Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Archive for Tháng Sáu 12th, 2021

TU SĨ PHẬT GIÁO, PHẢI CHĂNG, VỪA THỜ KÍNH VỪA TRÁCH OÁN BÁC HỒ

Posted by Trần Xuân An trên 12.06.2021

hidden hit counter

        

TU SĨ PHẬT GIÁO, PHẢI CHĂNG,
VỪA THỜ KÍNH VỪA TRÁCH OÁN BÁC HỒ
Trần Xuân An

“Nam Bắc toàn dân quy thượng chính
Á Âu thế giới kính tu mi”
*
“chính mi”“Chí Minh” – nói lái *
hoà thượng thờ Người nhưng trách chi?

chơi chữ thế kia sâu bí ẩn
quang minh chính đại vướng vương gì *
phải chăng, vâng, phải chăng là vậy
tâm trạng lưỡng phân cõi trí bi

tấm bé, đã vào chùa xuống tóc
đắp y vàng phủ áo sa di
“nằm vùng” vẫn lưỡng phân tâm trạng
vẫn mặc cà sa đến tử quy

không nỡ “Quốc gia tối thượng” bỏ *
chia lòng dân tộc, sử còn ghi
Phật tâm chân chính không duy vật!
tuy kính anh hùng buộc Pháp quỳ

thờ Bác, Sài Gòn thời lửa đạn
khác xa thống nhất nể ân uy
nửa thờ nửa mắng thành tâm sử
đại thắng, sóng loa đài cuốn đi!

cầm bút, lòng tôi liền Bến Hải
hiểu Người thắng Pháp, nước phân li
Mỹ, rồi vụt Hán, quên chùa khổ
theo Bác, cờ sao, chưa quốc kì!

T.X.A.
tối 11-06-2021
…………….

(*) ~ Thông tin khách quan rút ra từ bài báo “Bàn thờ Bác Hồ và câu đối của nhà sư” của nhà báo Lam Điền trên báo Tuổi Trẻ in giấy ra ngày 09-06-2021 và Tuổi Trẻ điện tử: 09/06/2021 09:25 GMT+7. ~ Chơi chữ là kĩ xảo ngôn từ. Nếu chơi chữ cho người đọc hiểu, chứng tỏ người viết quang minh chính đại, không ti tâm, tiểu khí. Nhưng chơi chữ hóc hiểm thì ngược lại. Người cầm bút chân chính không bao giờ “gài chất nổ, cắm chông tẩm thuốc độc” một cách hóc hiểm trong văn chương của mình.

NHÀ SƯ THÍCH PHÁP LAN & TỪ KHOÁ NÓI LÁI KHÔNG PHẢI HÓC BÚA?

“Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi
Chí Minh đã rõ chính mi rồi
Thi đua chi nữa thua đi mãi
Kháng chiến thế này khiến chán thôi…
… Chiến khu thóc lúa chú khiêng xơi …”

Bài thơ trên đây của nhà thơ Quách Tấn hay của ông Hồ Đệ (đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng, người Quảng Nam, đã bị Cộng sản tử hình năm 1954)?

Hồi nhỏ, học ở Tam Kỳ, Quảng Tín (Quảng Nam), tôi biết bài thơ đó còn được lưu truyền. Lâu quá, tôi còn nhớ lõm bõm như thế!

Tạp chí Xưa và Nay số 298 (12-2007) có ghi lại, theo một thông tin trên mạng toàn cầu cho biết. Tôi chưa kịp tra cứu cho rõ.

Tôi nghĩ, không bao giờ có một xã hội với hàng trăm tâm dạng người khác nhau trong một thời đại lại hoàn toàn nhận thức và phát ngôn quan điểm giống nhau.

Có những ý kiến nhận định về Bác Hồ có lẽ không nên nhắc lại, nhưng nhắc lại như tư liệu nghiên cứu lịch sử để sử học toàn diện khách quan thì vẫn tốt hơn. Đã gọi khoa học lịch sử thì phải thế. Ví dụ như nước có kí hiệu hoá học là H2O nhưng trong phòng thí nghiệm hay trong thực tiễn thiếu đi một thành phần, chắc không có nước. Nữa là, cuộc chiến chống Pháp đã thành nội chiến trong Chiến tranh Lạnh toàn cầu!

Nói cho đúng, đó không phải vấn đề cá nhân nhân vật lịch sử, mà chính là sự phân hoá xã hội trong kháng chiến, dẫn đến nội chiến trong Chiến tranh Ý thức hệ toàn cầu! Và thiết tưởng cũng cần hiểu rõ, Bộ Luật hình sự có điều khoản, cấm xúc phạm danh nhân lịch sử. Dĩ nhiên, phải tuân hành. Ở đây và nhiều trường hợp khác nữa, là giải quyết những tồn đọng lịch sử trong quá khứ.

Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về Hồ Chí Minh, Bác Hồ vẫn là anh hùng đánh thắng Pháp. Sự thật đó không thể thay đổi.


T.X.A.
12-06-2021

https:// www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2914633582143907/

Xem bài báo tại đây:
https://tuoitre.vn/ban-tho-bac-ho-va-cau-doi-cua-nha-su-20210609085655164.htm

https:// www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2914224672184798/

Link bài thơ này tại Facebook:
https:// www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2914241372183128/

Ảnh hoà thượng Thích Pháp Lan và bàn thờ Bác ở chùa Khánh Hưng, Q.3, Sài Gòn 1969, nhà báo Lam Điền chụp lại, đăng trên báo Tuổi Trẻ 09-06-2021.


.

.
BÀN THỜ BÁC HỒ VÀ CÂU ĐỐI CỦA NHÀ SƯ
(Bài của nhà báo Lam Điền đăng trên báo Tuổi Trẻ in giấy ra ngày 09-06-2021 và Tuổi Trẻ điện tử: 09/06/2021 09:25 GMT+7)

Trích nguyên văn:

(…) “Tấm trướng thờ có 4 đôi câu đối hai bên là sự dụng tâm đáng kể: Nam Bắc toàn dân quy thượng chính / Á Âu thế giới kính tu mi.

Nếu xét nội dung, hai câu trên mang ý nghĩa thông thường, kiểu trướng thờ kính trọng một người có công với đất nước: kêu gọi người dân theo về với chính nghĩa trên hết, thế giới từ Âu tới Á đều kính trọng đấng mày râu.

Câu đối dành cho ai? Đấng mày râu nào vậy?

Chìa khóa nằm ở hai chữ cuối: vế đầu kết thúc bằng chữ “chính”, vế sau kết thúc với chữ “mi”, “chính mi” nói lái là “chí minh”. Câu đối được suy nghĩ kỳ công, rồi cắt chữ trên vải, may vào tấm trướng, thiết lập bàn thờ chỉ để đánh dấu đây là trướng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một bàn thờ ngay tại ngôi chùa ở quận 3, trung tâm Sài Gòn” (…)


(…) “Còn lối chơi chữ ở tấm trướng thờ lại có điểm độc đáo khác. Nếu các cụ đồ Nho ngày xưa thường có lối làm câu đối theo cách “quán thủ” (tức ghép 2 chữ đầu câu để mang ý riêng), thì hòa thượng Pháp Lan trong trường hợp này dùng cách quán vĩ (ghép hai chữ cuối), lại còn ẩn thêm một lần nữa qua cách nói lái, trở thành điển hình của môtip dân gian trộn lẫn với học thuật” (…)

~~ 0o0o0 ~~

Trọn bài:

TTO – Một tuần sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, buổi sáng 9-9-1969 tại ngôi chùa Khánh Hưng ở quận 3 (Sài Gòn), nhà sư Thích Pháp Lan thiết lập bàn thờ âm thầm làm lễ truy điệu Bác…

[Chú thích ảnh 1:
Bàn thờ Bác Hồ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh được giữ nguyên trạng từ năm 1969 – Ảnh: L.ĐIỀN]

Diễn ra lặng lẽ nhưng là lễ truy điệu đặc biệt đối với một nhân vật đặc biệt, nhà sư chuẩn bị cũng rất đặc biệt.

Tấm trướng thờ công phu

Theo lời kể của những vị trong sơn môn chùa Khánh Hưng, hòa thượng Pháp Lan bấy giờ hãy còn là một vị thượng tọa. Khi hay tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông đã âm thầm bàn với phật tử thân tín dùng vải thiết kế một tấm trướng thờ với quy cách dùng các chữ Hán được cắt lộng từ vải và may lên nền một tấm vải khác.

Tấm trướng thờ có 4 đôi câu đối hai bên là sự dụng tâm đáng kể: Nam Bắc toàn dân quy thượng chính / Á Âu thế giới kính tu mi.

Nếu xét nội dung, hai câu trên mang ý nghĩa thông thường, kiểu trướng thờ kính trọng một người có công với đất nước: kêu gọi người dân theo về với chính nghĩa trên hết, thế giới từ Âu tới Á đều kính trọng đấng mày râu.

Câu đối dành cho ai? Đấng mày râu nào vậy?

Chìa khóa nằm ở hai chữ cuối: vế đầu kết thúc bằng chữ “chính”, vế sau kết thúc với chữ “mi”, “chính mi” nói lái là “chí minh”. Câu đối được suy nghĩ kỳ công, rồi cắt chữ trên vải, may vào tấm trướng, thiết lập bàn thờ chỉ để đánh dấu đây là trướng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một bàn thờ ngay tại ngôi chùa ở quận 3, trung tâm Sài Gòn.

Điều thú vị của trường hợp tự làm câu đối để thờ Bác Hồ ở đây chính là câu chuyện hình thành từ sự pha trộn giữa tâm thức dân gian và lối chơi chữ của người bình dân Nam Bộ có học.

Xuất phát từ lòng người

Câu chuyện một nhà sư tự mình vì kính ngưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh nên lập bàn thờ khi nghe tin Bác mất được biết đến khi vào đầu những năm 2000, Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP.HCM (bến Nhà Rồng) có kế hoạch tìm hiểu sưu tầm và tổ chức phòng trưng bày đền thờ Bác Hồ ở Nam Bộ.

Thật bất ngờ, qua tìm hiểu, tại các tỉnh thành Nam Bộ có đến 40 cơ sở gồm gia đình và đền chùa lập bàn thờ Bác. Trong số đó, bàn thờ do hòa thượng Thích Pháp Lan tại chùa Khánh Hưng thiết kế với những nét độc đáo như đã thấy lập tức thu hút giới nghiên cứu và cán bộ bảo tàng.

Sau khi hòa thượng Thích Pháp Lan viên tịch năm 1994, Bảo tàng Hồ Chí Minh đón bàn thờ này về vào năm 2003. Từ đó, tại tầng 2 trong không gian trưng bày các đền thờ Bác, bàn thờ với đôi câu đối chữ Hán kỳ đặc kia được duy trì trang trọng, để vừa phục vụ khách tham quan vừa là nơi tưởng nhớ Bác trong các dịp lễ hằng năm.

Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, việc hòa thượng Thích Pháp Lan (pháp danh Trừng Tâm, thuộc dòng Liễu Quán của ngài Thiệt Diệu, tông Lâm Tế) lập bàn thờ Bác Hồ phản ánh một nét riêng của Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Nam Bộ nói riêng.

“Điều này xuất phát từ lòng người, tự ông thầy Pháp Lan thấy nên thờ Bác Hồ thì ông và phật tử của ông thu xếp để qua mắt chính quyền và làm lễ truy điệu. Việc ấy không xuất phát từ một chủ trương nào hay do ai hướng dẫn. Mà có như vậy mới trở thành giá trị tồn tại ở đời” – một nhà nghiên cứu tại Sài Gòn xin giấu tên nêu nhận xét như vậy.

Dân gian trộn lẫn học thuật

[Chú thích ảnh 2:
Ảnh hòa thượng Thích Pháp Lan – trụ trì chùa Khánh Hưng – hiện được treo tưởng niệm tại Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP.HCM – Ảnh: L.ĐIỀN chụp lại]

Tâm thức dân gian quan niệm những ai có công, được nhiều người kính trọng và hướng về, khi chết đi đều đáng được thờ. Chính vì vậy mà giữa lòng Sài Gòn với nhiều tai mắt của chính quyền lúc bấy giờ săm soi những ai đang “hướng về miền Bắc” thì một bàn thờ dành cho Bác Hồ và lễ truy điệu vẫn được tổ chức.

Còn lối chơi chữ ở tấm trướng thờ lại có điểm độc đáo khác. Nếu các cụ đồ Nho ngày xưa thường có lối làm câu đối theo cách “quán thủ” (tức ghép 2 chữ đầu câu để mang ý riêng), thì hòa thượng Pháp Lan trong trường hợp này dùng cách quán vĩ (ghép hai chữ cuối), lại còn ẩn thêm một lần nữa qua cách nói lái, trở thành điển hình của môtip dân gian trộn lẫn với học thuật.

Tác giả bài báo: LAM ĐIỀN
.
Tư liệu:
THƯỢNG TOẠ THÍCH PHÁP LAN (chùa Khánh Hưng, Q.3, Sài Gòn cũ) LÀ “CỘNG SẢN NẰM VÙNG” (Tôi dùng từ ngữ có tính lịch sử – cụ thể — T.X.A.)
—————————————
Nguyên văn bài viết:
Lễ truy điệu Bác Hồ giữa lòng địch
Được đăng: 06 Tháng 9 2013 trên website Ban Quản lý Lăng:
https://www.bqllang.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1616:l-truy-di-u-bac-h-gi-a-long-d-ch&catid=99&Itemid=743&lang=vi

Những ngày đầu tháng 9-1969, tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã gây xúc động sâu sắc đến tình cảm của mọi người con dân nước Việt. Từ đô thành còn chịu sự kìm kẹp của địch đến bưng biền Đồng Tháp, đất Mũi Cà Mau, từ Nhà tù Chí Hòa, Côn Đảo đến chiến khu giải phóng, những người chiến sĩ cách mạng và nhân dân miền Nam, bằng nhiều hình thức, đã tổ chức truy điệu Người với lòng kính yêu vô hạn.

Nhiều nguồn sử liệu cho thấy, Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chùa Khánh Hưng, do Hòa thượng Thích Pháp Lan, khi đó là Thượng tọa trụ trì, làm chủ lễ với sự tham dự của hàng trăm người. Đây là nơi duy nhất ở Sài Gòn – Gia Định công khai tổ chức truy điệu Người mặc dù bị địch theo dõi, khủng bố gắt gao.

[Chú thích ảnh:
Một góc chùa Khánh Hưng]

Chùa Khánh Hưng ngày nay ngụ tại hẻm 390 đường Cách mạng Tháng Tám (thời đó là đường Lê Văn Duyệt), phường 11, quận 3, TP Hồ Chí Minh, được khởi tạo từ cuối thế kỷ XIX, do Phật tử hai vùng Khánh Hội và Hòa Hưng góp tiền của xây nên. Năm 1947, Hòa thượng Thích Pháp Lan được cung thỉnh về trụ trì chùa. Hòa thượng pháp húy Trừng Tâm, pháp danh Thiện Hảo, thế danh là Lê Hồng Phước, sinh năm 1913, quê ở làng Tây An, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, xuất gia quy y từ năm 14 tuổi.

Là một nhà tu hành yêu nước, trong kháng chiến chống Pháp, Hòa thượng vừa tiếp tục công việc tiếp dẫn hậu lai, vừa bí mật tham gia hoạt động cách mạng, được giao phụ trách an ninh Khu 4 – Mỹ Tho và giữ chức vụ Chủ tịch Lực lượng Phật giáo cách mạng Sài Gòn – Gia Định. Năm 1953, Hòa thượng được đề cử làm Tổng Thư ký Tăng đoàn Liên tông Việt Nam. Năm 1963, cùng chư tôn giáo phẩm, tham gia trong Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo, Hòa thượng đã tích cực đấu tranh chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo.

Năm 1969, được tin Bác Hồ qua đời, Hòa thượng Thích Pháp Lan vô cùng đau xót, mong muốn làm một việc gì đó để tỏ lòng thành kính tiếc thương bậc đại trí, đại nhân, đại dũng của dân tộc.

Để che mắt bọn mật vụ tay sai địch, Hòa thượng cho trang trí bàn thờ thật khéo, vừa có hình ảnh cờ đỏ sao vàng vừa bày được bài vị Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông thường bàn thờ có mâm hoa, mâm quả. Bên mâm hoa, Hòa thượng cho bày bông trang màu đỏ thay cho nền cờ và bông điệp làm ngôi sao vàng. Bên mâm quả, Hòa thượng bày quả xoài cát Hòa Lộc màu vàng làm ngôi sao và quả mận hồng đào (quả bồng bồng) làm nền cờ. Trên bàn thờ, chỗ trang trọng nhất, nơi thường đặt bài vị có mấy chữ Hán “Quốc gia tối thượng”, nghĩa là “Quốc gia trên hết”, cũng có thể hiểu đó là bài vị “Người cao nhất nước nhà”, người đó là Hồ Chí Minh. Tuy đã công phu như vậy, nhưng những người đứng ra tổ chức buổi Lễ còn dụng tâm tìm cách thể hiện được tên Bác Hồ trong lễ cầu siêu. Trong hoàn cảnh chính quyền Sài Gòn o ép, khủng bố gắt gao, không cho bất kỳ cá nhân, đoàn thể nào công khai tổ chức truy điệu Cụ Hồ, Hòa thượng Thích Pháp Lan đã thức trọn đêm, nghĩ ra đôi câu đối:

Nam Bắc toàn dân quy thượng chính
Á Âu thế giới kính tu mi.

Vế đối thứ nhất nói được tình cảm của toàn dân Việt Nam từ Nam chí Bắc đều quy phục người vĩ nhân chân chính. Vế thứ hai nói lên tình cảm của nhân dân thế giới vô cùng kính phục đấng tu mi nam tử. Nếu chú ý, cũng có thể thấy dụng ý ở hai từ cuối mỗi vế đối: Chính, Mi nói lái thành Chí Minh, tên Cụ Hồ.

Nội dung quan trọng nhất, vấn đề quan trọng nhất của buổi Lễ truy điệu là bài điếu văn. Bài điếu phải nói được công lao của Bác, tấm lòng của nhân dân hướng về Bác, không dài quá để tránh bị cảnh sát, mật vụ chế độ ngụy quyền phát hiện khủng bố giữa chừng và phải linh hoạt dễ phi tang, không để địch ập vào dùng vũ lực thu mất. Bài điếu văn được Hòa thượng tẩm sáp ở mặt sau tờ giấy và cho đặt ngay sát nơi đứng chủ lễ hai ngọn nến to. Ban Tổ chức cũng bố trí nhiều nhà sư, chú tiểu, các Phật tử là nam thanh niên khỏe mạnh, lực lưỡng làm thành hàng rào danh dự bảo vệ lễ đàn để tăng thêm vẻ trang nghiêm, tôn kính của buổi Lễ và sẵn sàng xả thân đối phó với cảnh sát, mật vụ nếu chúng xông vào.

Theo “HCM Citynet” của UBND TP Hồ Chí Minh, đúng 2h chiều 9-9-1969, chỉ sau Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội vài tiếng đồng hồ, Lễ truy điệu Người tại chùa Khánh Hưng bắt đầu. Nhiều trí thức có tên tuổi ở Sài Gòn như bà luật sư Ngô Bá Thành, luật sư Trần Ngọc Liễng, các vị Nguyễn Long, Dương Văn Đại, Đặng Văn Ký… cùng hơn 200 thanh niên, học sinh, bà con Phật tử yêu nước đã tề tựu dự lễ. Hòa thượng Thích Pháp Lan dáng vẻ uy nghiêm, đĩnh đạc chủ lễ, giọng trầm ấm truyền cảm đọc bài điếu văn tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong không khí trang nghiêm, thành kính. Đọc xong, Hòa thượng châm tờ giấy vào ngọn nến.

Bốn ngày sau, Tổng nha Cảnh sát chính quyền Sài Gòn mời Hòa thượng đến thẩm vấn suốt từ 8h sáng đến 5h chiều. Trước lý lẽ sắc bén của Hòa thượng và áp lực của hàng nghìn người dân, Phật tử yêu nước kéo đến đấu tranh, chính quyền Sài Gòn đã phải trả tự do cho Hòa thượng. Ông tiếp tục hoạt động phụng sự đạo pháp và dân tộc, có nhiều đóng góp cho phong trào đấu tranh cách mạng, sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và tôn tạo chùa Khánh Hưng ngày thêm khang trang, tú lệ. Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, Hòa thượng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo hội Phật giáo và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chiếc bàn thờ tại Lễ truy điệu Bác Hồ do Hòa thượng chủ lễ nay được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh trong khu Bến Nhà Rồng.
Sau cơn suy tim đột ngột, Hòa thượng đã xả báo an tường, thu thần thị tịch lúc 2h30 ngày 1-3-1994 tại trụ xứ chùa Khánh Hưng, trụ thế 81 năm, hạ lạp trải qua 59 mùa an cư kiết hạ. Hơn 50 năm hóa đạo, Hòa thượng Thích Pháp Lan đã cống hiến trọn vẹn tâm huyết, tài đức cho đạo pháp – dân tộc và lịch sử đấu tranh, phát triển nền hòa bình, độc lập, thống nhất chung cả đời và đạo.

Không nhiều người có may mắn được biết nguyên văn bài điếu do Hòa thượng đọc tại Lễ truy điệu ngày 9-9-1969, do sau khi đọc xong Hòa thượng đã châm lửa hóa ngay văn bản này. Tại cuộc gặp mặt cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự – Trại Davis đầu tháng 8 này, tôi được Đại tá nhà văn Nguyễn Trần Thiết cho biết, bài điếu được Hòa thượng chép làm ba bản, hai bản khác chôn ở hai nơi bí mật nên còn giữ được. Đại tá Nguyễn Trần Thiết đã tặng tôi một bản chép lại. Tôi đã cố gắng sắp xếp, trình bày ý theo thể loại văn tế, xin được đọc như sau:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Màu Ni Phật
Hôm nay đứng trước linh bàn, hòa vọng với khói hương nghi ngút, trước Anh linh Người vô vàn kính mến, trọn đời đã vì nước mà quên mình, vì Tổ quốc và nhân dân, Bác không sợ nguy hiểm tới tính mạng.
Nhớ linh xưa!
Bác là đấng Anh hùng vĩ nhân ái quốc đã đem từng giọt máu trừ khử loài sâu mọt, mong sao được rạng vẻ sơn hà.
Vì lẽ ấy cho nên
Bác quyết ra tay diệt giặc, phấn đấu kiên cường, đánh đuổi quân thù, oai danh lừng lẫy, trải biết bao gian lao cực khổ, lướt gió xông sương, bươn nguồn vượt suối, quyết gìn giữ giang sơn Tổ quốc
Bác là bậc hào kiệt vô song, trọng nghĩa vụ nặng hơn núi cả, tài bặt thiệp khắp toàn cầu Âu – Á, trí thông minh nổi tiếng cả Đông – Tây
Tuôn máu đỏ nhuộm cờ hồng, dựng khắp non sông đất Việt
Lấy da vàng nêu sao sáng, phất rạng bờ cõi trời Nam.
Nhớ đến Bác càng thương càng khóc.
Thấy bọn giặc thêm hận thêm thù.
Khóc là khóc đấng thiên tài lỗi lạc, đuổi xâm lăng đòi độc lập – tự do, trọn đời mải lo âu cho dân tộc.
Quê hương còn đó, nước non còn đó, uất hận thay vật đổi sao dời.
Nghĩ mấy đoạn lệ tràn chan chứa.
Nhớ công ơn cảm động can tràng.
Ôi!
Lồng lộng trời cao mây phấp phới.
Thinh thinh bể rộng sóng vơi đầy.
Nước non còn hào kiệt vẫn còn.
Anh hùng tử khí anh hùng há tử.
Lư trầm đảnh khói hương ngào ngạt, kính cẩn lòng ngưỡng đạt trước Chân linh.
Giúp sơn hà mau được thái bình, phò Tổ quốc chóng nên độc lập
Cẩn cáo đài tiền.
Cung dung khấu thủ.

Sau ngày Bác mất, kẻ thù tưởng rằng ý chí đấu tranh của nhân dân sẽ suy sụp, cách mạng sẽ đi vào thoái trào, nhưng với lòng kính yêu vô hạn lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã biến đau thương thành hành động cách mạng, tiếp tục xốc tới giành thắng lợi trên mọi mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao. Đại thắng mùa Xuân 1975 kết thúc với thắng lợi của chiến dịch mang tên Bác, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, cả dân tộc bước vào kỷ nguyên mới, thực hiện Di chúc của Người: Xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Nguyễn Năng Lực
Theo Hà Nội mới
Thanh Huyền (st)

Tư liệu: báo SGGP
Truy điệu Bác Hồ giữa Sài Gòn

Thứ Hai, 1/9/2014 23:34
https://sggp.org.vn/truy-dieu-bac-ho-giua-sai-gon-263834.html
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , | Leave a Comment »