Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Quốc Phong & GS. Song Thành: Trao đổi về quãng thời gian “trống” trong tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh

Posted by Trần Xuân An trên 01.09.2019

hidden hit counter

.
          
.
Tư liệu tham khảo:
Về sự việc Paul Thành (Nguyễn Ái Quốc) đi lính (tại) Pháp, 1914-1918
Website HỒN VIỆT & tạp chí in giấy số 99
http://honvietquochoc.com.vn/bai-viet/5071-hv99-trao-doi-them-ve-quang-thoi-gian-trong-trong-tieu-su-chu-tich-ho-chi-minh.aspx

Nhan đề bài viết:
Trao đổi thêm về quãng thời gian “trống” trong tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày, giờ đăng: 16 Tháng Mười Hai 2015 2:15 CH
Tác giả bài viết: GS SONG THÀNH*

Sơ lược bài “Về một quãng thời gian “trống” trong tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của tác giả Quốc Phong, đăng trên tạp chí Xưa & Nay số 464, tháng 10-2015

Phần đầu bài viết, Quốc Phong căn cứ “vào các hiện vật gốc của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh” và theo các sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (của Trần Dân Tiên), Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử (NXB Sự Thật, 2006), điểm lại 3 sự kiện hiếm hoi trong 4 năm hoạt động đó của Bác Hồ: năm 1914, Nguyễn Tất Thành từ Anh gửi thư cho “Nghi bá đại nhân” (Phan Châu Trinh); năm 1915, Nguyễn Tất Thành (ký tên “Paul Thành”) viết thư cho Toàn quyền Đông Dương qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn nhờ chuyển cho cha đang sống ở Nam kỳ và năm 1917, Nguyễn Tất Thành rời Anh trở lại Pháp.

Phần tiếp, tác giả đặt vấn đề và đưa ra dẫn chứng từ cuốn sách Hồ Chí Minh với nước Nga (NXB Chính Trị Quốc Gia, 2013) và “từ những nguồn đáng tin cậy” về việc trong khoảng thời gian nói trên, Bác Hồ còn một hoạt động đáng chú ý khác: “Làm lính (tại) Pháp (vào thời gian) 1914-1918”.

Dẫn chứng từ sách Hồ Chí Minh với nước Nga, Quốc Phong nói đến “bản khai lý lịch được lập theo lời của chính Nguyễn Ái Quốc khai ngày 16-9-1934 để đến tháng 10 năm đó được nhập học Trường Quốc tế Lenin, với bí danh Linôp (Linof) có năm sinh là 1894”.

Dẫn chứng từ “những nguồn đáng tin cậy”, tác giả cho biết rằng đã được nghe thuật lại phần nào “lời trăn trối” của ông Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác Hồ) về việc Bác từng “đi lính thay cho con trai của Vua Bếp A. Escoffier, người Pháp, khi đó làm việc ở khách sạn Carlton, London, Anh với lời hứa sẽ giữ kín vụ việc này”. Người thuật lại cho tác giả nghe là TS Nguyễn Thị Tình, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh.
H.V.

Vừa qua, tạp chí Xưa & Nay số 464 (tháng 10-2015) đăng bài Về một quãng thời gian “trống” trong tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh của tác giả Quốc Phong, trong đó công bố một tư liệu liên quan đến tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nhiều bạn đọc quan tâm. Đó là một việc làm mạnh dạn, đáng hoan nghênh, bởi ở thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, người đọc có nhu cầu được tiếp cận với những sự thật lịch sử (chi tiết, số liệu, sự kiện, nhân vật) đã diễn ra trong quá khứ, có liên quan đến vận mệnh của quốc gia – dân tộc, để có thể nhận thức và đánh giá lại đúng-sai, công-tội một cách khách quan và công bằng hơn. Trước đây, nhiều nước quy định thời gian bạch hóa thông tin – dữ liệu mật quốc gia là sau 50 năm, rồi rút xuống 20 năm, nay nhiều nước quy định chỉ còn 10 năm, thậm chí như vừa qua ông cựu Thủ tướng Anh Tony Blair đã công bố sai lầm của Chính phủ Anh trong cuộc chiến tranh Iraq (thời ông làm Thủ tướng) chỉ sau có 7 năm.

Hy vọng rằng qua sự việc này, giới sử học sẽ kiến nghị với Quốc hội nên sớm ban hành Luật giải mật thông tin quốc gia, sau bao nhiêu năm thì người dân có quyền đòi hỏi nhà nước công bố cho biết sự thật về những sự kiện và con người mà họ cần được biết, vì trên thực tế, chúng xảy ra đã quá lâu, chẳng còn gì là “bí mật”, có thể đe dọa đến an ninh quốc gia nữa!

* * *

Trở lại vấn đề đặt ra, tôi vừa hoan nghênh, vừa muốn trao đổi thêm đôi điều với tác giả bài báo và tạp chí Xưa & Nay, nhằm giúp bạn đọc nhận thức được vấn đề bài báo nêu lên một cách đầy đủ và gần với sự thực hơn.

1. Về bản Lý lịch cá nhân của Nguyễn Ái Quốc, bí danh Lin, in trong bài báo

Hồ sơ, lý lịch Nguyễn Ái Quốc lưu ở Quốc tế Cộng sản rất nhiều, được ông khai ở những thời điểm khác nhau (1923, 1924, 1927, 1934, 1935, 1936, 1938…), tuy cơ bản là giống nhau nhưng cũng có đôi điều sai lệch, có khi ngược nhau, vì những lý do nào đó, nên cần được xem xét, đánh giá một cách thận trọng.

Rõ ràng bản chụp lý lịch in trong bài viết đã đăng, ngay trên dòng đầu đã ghi rõ là Lý lịch cá nhân của Nguyễn Ái Quốc, bí danh Lin, cuối trang cũng ghi rõ thiết lập dựa trên lời khai của đồng chí Lin, nội dung lời khai kết thúc ở năm 1927 (khi xảy ra phản biến của Tưởng Giới Thạch tháng 4-1927, ông Nguyễn phải theo phái bộ Bôrôđin trở về Mátxcơva)(1), ngày tháng khai là 16 tháng 9 và chữ ký của người thiết lập là Zêrốpxki; thế mà tác giả bài viết lại cho rằng đây là bản lý lịch Nguyễn Ái Quốc khai ngày 16-9-1934 (tức 7 năm sau) với bí danh Linốp để vào học Trường Quốc tế Lênin! (Nếu thế, bản lý lịch này phải bổ sung nhiều sự kiện hơn nữa: về thời kỳ hoạt động ở Xiêm, việc hợp nhất các nhóm cộng sản, lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là vụ án Hồng Kông). Nói cách khác, bản khai năm 1934, sau khi ra khỏi nhà tù Victoria ở Hồng Kông rồi thoát khỏi Thượng Hải, về được Mátxcơva, thì có nhiều vấn đề rắc rối, phức tạp mà ông Nguyễn phải giải trình kỹ hơn nhiều.

2. Về sự kiện Paul Thành tình nguyện đăng lính tại Anh

Với đa số bạn đọc trẻ, sự kiện này có vẻ lạ, hơi “giật gân”, nhưng trong giới nghiên cứu, không cần đến lời “trối trăn” của ông Vũ Kỳ với nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Tình mới được biết, mà họ đã biết từ lâu, do chính Cụ Hồ viết ra. Vấn đề là còn phải tìm hiểu, xác minh xem việc tình nguyện đăng lính đó có trở thành hiện thực hay không.

Trong bản thảo đầu tiên của cuốn Tiểu sử Hồ Chủ tịch (tiền thân của cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch công bố sau này), ở trang bìa ghi là do Xuân Hiên dịch, dự đoán là được khởi thảo khoảng năm 1947 (vì ở trang 5 có câu: Chủ tịch sinh năm Tân Mão, nghĩa là năm 1891, năm nay là năm Đinh Hợi, vậy Chủ tịch đã 56 tuổi). Ở trang 22 (bản thảo đánh máy này gồm 126 trang khổ A4, hiện lưu tại Viện Lịch sử Đảng), có viết về sự việc nhập ngũ này như sau:

“Chiến tranh thế giới bùng nổ! Nhận được tin tuyên chiến, ai nấy đều phấn khởi, chen chúc nhau trước Điện Buckingham, tung hô Hoàng đế và Hoàng hậu. Người ta vỗ tay hoan hô những binh sĩ sắp đi ra chiến trường. Cả dân tộc reo mừng như ngày hội… Nhưng lòng hân hoan không mấy chốc đã nhường chỗ cho lo lắng. Người Pháp ở Luân Đôn cũng nhận được lệnh tòng quân. Nhiều người khóc, nhất là đàn bà”…

“Ba rủ tôi cùng tình nguyện nhập ngũ vào quân đội Anh. Tôi bảo Ba: Chắc bạn không điên chứ! Vào quân đội là đi đánh nhau, là đi vào chỗ chết, có phải trò đùa đâu!”

“- Chúng ta phải tranh đấu cho tự do của các dân tộc khác gần như là tranh đấu cho dân tộc ta vậy”…

“Thấy tôi vẫn giữ vững lập trường, Ba đi một mình đến phòng tuyển lính. Nhưng Ba không đạt vì thiếu điều kiện. Ba trở về buồn lắm. Sau cùng, Ba đem số tiền dành dụm của mình hiến vào quỹ lạc quyên của Hoàng tử xứ Galles”.

Năm sau, bản thảo cuốn Tiểu sử Hồ Chủ tịch được sửa sang thêm, đánh máy lại, trình bày đẹp, sáng sủa, mượt mà hơn, tuy nhiên đoạn văn trên vẫn được giữ nguyên. Đây là bản được Trương Niệm Thức dịch sang Trung văn, in ở Thượng Hải tháng 6-1949, với tên Hồ Chí Minh truyện. Hiện nay ta vẫn chưa được biết Trương Niệm Thức – người dịch, là ai, Tàu hay ta, chỉ biết rằng trong chuyến đi Nam Kinh năm đó, có những người Việt sống lâu ở Tàu, rất giỏi Trung văn, như Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Đức Thụy, còn gọi là Thụy Tàu. Bản dịch rất trung thành, tuy đôi chỗ chưa dịch thật đúng ý tác giả. Cuốn này hiện vẫn lưu trữ trong Thư viện Quốc gia Hà Nội. (Tiếc rằng, khi cuốn Tiểu sử này được công bố ở Việt Nam lần đầu năm 1955 với tên mới Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, trải qua nhiều lần biên tập của giới tuyên huấn đầy thẩm quyền thời bấy giờ, cuốn sách đã bị lược bỏ đi nhiều nội dung quan trọng, rất có giá trị đối với nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay. Theo tôi, nếu thật sự tôn trọng Cụ Hồ, nếu có tái bản lần tới đây, ở thời điểm hiện nay, nên phục hoàn lại nguyên cảo của tác giả, như vậy sẽ giải minh cho nhiều điều hiện đang bị hiểu sai về Cụ, và như thế cũng sẽ trung thực với lịch sử hơn).

Qua đoạn văn được dẫn ở trên, ta thấy việc anh Ba tình nguyện tòng quân đâu phải là để trả nghĩa cho lòng tốt của ông đầu bếp Escoffier đối với cá nhân mình, mà phải thấy đó là một nghĩa cử đầy tinh thần quốc tế cao cả và trong sáng. Theo tôi, về sự kiện đăng lính này chưa đủ căn cứ để khẳng định và lý giải thuyết phục cho những băn khoăn dưới đây:

– Đăng lính vào quân đội Anh, thời gian từ 1914 đến 1918, mà lại ghi địa điểm là ở Pháp? Nếu vậy, trong những năm đóng quân và chiến đấu ở Pháp sao không thấy có thư từ liên lạc hoặc cuộc viếng thăm nào đến Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường… trong các năm ấy?

– Chiến tranh kết thúc, đang ở Pháp, lý do nào khiến anh Ba lại phải đi làm bồi bàn tận bên Mỹ, đi và về bằng cách nào, tiền đâu mà mua vé, phải đâu chỉ như vượt biển Manche có vài chục kilômét, mà phải vượt qua 2 đại dương, vào lúc không còn là bồi tàu, thủy thủ như ngày xưa? Có tư liệu nào khác xác nhận sự kiện này không? Theo Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử tập 1 (NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006), anh Thành chỉ đi Mỹ có một lần, khi nhận làm phục vụ trên tàu chở hàng, tới New York vào giữa tháng 12-1912, vài tháng sau lại theo tàu trở về Le Havre, rồi sang Anh. Sự kiện này được xác nhận bởi bức thư Nguyễn Tất Thành từ Mỹ gửi cho Khâm sứ Trung kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha là ông Nguyễn Sinh Huy. Thư còn kèm theo địa chỉ hòm thư lưu của anh Thành ở Số 1, đường Đô đốc Courbet, Le Havre, nước Pháp. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh ở nước ngoài (như Sophie Q. Judge) cũng tỏ ra không tin có sự kiện Nguyễn Ái Quốc đi Mỹ năm 1918-1919 (một điều rất khó thực hiện đối với hoàn cảnh Nguyễn Ái Quốc lúc ấy) rồi sau đó mới trở lại Paris đưa yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles ngày 18-6-1919, nên họ chỉ coi đó như là một động thái tuyên truyền của ông Nguyễn nhằm khuếch trương hoạt động của nhóm người Việt Nam yêu nước ở Paris khi ấy mà thôi.

Theo tôi, những sai lệch khi thiết lập tờ khai cũng dễ hiểu: một là khi đó (1927) ông Nguyễn chưa thật thạo tiếng Nga (ngay cả khi vào Trường Quốc tế Lênin năm 1934, ông vẫn theo học ở Ban tiếng Pháp); người hỏi bằng tiếng Nga, người trả lời bằng tiếng Pháp, sai lệch có thể xảy ra. Hơn nữa, đây chỉ là tờ khai khi vừa từ nước ngoài trở lại Mátxcơva, có tính chất thủ tục, cũng chẳng có dấu má xác nhận gì, nội dung khai cũng ngắn gọn, không thật cụ thể, chi tiết.

Điều này hoàn toàn khác với việc ông Nguyễn phải trả lời tới 40 câu hỏi trong bản khai khi mang tên mới Linof, hồi tháng 9-1934, để vào học Trường Quốc tế Lênin, đặc biệt là trong bản khai ngày 25-5-1936, có câu hỏi số 15: Có tham gia quân đội không, chức vụ gì? Câu trả lời là: Không (nghĩa là khác với lời khai ngày 16-9-1927).

Vì vậy, nếu cho rằng: sở dĩ trong các năm 1914-1918, vì anh Thành đi lính nên trong “Biên niên tiểu sử” có khoảng “trống” là một suy luận không có cơ sở. Ta được biết rằng thời gian đó, ở Paris, anh Thành chỉ có 2 người đồng bào quen thuộc là cụ Phan Chu Trinh và ông Phan Văn Trường. Chiến tranh nổ ra, cả hai ông đều bị nhà cầm quyền Pháp bắt giam vào ngục Santé, sau khi được thả ra, cụ Phan bị Pháp cắt trợ cấp, phải đi xuống một tỉnh phía Nam làm ảnh để sinh sống, ông Trường phải chuyển sang tỉnh Mayence làm luật sư, anh Thành mất địa chỉ liên lạc, nên thư từ không biết gửi về đâu, nếu có thì cũng đã bị một người Việt khác giữ hộ, do hai ông Phan bị bắt, sợ liên lụy, nên sau đó anh ta đã đốt đi.

Vậy trong thời gian 4 năm đó, nếu không đi lính, anh Thành làm gì và ở đâu, trước khi trở lại Pháp? Đây là một vấn đề đang được các nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở nước ngoài quan tâm, ra sức tìm kiếm, nhưng vẫn chưa có thông tin gì mới. Gần đây, báo chí Anh đưa tin: ông Martin Evans, giáo sư sử học châu Âu hiện đại tại University of Sussex (miền Nam nước Anh) có nói với BBC rằng ông mới được nghe một sự kiện mới: Hồ Chí Minh đã từng làm người nấu bếp và chuyên làm bánh trên chuyến phà nối Dieppe (Pháp) với Newhaven (Anh), vào thời gian ngay sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Có thể ông ấy đã nghe nói về chương trình 14 điểm của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson và Hòa hội Versailles, nên trong lúc tìm đường đến Paris, ông đã dừng lại đây một thời gian. Ông giáo sư nói chưa xác định được chính xác thời gian là bao lâu, nhưng đã làm việc với Hội đồng địa phương, và họ coi đây là một sự kiện lớn đối với Newhaven, muốn dựng tượng Hồ Chí Minh tại nơi đây để thu hút du khách, nhưng việc có nên dựng tượng hay không vẫn là điều đang còn tranh cãi(2).

Nhân đây, tôi cũng xin hé ra một nguồn tin, để các nhà nghiên cứu và bạn đọc có điều kiện thì đi sâu tìm hiểu, làm rõ thêm. Ở nước Anh, hiện có một bảo tàng tư nhân về Hồ Chí Minh mà còn rất ít người – nhất là người Việt Nam – được phép tiếp cận, vì chủ nhân muốn giữ bí mật, rất ngại bị làm phiền. Tôi có một người bạn cùng học thời trẻ, tốt nghiệp đại học tiếng Anh, tham gia quân đội, sau Hiệp định Paris, được cử vào Ban Liên hiệp quân sự 4 bên, trong Trại Davis ở Tân Sơn Nhất. Trước đó, hàng năm Chính phủ Anh vẫn có tài trợ một số học bổng cho chính quyền Sài Gòn để cử người đi tu nghiệp, nâng cao về tiếng Anh. Khi chính quyền về ta, số học bổng ấy vẫn chưa được phân phối hết, anh bạn sĩ quan của tôi may mắn được cử đi. Nơi học do họ chỉ định, trao một ngân phiếu đủ chi cho cả năm, còn ăn ở thì cho tự do tìm lấy theo sở thích. Bạn tôi may mắn được một gia đình người Anh ở thành phố thủ phủ của vùng Scotland, cho ở thuê. Khi biết anh nguyên là bộ đội giải phóng, lính của Cụ Hồ, thì họ lại càng quý hơn, coi như khách trong nhà, lễ tết, tiệc tùng nào họ cũng mời tham dự.

Noël năm ấy, chủ nhà mở tiệc mời bạn bè đón Giáng sinh, có nói trước với anh bạn tôi: “Tôi rất quý ông, vì ông là lính của Cụ Hồ – người mà chúng tôi rất kính trọng, người đã từng sống và làm việc ở Anh trong một số năm. Trong số thực khách đêm nay, tôi có mời vợ chồng ông bạn thân ở lâu đài đối diện sang dự. Vợ ông ấy vốn là con gái vị cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh, người đã tham dự Hội đồng Liên hiệp quốc năm 1947 về thành lập 2 nhà nước Israel và Palestine, bà được thừa hưởng của bố một gia tài đáng quý, trong đó quý nhất là mấy bảo tàng danh nhân, bảo tàng súng săn… cùng nhiều thứ khác. Ông sẽ rất ngạc nhiên và thích thú nếu được thăm bảo tàng danh nhân này, vì trong đó có một phòng về Hồ Chí Minh, ông là lính của Cụ Hồ, ông cần tranh thủ để được xem. Đêm nay, tôi sẽ bố trí ông ngồi cạnh vợ chồng ông bà ấy. Ông làm sao phải tranh thủ được cảm tình của họ, vì đến năm mới, ông bà ấy sẽ mở tiệc mời lại tôi, có thể họ cũng sẽ mời cả ông nữa. Đó là một cơ hội không nên bỏ lỡ”. Đúng như kế hoạch của ông chủ nhà, bạn tôi đã được mời sang dự tiệc đón năm mới ở nhà con gái cố Bộ trưởng Ngoại giao Anh.

Sau mấy chục năm xa cách, khoảng đầu năm 1990, tôi có việc đến Văn phòng Bộ Giáo dục, khi đó còn ở Lê Thánh Tông, tình cờ anh bạn nhận ra tôi, bèn hẹn xong việc thì đến chỗ anh ấy, khi đó đã chuyển ngành, đang làm Phó giám đốc Nhà xuất bản Giáo Dục. Trong không khí chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh nhớ lại và kể cho tôi nghe việc được thăm bảo tàng tư nhân về những năm tháng Paul Tất Thành sống ở Anh thời kỳ 1914-1918. Anh kể: theo thường lệ, trước khi vào tiệc, chủ nhân mời các thực khách đi thăm các bảo tàng của gia đình, do bố vợ đã dày công sưu tầm. Kỳ lạ là bảo tàng danh nhân nhưng chỉ trưng bày tư liệu về 3 con người vốn rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau: có 2 phòng về Stalin, 2 phòng về Hitler, 1 phòng về Hồ Chí Minh. Trước khi cho tôi vào thăm phòng trưng bày về Hồ Chí Minh, chủ nhân nói: “Tôi chỉ có thể mời ông xem với 2 điều kiện, một là ông không được thông báo lại sự việc này cho sứ quán Việt Nam ở Luân Đôn biết, vì biết thì họ sẽ quấy rầy tôi; hai là ông không được quay phim, chụp ảnh hay xin xỏ hiện vật này hay khác, vì mỗi thứ, chúng tôi cũng chỉ có một”. Tất nhiên là tôi phải hứa. Anh kể lại, tuy chỉ có một phòng, nhưng hiện vật khá phong phú, trước hết là những bức ảnh anh Thành khi làm bồi bàn ở khách sạn Carlton, mặc áo blouse trắng, mũ vải trắng, bưng khay rượu hay đồ nhắm, được phóng to treo quanh tường; có vài tủ kính trưng bày những hiện vật, đồ dùng sinh hoạt cá nhân của anh Thành vào thời gian sống ở Anh, nhất là có nhiều giá trưng bày những hồ sơ, tư liệu mà mật thám đã ghi chép, theo dõi về hoạt động của anh… Anh bạn tôi cho biết: vì thời gian thăm trước bữa ăn chỉ là cưỡi ngựa xem hoa, nên không thể đi sâu vào bên trong, vả lại thời gian cũng đã 25 năm, nên không thể nhớ lại được cụ thể, chi tiết.

Bạn tôi đã cung cấp cho tôi họ tên vợ chồng chủ nhà, vợ chồng chủ nhân bảo tàng, số nhà, tên phố, tên quận của thành phố mà anh ở tại Scotland… nhưng có dặn: nếu muốn đi và để được vào thăm phải rất công phu, càng không phải với tư cách nhà nước mà chỉ với tư cách thường dân đi du lịch, ví như tôi với ông trên danh nghĩa đã nghỉ hưu đi du lịch thì may ra họ mới tiếp!

Trong một lần làm việc với Thủ tướng Phạm Văn Đồng về cuốn sách của ông trên Tam Đảo, tôi có báo cáo với ông về chuyện này. Nghe xong, ông phá lên cười một cách sảng khoái: “Kỳ lạ, thật kỳ lạ, Bác Hồ của chúng ta quả là một vĩ nhân, chất vĩ nhân ấy được bộc lộ và chinh phục người xung quanh ngay từ khi mới chỉ là một anh bồi bàn! Tiếc rằng, tôi đã nghỉ hưu, nên không có cách nào giúp đồng chí thực hiện được chuyến đi thăm ấy nữa”.

Giá ngày nay, chúng ta có điều kiện được thăm bảo tàng tư nhân đó, chắc chắn sẽ có thêm nhiều sự kiện để lấp vào những khoảng “trống” trong tiểu sử Hồ Chí Minh thời đoạn 1914-1918, ở Anh, hay ở đâu đó, chưa thể khẳng định được.

Cuối cùng, tôi phải nói thêm rằng trong tiểu sử Hồ Chí Minh – đời công cũng như đời tư – còn nhiều điểm cần được làm rõ, không thể chỉ dựa vào một lời khai đơn giản, dù là ở lưu trữ Quốc tế Cộng sản, mà khẳng định ngay được. Một nhà hoạt động cách mạng đi Âu về Á, hai lần ngồi tù, một lần bị kết án tử hình, trăm lần phải thay tên đổi họ, từng bị bắt, được tha, rồi bị nghi vấn, bỏ rơi, vô hiệu hóa… phải lo che chắn tứ bề, cả phía địch lẫn phía ta, nên mỗi ứng xử đều phải rất khôn ngoan, kín cạnh, có điều có thể nói ra, có điều không thể nói… Chỉ riêng về năm sinh, lý lịch ông Nguyễn cũng khai ngày càng trẻ hóa: 1892, 1894, 1900, 1903…, tuổi giảm đi thì năm xảy ra sự việc cũng phải chuyển dịch theo cho khớp, ví dụ trong tiểu sử tự thuật viết ngày 17-4-1938, Nguyễn Ái Quốc khai: 1913 mới vào Sài Gòn, 1916 mới sang Anh, 1917 mới sang Mỹ, đến New York v.v…, nghĩa là đều vênh với tiểu sử chính thức.

Sau vụ án Hồng Kông, thoát lên Thượng Hải, về được Mátxcơva, trong bối cảnh sau đảo chính của Tưởng, quan hệ hai nước chưa được cải thiện và nối lại, thì đó quả là chuyện lạ kỳ mà Mátxcơva rất khó tin. Thư của bà Vêra Vaxiliêva – người phụ trách về Đông Dương – gửi Ban Phương Đông ngày 29-6-1935, có đoạn viết: “Qua lời kể của đồng chí ấy thì khó xác định tại sao đồng chí ấy lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp, tóm lại là tại sao đồng chí ấy lại nhận được một bản án nhẹ nhàng như vậy? Nhiều lần đã đề nghị đồng chí ấy viết một bản tường trình về những sự việc liên quan đến việc bị bắt, vào tù và được trả tự do, gửi cho chúng ta, nhưng đồng chí đã không thực hiện. Đồng chí ấy nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vaillant-Couturier trong thời gian ở Trung Quốc”(3).

Vì vậy, trong thời gian bị nghi vấn, điều tra này, ông Nguyễn chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là ngồi học, không được đi thực tế như các học viên khác, không được viết báo hay liên lạc với tổ chức đảng trong nước… Sau nhờ có sự giúp đỡ của André Marty, nguyên ủy viên BCT Đảng Cộng sản Pháp, ủy viên BCH Quốc tế Cộng sản, đang có mặt tại Mátxcơva, can thiệp, cử người đi Pháp gặp V. Couturier để xác minh, được V. Couturier xác nhận, được bà Vêra bênh vực, Manuinxki che chở…, ông Nguyễn mới thoát khỏi bị thanh trừng. Thực ra, trong vụ việc này có công của bà Tống Khánh Linh và V. Couturier, song công lớn lại thuộc về “một người bạn cũ” đã quen biết với ông Nguyễn ở Mátxcơva từ năm 1924, nay cũng có mặt tại Hội nghị quốc tế “chống chiến tranh đế quốc” ở Á châu, họp tại Thượng Hải năm ấy, nhưng Nguyễn Ái Quốc không thể nói ra, đơn giản vì ông này là người gốc Do Thái và có tư tưởng chống Stalin kịch liệt.

Bài đã dài, xin hẹn một dịp khác, khi có điều kiện, sẽ trở lại vấn đề này.

Tháng 11-2015
GS. S.T.
_____

* Nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh
(1) Theo Hồ Chí Minh – Biên niên tiều sử, t.1, tr.373, trong một thư gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc ghi: tháng 6-1927 về tới Mátxcơva.
(2) Tham khảo: BBC, Tượng Hồ Chí Minh ở thị trấn Anh, 20-5-2013.
(3) Thư in trong sách Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931-1933, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2004, tr.239.

Website HỒN VIỆT & tạp chí in giấy số 99
http://honvietquochoc.com.vn/bai-viet/5071-hv99-trao-doi-them-ve-quang-thoi-gian-trong-trong-tieu-su-chu-tich-ho-chi-minh.aspx
.

Tìm thấy ở Google sau khi đọc bản đăng trên tạp chí in giấy:
“VỀ MỘT QUÃNG THỜI GIAN ‘TRỐNG’ TRONG TIỂU SỬ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH”
— TOÀN VĂN BÀI BÁO CỦA QUỐC PHONG, ĐĂNG Ở TẠP CHÍ XƯA & NAY, SỐ 464, THÁNG 10-2015:
http://chuyencuachi.blogspot.com/2015/10/ve-mot-quang-thoi-gian-trong-trong-tieu.html

.
Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015
VỀ MỘT QUÃNG THỜI GIAN “TRỐNG” TRONG TIỂU SỬ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH *
Nguyễn Quốc Phong

Không chỉ với những nhà nghiên cứu mà bất kể ai đọc tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có chung một nhận xét (cũng là một nỗi băn khoăn) về một thời đoạn lịch sử hầu như có rất ít thông tin. Đó là thời gian của các năm từ 1914 đến 1917. Bộ sách “Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử” (Nhà xuất bản Sự thật, bản 2006), có tới 9 tập, thời gian từ 1914 đến 1917 thuộc về tập I (1890-1929) dày 436 trang (không kể phần sách dẫn) thì 4 năm này chỉ chiếm có…6 trang và với…3 sự kiện. Năm 1916 không có sự kiện nào và 3 năm còn lại mỗi năm có đúng 1 sự kiện.

Nội dung các sự kiện ấy gồm: Năm 1914  (tháng 8, đầu tháng) thư Nguyễn Tất Thành từ thủ đô nước Anh (London) gửi tới “Nghi bá đại nhơn” (Phan Châu Trinh) nội dung chủ yếu nói cảm nghĩvề cuộc Đại chiến thứ Nhất vừa bùng nổ ở châu Âu (và trong lá thư này cũng nhắc lại rằng trước đó vài tháng cũng đã gửi một lá thư); Năm 1915  (tháng 4 ngày 16) Nguyễn Tất Thành ký tên “PaulThành” từ Anh viết thư cho Toàn quyền Đông Dương qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn nhờ chuyển cho cha đang sống ở Nam Kỳ (nhưng không đến tay vì không tìm thấy địa chỉ); Năm 1917 (khoảng cuối năm) Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp. Về nguồn thông tin thì 2 sự kiện vào năm 1914 và 1915 căn cứ vào các hiện vật gốc của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh ; riêng thông tin của năm 1917 thì căn cứ vào sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” (tác giả : Trần Dân Tiên).

Trước thời gian đó, năm 1913, Biên niên tiểu sử cho biết Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ trở về cảng Le Havre (Pháp) sau đó sang Anh (khoảng quý I) và vẫn duy trì thư từ với Phan Chu Trinh đang ở Pháp. Khoảng cuối năm (1913) thì có một chi tiết đáng chú ý : Để kiếm sống, Nguyễn Tất Thành làm thuê cho khách sạn và chuyển tới làm phụ bếp cho Khách sạn Carlton tọa lạc tại đường Haymarket nổi tiếng ở London. Nhưng có một chi tiết đáng chú ý là “Anh làm việc dưới sự điều khiển của vua đầu bếp người Pháp Étcốpphiê (Escophier)”. 

Mục sự kiện này còn mô tả : “Công việc của anh là dọn dẹp bát đĩa và đồ đạc. Đáng lẽ vứt thức ăn thừa vào một cái thùng thì anh lại để riêng những thức ăn còn sạch sẽ, có lúc làn một phần tư con gà hoặc còn nguyên cả miếng bit- tết để đưa lại cho nhà bếp.

Ông già Étcốpphiê chú ý tới việc làm đó và hỏi anh : Tại sao anh không quẳng thức ăn thừa vào thùng như những người khác ? Tất Thành trả lời : Không nên vứt đi. Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy. 

Étcốpphiê vừa nói vừa cười có vẻ bằng lòng : Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dậy cho anh cách làm bếp, làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền. Những người trong khách sạn cho đó là một việc lớn vì lần đầu tiên ông vua bếp làm như thế”. Nội dung này những người làm sách Biên niên trích ra cũng từ cuốn sách của Trần Dân Tiên (Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch).

Về nhân vật “Vua đầu bếp” Étcốpphiê có rất nhiều tài liệu giới thiệu vì ông vốn là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử ẩm thực thế giới.Georges Auguste Escoffier sinh ngày 28-10-1846 tại Villeneuve-Loubet và mất vào ngày 12-2-1935 tại Monaco, là một đầu bếp người Pháp nổi tiếng, từng được vị Hoàng đế nước Đức đánh giá là “vị vua của các đầu bếp, đầu bếp của các vị vua”…Tiểu sử của nhân vật này cũng xác nhận là từ năm 1899 Étcốpphiê chuyển sang hành nghề tại Khách sạn  Carlton ở kinh đô nước Anh và làm việc cho tới năm 1919 thì về hưu. Vì thế chi tiết : vào năm 1913, Nguyễn Tất Thành đến làm việc tại khách sạn này có cơ hội được gặp và được vị đầu bếp nổi tiếng nhận làm học trò là hoàn toàn có cơ sở và cũng được hồi ức của hậu duệ Vua Bếp ghi nhận (tham khảo bài “Vua đầu bếp người Pháp Écoffier” của Chu thị Ngọc Lan, Xưa&Nay 9-2015).

Cũng liên quan đến khoảng thời gian này, có một tư liệu có giá trị và chứa đựng một thông tin rất quan trọng được Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm từ các cơ quan lưu trữ ở Nga (12-2006) và được công bố trong cuốn sách “Hồ Chí Minh với nước Nga”do Ban Tuyên giáo Trung ương cùng Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia tổ chức xuất bản năm 2013( sách có lời giới thiệu của Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh). 

Đó là Bản khai lý lịch được lập theo lời củachính Nguyễn Ái Quốc khai ngày 16-9-1934 để đến tháng 10 năm đó được nhập học Trường Quốc tế Lênin. Với bí danh Linôp (Linof) có năm sinh là 1894, bản khai này đề cập tới nhiều chi tiết (xem ảnh 1&2) trong đó có một chi tiết đáng chú ý tại mục khai về công việc (nghề nghiệp) qua từng thời gian hoạt động : “Làm lính (tại) Pháp (vào thời gian) 1914-1918 (xem ảnh 3& 4)”.
[Chú Thích 3 – 4]

Thời gian 1914-1918 là lúc cuộc Chiến tranh thế giới đang diễn ra chủ yếu tại Châu Âu mà hai nước Anh và Pháp là đồng minh chủ chốt (trong khối Entente gồm nhiều nước như Nga, Italia, Mỹ, Bỉ v.v…) chống lại Liên minh Trung tâm gồm Đức, Áo-Hung, Ôttôman, Bungari…). Cuộc Đại chiến này nổ ra vào ngày 28-6-1914 và ngưng chiến ngày 11-11-1918 với chiến thắng của phe Entente.

Liên quan đến Hồ Chí Minh, khi đó mang tên Paul Thành, thì trong sách “Biên niên tiểu sử” ghi nhận thêm nột số chi tiết : Khoảng cuối năm 1917 Nguyễn Tất Thành từ Anh trở về Pháp (trang 58) ; trong năm 1918, Theo lời kể của Misen Decsini (Michele Zecchini), đảng viên Đảng Xã hội Italia thì Nguyễn Tất Thành lúc đó đang là “đại diện được ủy quyền của Hội Lao động hải ngoại đang náu mình trong một căn phòng cho thuê ở phố Charrone” và chưa có giấy tờ hợp pháp mà vào thời điểm này chiến tranh chưa kết thúc nên chính quyền Pháp đang tăng cường vây ráp, bắt bớ lính thuộc địa đào ngũ, do vậy Nguyễn Tất Thành phải ẩn náu kín đáo trong căn nhà một người bạn gốc Tuynidi tên là Moktar (trang 59). Và cũng trong năm 1918, theo một tài liệu được đăng trên báo Cứu Quốc ngày 6-11-1947 thì Cựu hoàng Thành Thái cho biết Nguyến Tất Thành có gặp Ngài tại nơi cư ngụ là đảo Réunion cũng là lãnh thổ hải ngoại của nước Pháp (trang 60) rồi đến đầu năm 1919 thì gia nhập Đảng Xã hội Pháp (trang 61). 

Tất cả những dữ kiện ấy cho thấy khớp với lời khai trong Lý lịch được lập vào năm 1934, Nguyễn Tất Thành đã “làm lính” tham gia cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất sau khi đã làm việc tại bếp của Khách sạn Carlton ở Thủ đô nước Anh vào thời điểm Vua Bếp Escoffier đang điều hành tại đây. Những dữ kiện tuy ít ỏi nhưng cũng cho thấy mối quan tâm bao trùm của Nguyễn Tất Thành là cuộc chiến tranh. 

Trong lá thư gửi Phan Châu Trinh đầu tháng 8-1914, Nguyễn Tất Thành viết : “Tiếng súng đang rền vang và thây người đang phủ trên đất. Năm cường quốc đã vào vòng chiến và chín nước đang đánh nhau. Cháu chợt nhớ đến thư cách đây mấy tháng đã viết về cơn giông bão này. Định mệnh sẽ dành cho cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ là người chiến thắng… Cháu nghĩ trong vòng ba, bốn tháng nữa, số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều” (trang 55).

Còn trong lá thư gửi cho Toàn quyền Đông Dương để nhờ liên hệ với người cha của mình đang sống ở Nam Kỳ đề ngày 16-4-1915, Nguyễn Tất Thành ký với cái tên mới là “Paul Thành”. Cả 2 lá thư này đều được gửi từ nước Anh. Và đến cuối năm 1917, người thanh niên Việt Nam này mới trở lại nước Pháp vào thời điểm cuộc chiến chưa kết thúc và lâm vào hoàn cảnh phải “ẩn náu” để tránh các cuộc truy lùng của chính quyền Pháp đối với những binh lính đào ngũ …Như thế, có thể giả thiết rằng Nguyễn Tất Thành đã tham gia lực lượng quân đội của nước Anh trong thời gian đầu của cuộc chiến tranh thế giới và với một cái tên mới là “Paul Thành”.

Giai đoạn 1914-1918 này tuy không dài nhưng nó ở vào một thời điểm có ý nghĩa như một bước ngoặc quan trọng đối với Nguyễn Tất Thành ở độ tuổi xấp xỉ 30 (theo tiểu sử chính thức có năm sinh 1890 thì ở độ tuổi từ 24 đến 28 tuổi), chuẩn bị cho những hoạt động chính trị diễn ra ngay sau khi cuộc Chiến tranh Thế giới chấm dứt. Cùng với cộng đồng những người Việt Nam yêu nước ở Pháp (cùng ký tên Nguyễn Ái Quốc trong Bản Yêu sách của Nhân dân An Nam); và với tên gọi Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp và trở thành một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp, tất cả chỉ diễn ra trong 2 năm 1919 và 1920. Dù mới chỉ là giả thiết thì việc nhận thức về tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh  trong giai đoạn lịch sử này vẫn còn cần được nghiên cứu sâu sắc hơn nữa trên cơ sở phát hiện thêm những sử liệu mới. 

Bài viết này được viết bởi một sự thôi thúc sau khi tác giả được tiếp xúc với những thông tin đáng tin cậy từ những nguồn đáng tin cậy. Cách đây 5 năm, tôi được gặp Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình, người đã gắn bó cả cuộc đời nghề nghiệp công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh và từng đảm nhận những cương vị quan trọng, là Phó giám đốc (1997-1999) rồi Giám đốc (1999-2007). Chồng bà, ông Nguyễn Văn Đoàn, từ lúc còn trẻ đã có vinh dự được giao nhiệm vụ  bảo vệ tiếp cận Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông cũng có mặt vào thời điểm các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ túc trực bên giường bệnh chứng kiến giây phút Bác Hồ ra đi đến “thế giới người hiền” vào ngày 2-9-1969. Sau này, ông cũng tốt nghiệp ngành Lịch sử rồi trở thành Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.

[Ông Nguyễn Văn Đoàn, người đứng góc trái ảnh, sau Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn cùng các vị trong Bộ Chính trị lúc Bác chuẩn bị trút hơi thở cuối cùng. Ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh]

Chính tại cuộc tiếp xúc này, Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình đã hé cho tôi biết một câu chuyện nghề nghiệp mà bà giữ kín từ lâu. Đó là những lời căn dặn của một trong những người gần gũi nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cương vị là thư ký riênggắn bó suốt từ thời kỳ Cách mạng mới thành công,đó là ông Vũ Kỳ. Một thời gian, ở cương vị Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như sau này khi đã nghỉ hưu, ông Vũ Kỳ cũng đã công bố một số thông tin mà ông nắm được cũng như viết hồi ức liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng với một nguyên tắc rất cẩn trọng, điều mà ông luôn truyền lại cho các đồng nghiệp trẻ trong cơ quan…

[Chú thích: Tổng Biên tập Xưa & Nay Dương Trung Quốc trong lần tiếp xúc vợ chồng ông bà Đoàn – Tình để xác minh thêm tính xác thực của tư liệu.
Ảnh: Quốc Phong]

15 giờ chiều ngày 24-6-2004, nằm trên giường bệnh ở Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, cảm thấy thời điểm “đi theo Bác Hồ” đã đến gần, ông Vũ Kỳ đã triệu tập Giám đốc Nguyễn Thị Tình và một số cán bộ chủ chốt của Bảo tàng Hồ Chí Minh đến để căn dặn lại những điều cần thiết. Tựa như lời “trăn trối” với các đồng nghiệp có trách nhiệm của mình, ông Vũ Kỳ nêu một số vấn đề liên quan đến tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đó có một nội dung gắn với giai đoạn 1914-1918 mà bài viết này quan tâm.

Trong câu chuyện của mình, ông Vũ Kỳ có nhắc đến việc Bác Hồ mời cơm “Anh Cả” Nguyễn Lương Bằng, một nhà lãnh đạo gương mẫu được Bác Hồ quý trọng và tin cậy. Ông Vũ Kỳ có mặt trong bữa cơm đó và nghe được câu chuyện trao đổi riêng tư giữa hai nhà cách mạng lão thành. Bác Hồ kể cho “Anh Cả” câu chuyện việc mình đã nhận đi lính thay cho con trai Vua Bếp Escoffier khi Chiến tranh thế giới bùng nổ. A.Escoffier là người Pháp đến hành nghề ở nước Anh và có một con trai tên là Paul Escoffier vào thời điểm ấy đến tuổi đăng lính nghĩa vụ. Vua bếp là người giàu có và e ngại con trai của mình phải ra mặt trận. Người phụ bếp “An Nam” trẻ tuổi từng gây ấn tượng và được Vua Bếp giành những ưu ái (như sách của Trần Dân Tiên đã thuật lại), đã nhận lời đi lính thay cho anh con trai của Vua Bếp với lời hứa sẽ giữ kín vụ việc.

Bữa cơm Bác Hồ mời Anh Cả Nguyễn Lương Bằng theo ông Vũ Kỳ thuật lại thì diễn ra vào những năm cuối đời của Bác, tức là câu chuyện về việc đi lính của Bác đã diễn ra, cùng lời hứa đã được giữ kín hơn nửa thế kỷ. Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình cũng cho biết nội dung toàn bộ những lời của ông Vũ Kỳ đã được Bảo tàng Hồ Chí Minh báo cáo bằng văn bản gửi tới các cơ quan có trách nhiệm.  Ông Vũ Kỳ cũng còn cung cấp thêm chi tiết là sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng tháng Tám và đã tuyên bố nước Việt Nam độc lập, nhưng ngay cả các đồng chí trong Đảng Cộng sản Pháp cũng còn chưa biết “Hồ Chí Minh” là ai ? Để giúp các đồng chí Pháp nắm được thông tin nhằm tạo mối liên hệ giữa cách mạng hai nước, Bác Hồ đã tìm cách thông tin theo những phương thức rất truyền thống mà khi hoạt động ở Pháp với các đồng chí quốc tếcủa mình vẫn sử dụng. Một “bức thư tăm” (viết trên giấy rồi vê nhỏ lại như que tăm) đã được bí mật chuyến tới Maurice Thorez lúc đó đã là Tổng bí thư Đảng Cộng san Pháp vốn quen biết Nguyễn Ái Quốc trong các hoạt động của Đảng ở Pháp hay ở Quốc tế Cộng sản và lúc này cũng tham gia Chính phủ của nước Pháp sau khi được giải phóng khỏi chủ nghĩa phát xít. Bức thư tăm chỉ mang môt nội dung ngắn gọn : “Gửi đồng chí Thorez/ Paul chính là Hồ Chí Minh”…

Cách đây 5 năm, khi Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình kể lại cho tôi câu chuyện này với lời căn dặn là chỉ biết vậy. Còn việc công bố, cứ theo quy cách của Bảo tàng Hồ Chí Minh thì rất nghiêm nhặt. Nhưng tôi lại nghĩ rằng, việc công bố những chi tiết này sẽ góp phần định hướng cho các nhà nghiên cứu có cơ hội đào sâu hơn các nguồn tư liệu để làm sáng tỏ hơn các hiểu biết về một thời kỳ rất quan trọng trong quá trình hình thành một “nhà cách mạng chuyên nghiệp” để rồi trở thành một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng rộng lớn vượt khỏi khuôn khổ quốc gia, dân tộc của mình. Mọi chi tiết chỉ góp phần làm đậm nét hơn những trải nghiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn trẻ đã trải qua một cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất với tích lũy những tri thức về chiến tranh và cách mạng để sau này đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn trong việc biến Cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai thành cơ hội cho cuộc Cách mạng Giải phóng dân tộc Việt Nam thành công cũng như trong chỉ đạo các cuộc kháng chiến sau này. Những chi tiết ấy cũng làm sáng tỏ hơn phẩm chất của một con người hành động vì nghĩa tín với những người cùng thời như gia đình của Vua Bếp Escoffier. 

Nghĩ vậy mà tôi quyết định viết bài này sau 5 năm cân nhắc và tôi rất mừng khi thấy ông bà Nguyễn Thị Tình là những người có những tình cảm , cũng là trách nhiệm sâu sắc với Bác Hồ, đồng tình với mong muốn giúp các nhà nghiên cứu có định hướng tìm hiểu sâu sắc hơn cuộc đời và hành trang của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn lịch sử này với niềm tin vững chắc rằng kết quả của nó càng làm sáng hơn tấm lòng và phẩm cách của Bác Hồ vĩ đại

*. Bài đăng trên Xưa & Nay, số tháng 10/2015
Nguồn bản chữ vi tính:
http://chuyencuachi.blogspot.com/2015/10/ve-mot-quang-thoi-gian-trong-trong-tieu.html

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: