Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

HAI BÀI TRẦM TƯ VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ THÍCH TRÍ QUANG

Posted by Trần Xuân An trên 16.11.2019

hidden hit counter

.
        
.

THỬ VẮN TẮT TRẢ LỜI
Ý KIẾN OÁN TRÁCH PHẬT GIÁO VÀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ THÍCH TRÍ QUANG
Trần Xuân An

https://txawriter.files.wordpress.com/2019/11/ea58889d-08ff-47ee-a9e4-619fe33b74b3.jpeg

~~~ Nguồn ảnh: Google search ~~~

Trong ngày thứ nhất của tang lễ Đại lão Hoà thượng Thích Trí Quang, một nhân vật lịch sử quan trọng thuộc giai đoạn 1963-1967 và sau đó, vẫn còn có ý kiến trách móc về sự kiện lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, ngầm cho rằng chính phong trào Phật giáo đấu tranh đó và Đại lão Hoà thượng Trí Quang, như một lãnh tụ, đã góp phần dẫn đến tình cảnh thất thế hiện nay của Miền Nam nước ta.

Xin có vài dòng vắn tắt.

Phật giáo bị áp bức bởi chính quyền Thiên Chúa giáo của gia đình họ Ngô Đình (1955-1963), nên Phật giáo phải đấu tranh.

Nguyên nhân trực tiếp là vậy, nhưng sâu xa lại là quá trình xung đột văn hoá, từ thế kỉ XVI, khi giáo sĩ đầu tiên đến truyền đạo tại Nam Định. Không những chúa Trịnh mà cả chúa Nguyễn cũng cấm đạo. Đến thời Tây Sơn, vua Cảnh Thịnh quyết liệt cấm đạo. Kế đến, Nguyễn Ánh nhờ sự giúp đỡ của Pigneaux de Béhaine nhưng vẫn cảnh giác. Gia Long Nguyễn Ánh đã trăn trối cho thái tử Đảm (Minh Mạng) về điều này. Và từ đó, việc cấm đạo, sát tả khi căng khi chùng nhưng kéo dài đến tận phong trào Văn thân, Cần vương (đặc biệt dữ dội: 1885-1913).

Đại đa số nhân dân Việt Nam không cảm tình với Thiên Chúa giáo, nhất là khi Thiên Chúa giáo bị Pháp, Tây Ban Nha lợi dụng và bản thân một bộ phận Thiên Chúa giáo Việt Nam câu kết với thực dân Pháp.

Nói vậy, để thấy rằng, việc chống chính quyền Thiên Chúa giáo Ngô Đình Diệm là bởi nguyên nhân sâu xa trong cả hàng trăm năm lịch sử ấy, mà nguyên nhân trực tiếp là chính quyền Đệ nhất Cộng hoà Ngô Đình đã ngầm áp bức Phật giáo.

Có thể nói, Cách mạng Ba Số Một (1-11) năm 1963 xuất phát từ tinh thần dân tộc chống “tả đạo” kết hợp với tinh thần đấu tranh trong pháp nạn của Phật giáo.

Chính quyền Mỹ và Vatican bấy giờ muốn dựng hàng rào ngăn chận làn sóng đỏ cộng sản bằng Thiên Chúa giáo, Tin Lành (ở Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, cả ở Nhật và đặc biệt là ở Nam Việt Nam). Vatican thì quá rõ phong trào Cần vương bình Tây sát tả Á Đông cả trăm năm nhưng vẫn bất chấp, cứ muốn Thiên Chúa giáo hoá cả Châu Á. Mỹ hẳn không kịp tìm hiểu, và cứ ỷ y vào đô la và vũ khí. Do đó, chế độ chuyên chính Thiên Chúa giáo Ngô Đình không được lòng dân. Vì không được lòng dân, nên gia đình họ Ngô Đình càng độc tài, tàn độc. Kết cục, ba anh em họ Ngô Đình phải chết thảm khốc, nạn kiêu dân Thiên Chúa giáo cũng bị tiêu tan, chỉ còn là thế lực ngầm trong giai đoạn sau đó, 1967-1975.

Vài dòng trên nhằm làm sáng tỏ chút nào về nhân vật lịch sử Thích Trí Quang (1923-2019) và Phong trào Phật giáo đấu tranh 1963-1967. Điều tôi muốn nhấn mạnh là có tinh thần truyền thống Cần vương bình Tây sát tả cả trăm năm trước trong cuộc Cách mạng Ba Số Một đó (*). Và, trong cuộc đấu tranh ấy, Làn sóng Đỏ đã “ngư ông hưởng lợi”.

Nếu theo lập trường oán trách Phật giáo nêu trên, thì đúng ra, lỗi là do Vatican, người Mỹ và bộ phận Thiên Chúa giáo hãnh tiến, kiêu ngạo đắc thế bấy giờ.

T.X.A.
09-11-2019
……

(*) Tinh thần truyền thống thường ở dạng tiềm tàng, có thể ở một phong trào chính trị có đông đảo quần chúng tham gia, nó không được phát biểu thành lời nói, văn bản. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trong tự truyện của Ngài (Nxb.TH.TP.HCM., 2011), Hoà thượng Thích Trí Quang viết rằng, Phong trào Phật giáo 1963 và sau đó không liên quan gì đến phong trào Văn thân, Cần vương.

Ý THỨC HAY KHÔNG Ý THỨC,
NHƯNG HÀNH ĐỘNG PHÙ HỢP THEO LOGIC LỊCH SỬ
Thượng toạ Thích Trí Quang chống chính quyền do người Thiên Chúa giáo đứng đầu hoặc còn bị Thiên Chúa giáo chi phối có nghĩa là đã đi theo logic lịch sử vốn vận hành từ hàng trăm năm trước, cho dù Ngài phủ nhận mối liên quan giữa Phong trào Phật giáo đấu tranh (1963-1975) với Phong trào Văn thân, Cần vương (thế kỉ XIX) và trước đó.
T.X.A.
18-11-2019

ĐỘC TÔN THIÊN CHÚA GIÁO Ở PHƯƠNG TÂY & Ở Á – PHI

Đọc văn học cổ điển và hiện đại Phương Tây, chúng ta thấy giáo dân và nhà thờ Thiên Chúa giáo, Chính thống giáo, Tin lành thật dễ thương; tuy thể hiện sự độc tôn, duy nhất thờ Chúa Jesus, nhưng vẫn toả ra lòng bác ái.
Khốn thay, Thiên Chúa giáo lại gắn liền với chủ nghĩa thực dân Phương Tây ở các nước Á – Phi… và cũng muốn độc tôn!
Vấn đề là ở đó!

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ CŨNG RẤT ĐỘC TÔN

Mặc dù chủ nghĩa Marx-Lenine chủ trương độc tôn bằng chính quyền chuyên chính vô sản, nhưng học thuyết chính trị – kinh tế và duy vật này lại gắn liền với phong trào chống thực dân cũ, nên nó có sức bành trướng. Và cho dù nó phát triển thành sự bành trướng của Liên Xô, rồi bành trướng Trung Quốc, nó vẫn có sức lôi cuốn các nước thuộc địa cũ.
Độc tôn đỏ và bành trướng đỏ! Vấn đề là ở đó!

T.X.A.
18-11-2019

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2432773880329882/

~~~ Nguồn ảnh: Google search ~~~

KÍNH NGHĨ THÊM VỀ HOÀ THƯỢNG THÍCH TRÍ QUANG
Trần Xuân An

https://txawriter.files.wordpress.com/2019/11/26f73dad-07cd-4c09-890a-9f91a3ad3ad7.jpeg

Lâu nay, tôi có ít nhiều tìm hiểu và suy nghĩ về Hoà thượng Thích Trí Quang trong phong trào Phật giáo đấu tranh năm 1963.

Đúng là trong giai đoạn 1955-1963, từ mức độ bị phân biệt đối xử, Phật giáo phải đương đầu với mức độ bị đàn áp. Nhân vật lịch sử Thích Trí Quang sáng chói ở cao trào 1963 – cuộc đảo chính Ba Số Một (1-11), và sáng chói cho đến 1966. Sau khi mặt trận “Bàn thờ Phật ‘xuống đường’” (*) không thắng lợi, Đệ nhị Cộng hoà được chính thức thành lập với Hiến pháp 1967, Phật giáo đã thật sự giành được tự do, bình đẳng, hoạt động của Thượng toạ Thích Trí Quang không còn rực sáng như trước đó. Tuy vậy, Ngài vẫn lãnh đạo một trong hai bộ phận Phật giáo Miền Nam Việt Nam (phái Ấn Quang), đấu tranh mãi cho đến tháng 4-1975.

Công chúng có thể hiểu rằng, sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các chính phủ kế tục, kể cả giai đoạn 1967-1975, Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống, vẫn còn trong đó “cái đuôi của ông Diệm”, nói theo cách của GS. Cao Huy Thuần (bài mới đăng lại trên BBC. com), do đó thượng toạ Thích Trí Quang vẫn lãnh đạo và đích thân đấu tranh. Phải chăng Thượng toạ không muốn còn ảnh hưởng Thiên Chúa giáo chi phối chính quyền và vai trò đứng đầu trên chính trường là người Thiên Chúa giáo? Hẳn rõ ràng là vậy chăng?

Công chúng cũng thắc mắc thêm: Sao từ 30-4-1975 đến khi Hoà thượng Thích Trí Quang viên tịch, 08-11-2019, Hoà thượng chỉ chuyên tâm dịch sách, viết sách, tu trì, không đấu tranh với chính quyền hiện hành? Hoà thượng bị giam lỏng tại chùa, luôn luôn có công an canh giữ? Hay Hoà thượng đã tìm thấy hoà bình, nên Hoà thượng đã thoả hiệp với chế độ mới, xã hội chủ nghĩa?

Phải chăng, trong giai đoạn 1963-1975, nhân vật lịch sử Thích Trí Quang đã đấu tranh để làm sụp đổ chính quyền Việt Nam cộng hoà? Đòi hoà bình trong khi bị tấn công bởi Giải phóng quân cộng sản, có nghĩa là Hoà thượng chấp nhận Việt Nam cộng hoà đầu hàng, bại vong, để Đất nước thống nhất dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Gần 45 năm qua (1975-2019), Hoà thượng không đấu tranh chính trị nữa, có nghĩa là Hoà thượng đã thật sự thoả hiệp.

Vậy đâu rồi mục tiêu tự do tôn giáo mà Hoà thượng đã giương cao trước 1975? Ai cũng biết, chỉ sau Đổi mới, 1986, và sau khi Liên Xô, Đông Âu đỏ sụp đổ, 1991, Phật giáo mới được xây cất chùa chiền và hoạt động Phật sự như ngày nay. Nhưng Đổi mới trong nước vẫn đang tiếp tục và hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới tan rã không phải là điều Hoà thượng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngờ tới.

Như vậy, có thể mông muội nhận định rằng: Hoà thượng Thích Trí Quang chỉ muốn hoà bình, thống nhất, và Phật giáo trầm lắng dưới chế độ Mác-Lênin cũng được, cũng đành. Phải chăng là thế? Nói theo cách nói dân dã hồi trước 1975: “Hoà bình, ăn hột muối cũng sướng”?

Để hiểu tư tưởng hoà bình chủ nghĩa (**) với tâm thế chấp nhận Phật giáo trầm trệ dưới chính thể mácxit-lêninit vô thần, vô tôn giáo hoá ấy, xin hãy liên tưởng đến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Không ai có thể bảo rằng Trịnh Công Sơn là Việt cộng “nằm vùng”. Và khi ông lên Đài Phát thanh Sài Gòn để phát biểu, 4-1975, hẳn ông đã biết toàn bộ nhạc phẩm của ông phải chịu đốt bỏ như “văn hoá phẩm phản động và suy đồi” (!). Ông cũng không thể ngờ có Đổi mới (1986) và hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới sụp đổ (1991) để nhạc cũ của ông lại được phục hồi! Nhưng tại sao vậy? Có đau đớn nào hơn không?

Cũng như Trịnh Công Sơn, hẳn Hoà thượng Thích Trí Quang cũng đau đớn tận gan ruột. Không phải Ngài và ông Sơn không biết trước. Nhưng họ chấp nhận – chấp nhận để dân tộc thoát khỏi nội chiến nồi da xáo thịt. Họ hi sinh tôn giáo và nghệ thuật cho Đất nước hoà bình chăng? “Hoà bình, ăn hột muối cũng sướng”! Và họ hẳn cũng hi vọng, cuối đường hầm hun hút hoà bình xã hội chủ nghĩa sẽ có ánh sáng phục hồi, phục hưng Phật giáo, lại vang vang âm nhạc Trịnh Công Sơn?

Như vậy, Hoà thượng Thích Trí Quang và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phải chọn lựa trong việc thoả hiệp: thoả hiệp với bên nào? Thoả hiệp với Đảng Cộng sản Việt Nam hay thoả hiệp với Thiên Chúa giáo Việt Nam? Họ tin bên nào hơn? Theo bên nào thì Phật giáo tồn tại, âm nhạc họ Trịnh vẫn lưu hành? Phật giáo trầm trệ, nhạc họ Trịnh bị cấm, nhưng hết nội chiến. Nghèo đói, mất tự do, chưa độc lập khỏi Khối Đỏ hẳn, nhưng Đất nước hoà bình… Chọn lựa nào cũng chấp nhận mất mát!

Tôi mông muội hiểu Hoà thượng Thích Trí Quang như thế.

Trầm tư về bi kịch Hoà thượng Thích Trí Quang, bi kịch dân tộc Việt Nam ta, giới hạn trong giai đoạn 1945-1975, tôi nghĩ đến tương lai của nước ta: Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ trở lại là lực lượng dân tộc, yêu nước, chống ngoại xâm. Dân tộc Việt Nam phải có một chính quyền thuần tuý dân tộc, không phải Mác-Lê, không phải Phật giáo, không phải Thiên Chúa giáo, mới đoàn kết được cả dân tộc Việt Nam chúng ta mãi mãi.

T.X.A.
15-11-2019
……..

(*) Trong “Trí Quang tự truyện” (Nxb.TH.TP.HCM., 2011), Hoà thượng viết, việc đưa bàn thờ Phật xuống đường khởi phát từ một sĩ quan VNCH. và quần chúng hưởng ứng, ban lãnh đạo Phật giáo chỉ thụ động thuận theo quần chúng.
(**) Chủ nghĩa hoà bình: hoà bình bất cứ giá nào.
Xin bị chú ngoài lề: Không thể chấp nhận chủ nghĩa hoà bình vô điều kiện trước nạn ngoại xâm, như trước sự xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa với “đường 9 vạch” hiện nay do Trung Quốc ngang ngược tiến hành. Phải chiến đấu bằng nhiều phương cách.

.
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2438513543089249/
.

HAI CHÚ THÍCH BỔ SUNG CHO HAI BÀI TÔI VIẾT VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ HOÀ THƯỢNG THÍCH TRÍ QUANG:

(*) Tinh thần truyền thống thường ở dạng tiềm tàng, có thể ở một phong trào chính trị có đông đảo quần chúng tham gia, nó không được phát biểu thành lời nói, văn bản. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trong tự truyện của Ngài (Nxb.TH.TP.HCM., 2011), Hoà thượng Thích Trí Quang viết rằng, Phong trào Phật giáo 1963 và sau đó không liên quan gì đến phong trào Văn thân, Cần vương.

https:// www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2432773880329882/

~~~~

(*) Trong “Trí Quang tự truyện” (Nxb.TH.TP.HCM., 2011), Hoà thượng viết, việc đưa bàn thờ Phật xuống đường khởi phát từ một sĩ quan VNCH. và quần chúng hưởng ứng, ban lãnh đạo Phật giáo chỉ thụ động thuận theo quần chúng.

https: //www. facebook. com/tranxuanan.writer/posts/2438513543089249/

T.X.A.
17-11-2019

.

3 TƯ LIỆU XEM THÊM:

1) Thích Trí Quang, “Trí Quang tự truyện” (2011):

Click to access triquangtutruyen.pdf


2) Ngô Thế Vinh & Phạm Đình Vy, “Phỏng vấn chín mươi sáu phút với Thượng toạ Thích Trí Quang (05.05.1966)”:
https://vandoanviet.blogspot.com/2019/11/phong-van-chin-muoi-sau-phut-voi-thuong.html
3) Vũ Hoài (Tiêu Dao Bảo Cự), “Trên đỉnh thanh xuân”, tiểu thuyết tự truyện, 2012:
https://vandoanviet.blogspot.com/2019/11/lanh-tu-toi-cao-viet-ve-hoa-thuong.html

.

NHÂN VẬT LỊCH SỬ CHÍNH TRỊ:
HOÀ THƯỢNG THÍCH TRÍ QUANG (1923-2019)

Phật giáo là một tôn giáo đúng nghĩa: Đức Phật Thích Ca đã rời bỏ ngai vàng đã dành sẵn, lìa xa chính trị để đi vào tâm linh, cứu khổ thế gian bằng tôn giáo thuần tuý. Tuy nhiên, Phật giáo vẫn đấu tranh khi bị áp bức. Hoà thượng Thích Trí Quang (1923-2019) là nhân vật lịch sử chính trị trong bối cảnh bị áp bức ấy, chứ không phải đấu tranh để nắm giữ chức vụ chính quyền.

Mặc dù như thế, nhưng trong giai đoạn 1963-1967 và cả giai đoạn còn dư hưởng phong trào Phật giáo đấu tranh sau đó (1967-1975), có dư luận Hoà thượng Thích Trí Quang ủng hộ, hậu thuẫn cho một số chính khách ứng cử, theo cách như một lãnh tụ điều khiển ngầm, khiến nhiều người nghi ngại Hoà thượng đã sai lạc với tôn chỉ của Đức Phật.

Sử học chắc chắn sẽ còn có nhiều công trình nghiên cứu, nhận định về nhân vật lịch sử chính trị Hoà thượng Thích Trí Quang (1923-2019). Hoà thượng là nhân vật lịch sử chính trị quan trọng.

Trong ngày kính đưa tiễn Hoà thượng về Cõi Niết bàn, xin có vài dòng mông muội trên.

T.X.A.
09-11-2019

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: