụ thể nào đó, và xem thử cái nào có giá trị hơn, tôi sẽ chọn bộ hồ sơ học bạ.

Xin nhớ là bản lí lịch 3 đời và bộ hồ sơ học bạ đều là văn bản bằng giấy!

Có lẽ cũng cần nói đầy đủ hơn, khi nghiên cứu quãng đời quan trọng hình thành nên một con người, có thể gọi là quãng đời cơ sở để phát triển ở các giai đoạn sau, trong những biến động của bối cảnh xã hội, với mục đích tái hiện thành một nhân vật kí sự, ta không từ chối một tư liệu nào, kể cả lí lịch 3 đời, và hơn thế nữa, tộc phả nhiều đời, nhưng chỉ để tham khảo thêm cho biết, còn quan trọng nhất, giá trị nhất, xác thực nhất vẫn là bộ hồ sơ học bạ.

Đó là xét trên bình diện loại tác phẩm người thật, việc thật, kí sự. Còn trên bình diện loại tác phẩm hư cấu, như tiểu thuyết chẳng hạn, thì cũng có thể xem đó để làm mẫu. Và dẫu sao, nội dung văn chương cũng rất linh hoạt! Thực tiễn cuộc đời – đời người vốn đa dạng vô cùng!

Trân trọng,
TXA.
25-6 HB10 (2010), lúc 4:15 chiều
Có chỉnh sửa dăm chữ: sáng 26-6 HB10 (2010)

_________________________

(*) Bài “Văn chương về các ‘vết thương’ chiến tranh, hậu chiến & ánh sáng mới” đã đăng ở TranNhuongCom, ngày 22-6 ‘’10.

Từ khung bàn luận này:
txawriter.wordpress…/2010/06/23/…comment-585

Đã đăng bài viết này tại:
http://trannhuong.com/news_detail/5258/VẤN-ĐỀ-NHÂN-VẬT:…?

______________________________

I. Bài chính:
Văn chương về các “vết thương” chiến tranh, hậu chiến…
II. Hai bài phát sinh:
1) Vấn đề nhân vật: Bản lí lịch 3 đời hay bộ hồ sơ học bạ?
2) Vấn đề nhân vật: Chủ nghĩa lí lịch không khoa học nên không có giá trị văn chương

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , | 6 Comments »