Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Archive for Tháng Mười 1st, 2015

PHẢN ĐỐI TẬP CẬN BÌNH PHÁT BIỂU VỀ BIỂN ĐÔNG TẠI MỸ

Posted by Trần Xuân An trên 01.10.2015

hidden hit counter

 
.

PHẢN ĐỐI TẬP CẬN BÌNH PHÁT BIỂU VỀ BIỂN ĐÔNG TẠI MỸ

Phản đối Tập Cận Bình. Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Đảng cầm quyền và Nhà nước hiện hành tại Việt Nam nước ta còn mắc nợ nhân dân Miền Trung và cả nước việc để mất Hoàng Sa, những bãi, đá ở Trường Sa. “Giải phóng Miền Nam” nhưng khiến Miền Nam mất biển, đảo là tội rất lớn. Bất cứ giá nào Đảng cầm quyền, Nhà nước hiện hành cũng phải lấy lại HS., TS. cho bằng được.

T.X.A.
28-9 HB15 (2015)

.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer
.

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

MẨU GIẤY CÁNH BƯỚM

Posted by Trần Xuân An trên 01.10.2015

hidden hit counter

 
.

MẨU GIẤY CÁNH BƯỚM
truyện ngắn
Trần Xuân An

1

Sau khi hai người bạn gái cùng tên Nhị, cùng lớp và cùng tổ học tập ra về, sáu cậu học sinh lớp 10C không hẹn nhưng đều trông theo. Mỗi người có một cách trông theo, và đều cố tình che giấu ánh mắt trông theo đó, bằng nụ cười, bằng cái phác tay, bằng sự gấp lại cuốn sách trước mặt, bằng tiếng ực của ngụm nước trong cuống họng…

Một mảnh giấy khoảng nửa trang vở không biết của Nhị-tóc-đen hay của Nhị-tóc-nâu, vì cả hai người bạn gái ngồi kề nhau, mảnh giấy gấp tư lại nằm trên bàn, trước mặt, ở giữa, một vị trí cách đều cả hai cô nàng. Chỉ nét chữ, sau khi mảnh giấy được Xuân (*) nhanh nhẩu mở ra, mới cho sáu cậu học trò biết ai đã vô tình hay cố ý để lại. Họ lại càng ngẩn ngơ khi biết chính Nhị-tóc-nâu, chứ không ai khác, đã viết vài dòng chữ không ghi tên người mà cô nàng muốn gửi đến: “Gương mặt ấy trông giống tranh kí hoạ chân dung Nhất Linh lắm đó. Nhất Linh, ơi cái ông tác giả ‘Bướm trắng’, nhà văn mà mình quý trọng và yêu mến vô vàn”.

Một trận bàn tán không thể không nổ ra tức thì.

– Trời đất! Ai vậy ta? – Đăng không thể kìm chế được, hỏi ngay, như thể tự hỏi.

Sáu cậu trông nhau. Trong óc mỗi anh chàng đều so sánh sáu gương mặt chàng trai cùng tổ, trong đó có mình, xem thử ai giống với tranh kí hoạ về Nhất Linh nhất.

– Tranh vẽ Nhất Linh, mà ông hoạ sĩ nào đó chỉ huơ tay, phóng vài nét bút thế này, chỉ lấy cái thần thái thôi, thì ai trong sáu đứa bọn mình cũng có thể suy đoán lung tung cả! – Tấn nói.

– Mình không nghĩ như vậy. Mình thấy hai câu này chỉ nhằm gửi cho Nhị-tóc-đen thôi. Viết trên các mẩu giấy chuyền qua chuyền lại là cách mấy ả thường “trò chuyện trong giờ học” đó mà! Đây là giờ học tổ, hai ả cũng bày trò theo cách đó. – Văn nói, ra vẻ rành về các “thói” của nữ sinh.

Một trận cười bùng lên từ sáu cái miệng mở rộng.

– Nhất Linh có để râu mép mà! – Công nói, làm trận cười chung chợt to lên rồi phụt tắt.

Trong sáu cậu học sinh lớp mười, cũng đã có vài ba cậu đã có ria mép tơ, xanh xanh mờ mờ.

Công tự phản biện ngay, chừng như tự biện hộ cho những sợi râu mép tơ chưa chịu mọc của chính mình:

– Râu? Không quan trọng cái đặc điểm ấy đâu!

Phương cười khẽ, tiếp lời trong trạng thái như thể nghĩ ngợi:

– Con gái giống cha, chẳng lẽ con gái cũng phải có râu mép, râu cằm! Chán gì trường hợp cô gái này hao hao giống ông trung niên nọ, bà già này giống cậu thanh niên kia! Kể gì râu với chẳng râu!

Dẫu họ muốn nán lại thêm chốc nữa để bàn cho ra chuyện thì nắng ngoài sân nhà Tấn cũng đã gần tắt rồi, và mẹ Tấn chừng như cũng sắp dọn bữa cơm tối cho gia đình. Họ phải trả chiếc bàn tròn họ đang quây quanh lại cho mẹ Tấn.

Trên đường về nhà, Xuân ngẫm nghĩ về hai câu viết gây bàn tán kia của Nhị-tóc-nâu. “Ấy”, rõ là “đằng ấy”, chứ gì nữa! Hay “ấy” không phải đại từ nhân xưng đầy thân mến, mà chỉ như “that” trong tiếng Anh thôi? That face looks like… Có phải cô nàng muốn gửi một mẩu tin nhắn đến ai đó trong sáu đứa con trai bạn học cùng tổ? Cũng có thể, trời đất ơi, sao lại không, cô nàng viết mẩu giấy ấy để gửi cho chàng trai ở lớp trên hay một gã nào đó ở bên ngoài trường học! Một lần nữa, như khi còn ngồi với nhóm bạn, Xuân cảm thấy một thoáng cảm giác bủn rủn cả người như thể cơn gió nào đó bất chợt thổi trúng vào chính Xuân, và một lần nữa, Xuân ghìm mình lại, không nghĩ tiếp, cố mạnh bước chân hơn.

Chiều chưa tắt hẳn, nhưng hai dãy nhà hai bên đường phố Duy Tân, Phan Chu Trinh và Trần Cao Vân đã sáng ánh đèn điện.

2

Hơn một tuần trôi qua, kể cả chủ nhật phải họp tổ, không ngày nào hai cô bạn gái cùng tên Nhị và sáu chàng học trò cùng lớp 10C không gặp nhau, nhưng chuyện mẩu giấy có hai câu viết được (hay bị) bỏ quên trên bàn đó không ai đem ra bàn tán nữa. Vì ngại ngần, cũng không cậu nào dám hỏi hai cô nàng kia cho rõ lẽ. Lẽ khác, không biết có phải do ảnh hưởng từ tiểu thuyết “Bướm trắng” của Nhất Linh không, tác phẩm mà cả tổ học tập của họ đang phải hội ý, trao đổi, phân công với nhau để viết thành bài thuyết trình theo yêu cầu của cô giáo quốc văn, nên chừng như cậu nào cũng muốn để cho mẩu giấy lửng lơ, mơ hồ, như có như không, như thực như mộng, như cánh bướm của Trang Tử, như nhân vật cô gái tên Thu thắp lên khát vọng tình yêu đồng thời nung đốt nỗi đau không đành yêu, không nỡ yêu của chàng Trương bị bệnh lao nan y, sắp chạm mặt với cái chết bởi bệnh ấy, trong “Bướm trắng”. Tất nhiên, đó là ảnh hưởng xa, ảnh hưởng từ cái chất của “Bướm trắng”, chứ hiện thực của tổ học tập này trong veo, hồng hào sức sống thế kia!

Nhưng dẫu sao cũng hình như cánh bướm trắng – là mẩu giấy đó – đã tạo nên một chút men rượu nếp ngọt hay cơm rượu nếp mà trẻ con lên mười cũng được phép dùng trong ngày Tết Đoan ngọ, ở tâm trí sáu chàng trai đã 16 tuổi. Hình như, vâng, hình như đã dậy men thi đua đào sâu vào tác phẩm “Bướm trắng” để trổ tài.

Xuân, Đăng và Tấn đã có chút xanh xanh râu tơ trên mép. Đó là ba chàng trai thỉnh thoảng bất giác hay có ý thức sờ tay lên mép của mình với cảm xúc và ý nghĩ riêng của mỗi người. Chắc chắn cả ba đều cảm thấy mình buồn cười, nhưng vẫn yên tâm là chỉ mình biết lấy mình mà thôi.

Riêng Xuân, anh chàng này từ buổi chiều hôm ấy đã thấy trong mình và có lẽ ở cả bạn bè nam sinh cùng tổ, có một mối mâu thuẫn nẩy sinh trong tâm trí. Xuân tự bảo, chẳng lẽ Nhị-tóc-nâu muốn bày tỏ cảm nghĩ của cô nàng rằng, gương mặt đằng ấy nào đó (biết đâu là gương mặt mình?) sở dĩ được Nhị-tóc-nâu “chú ý” là bởi phảng phất chút hào quang thần sắc, đường nét của nhà văn danh tiếng Nhất Linh? Cô nàng thích mình vì mình trông giống Nhất Linh, tức là thích cái-trông-giống-như-là chứ chẳng phải thích chính con người mình với nét mặt đích thực của mình! Đau, và xấu hổ quá! – Xuân suy diễn theo tâm trạng của chính anh chàng. Không, lòng tự trọng và tự tin ở năng lực của mình, chứ không phải của ai khác, không cho phép mình hi vọng, tự thích thú về điều đó. Vả lại, học sinh học tập tác phẩm của Nhất Linh, chứ có phải học tập để trở thành bản sao của nhà văn ấy đâu! Mặt khác, thời của Nhất Linh khác, thời của Xuân và bạn bè anh khác.

Xuân tin Nhị-tóc-nâu cũng có khuynh hướng như anh chàng với cái riêng của chính cô nàng.

Xuân trượt dài theo lập luận đầy suy diễn chủ quan của mình: Mẩu giấy bỏ quên có hai câu viết kia chỉ là cái cớ để Nhị bày tỏ với ai đó mà thôi. Với chính Xuân? Xuân sờ tay lên bộ râu mép lông tơ mờ xanh của mình, thấy bừng lên trong mình men rượu nếp ngọt.

Xuân thấy trước mặt mình, trên vuông cỏ xanh của sân trường, chấp chới, vờn bay, uốn lượn vừa mơ hồ, vừa rất thật một con bướm trắng. Mỗi bên thân bướm là một đôi cánh mỏng. Không, không phải. Chỉ là ảo giác thôi chăng, từ mẩu giấy trắng gấp tư, mới mở ra một nửa, và gió nào đã thổi bay bay, lượn vòng…

3

Phòng học của lớp 10 ban văn chương, sinh ngữ C đã khác với mọi ngày trong hai tiết đầu – đó là hai trong sáu tiết quốc văn mỗi tuần. Một bộ bàn ghế dài học sinh, dành cho năm người của tổ thuyết trình lần này, được đặt kề trước bục gỗ, bảng xanh, đối diện với bạn bè trong lớp đang ngồi phía dưới.

Mặc dù là đề tài tự do, được chọn ngoài chương trình, với sự gợi ý của giáo sư bộ môn, nhưng hai tiết luyện kĩ năng này vẫn thuộc chính khoá.

Đăng đặt ngay trên bàn thuyết trình một tấm ảnh chân dung Nhất Linh và cuốn tiểu thuyết “Bướm trắng”. Cả hai đều được để trên giá đọc sách, xoay mặt về phía dưới lớp. Xuân cũng đã ghi đề tài thuyết trình trên bảng xanh bằng phấn trắng, và Xuân lại vẽ thêm một con bướm với hai đôi cánh theo đường nét kĩ hà, trông vừa giống mẩu giấy gấp tư, mới mở ra một nửa, thành hình chữ V, lại trông như bướm trắng thật. Ý nghĩa của nó, đến cô giáo quốc văn của lớp cũng không thấu hết ngụ ý, nhưng sáu anh chàng lại hiểu tận tường.

Xuân, Đăng, Tấn và Công chia nhau mỗi người thuyết trình một đề mục bài viết về “Bướm trắng”. Nhị-tóc-nâu đọc những đoạn trích dẫn nguyên văn từ tiểu thuyết ấy. Các bạn khác của tổ thuyết trình lần này vẫn ngồi dưới lớp, sẵn sàng tinh thần để cùng năm bạn kia trả lời các chất vấn từ giáo sư bộ môn và cả lớp.

Sau một tiết thuyết trình và đọc trích đoạn, cả lớp vào tiết hai với phần thảo luận, tranh luận. Phần này, cả lớp hầu hết bám chặt vào đề tài, nhưng vẫn có một vài ý kiến lại trượt sang tiểu sử tác giả và cả những tác phẩm khác của ông. Gây bùng nổ nhất là ý kiến của Biện, thuộc tổ khác, đang chuẩn bị cho cuộc thuyết trình lần tới:

– Thưa cô và các bạn! Tổ thuyết trình cứ lặp đi lặp lại về hình ảnh “bướm trắng”, nhưng tuyệt nhiên chẳng đả động gì đến một chi tiết rất đáng lưu ý. Thật ra, bướm trắng chính là cái yếm, nội y của nhân vật Thu, treo trên sào phơi, mà nhân vật Trương len lén sờ vào, hôn khẽ. Chiếc yếm, nội y phơi giữa nắng, đứng xa trông tới, thấy như cánh bướm trắng đang bay bay. Chỉ thế thôi. Nhân vật Trương rất bệnh hoạn về thể chất và cả tâm lí.

Cả lớp cười oà, cười sặc, cười bậm môi. Có một ít nữ sinh cúi rạp mặt xuống bàn, có lẽ mặt đang đỏ gấc hay tái mét. Cô giáo quốc văn vẫn bình tĩnh mỉm cười.

Xuân nhanh trí, đứng dậy:

– Thưa cô và các bạn! Đầu năm, chúng ta có học văn chương truyền khẩu. Chắc các bạn còn nhớ câu quan họ: “Thương nhau cởi áo cho nhau / Về nhà mẹ hỏi, qua cầu gió bay”. Và, hẳn ai cũng biết câu ca dao này: “Áo xông hương của chàng vắt mắc / Đêm em nằm em đắp lấy hơi”. Ở trường hợp nhân vật Trương, có lẽ anh ta hơi quá đáng trong hành vi đối với chiếc áo cánh ấy, nên anh ta thuộc vào loại hơi bất bình thường một chút, nói cách khác là hơi bệnh hoạn một chút. Tổ thuyết trình chúng tôi không dám khai thác chi tiết này. Nhưng dẫu có chấp nhận khai thác, thì cũng chỉ là “bướm trắng” thơ mộng và hư ảo mà thôi. Nói chung, chi tiết ấy và tất cả các chi tiết khác thuộc về nhân vật Thu đã góp phần làm thành biểu tượng của phần thơ mộng, ảo mộng trong cơn cuồng dại sa đoạ do lao phổi của nhân vật Trương…

Cô giáo quốc văn mỉm cười nói:

– Lên lớp 12 các anh chị sẽ có dịp học về tâm lí học. Theo phân tâm học, nhân vật Trương như thế là ít nhiều cũng mắc bệnh “kỉ vật dâm”. Nhưng thôi, bỏ qua đi. Xuân trả lời như thế là đã tạm đủ rồi. Giờ chuyển qua khía cạnh khác của đề tài.

Sau một hồi thảo luận, tranh luận, một ý kiến gây bùng nổ khác lại được đưa ra. Lần này, lại chính do một nữ sinh vốn khá quan tâm đến chính trị:

– Thưa cô và các bạn! Đồng ý rằng đề tài chỉ khuôn lại trong phạm vi tiểu thuyết “Bướm trắng”, nhưng thế nào cũng phải có đôi nét về tiểu sử tác giả chứ! – Hoàng nhìn thẳng vào nhóm bạn phụ trách thuyết trình. – Theo tôi, cái chết tự tử của nhà văn Nhất Linh với di ngôn: “Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả”. Đại để như thế. Cái chết tự tử của Nhất Linh vào ngày 7 tháng 7 năm 1963, về tiếng vang và tác động, không thua kém gì cái chết tự thiêu của hoà thượng Thích Quảng Đức. Hai cái chết dũng cảm đó là hai quả bom dội vào nền đệ nhất cộng hoà (Sài Gòn). Vậy sao tổ thuyết trình không khai thác? – Hoàng nêu vấn đề.

Một lần nữa, cả lớp sôi lên.

Xuân định đứng lên trả lời, nhưng Đăng đã đưa một cánh tay lên và đứng dậy luôn:

– Tôi không thiếu tài liệu về tiểu sử Nhất Linh…

Dưới lớp, có một bạn bỗng chen ngang:

– Biết rồi, em trai ông chủ nhà sách lớn nhất Tam Kỳ thì tài liệu vô số…

Đăng bình tĩnh nói tiếp, át đi:

– Đúng vậy, tôi có nhiều tài liệu về tiểu sử Nhất Linh, nhưng đề tài là chỉ đi sâu vào tiểu thuyết “Bướm trắng”. Cô giáo của chúng ta cũng đã góp ý với tổ chúng tôi là nên gạt bớt những chi tiết tiểu sử nào không liên quan đến tiểu thuyết này. Đây không phải là tiểu thuyết luận đề chính trị, xã hội của Nhất Linh, mà chỉ là tiểu thuyết tâm lí, có chút gì đó hơi ngã lòng, yếm thế… Dẫu đây là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của Nhất Linh, nhưng nó không liên quan trực tiếp đến cái chết tự sát của Nhất Linh, vốn là một hành động chính trị, như việc tự thiêu của hoà thượng Thích Quảng Đức.

Khác Đăng, Xuân thấy có liên quan giữa “Bướm trắng” với cái chết tự tử của Nhất Linh, nhưng mối liên quan cũng xa xa. Nhân vật Trương có ý định tự tử, vì bệnh nan y, bấy giờ hiếm thuốc chữa, và bệnh của Trương, theo bác sĩ là đã ở mức độ hết thuốc chữa. Nhân vật Trương khi biết mình đã khỏi bệnh, nhưng vì đã trót phá sản, cảm thấy cần an dưỡng nên cũng tự chôn đời ở làng thôn quê nhà, không dám tiếp tục yêu Thu, lấy Thu làm vợ, mà chỉ lấy cô gái quê tên Nhan. Nhất Linh thì khác. Cái giống nhau giữa nhân vật Trương và tác giả Nhất Linh là kết thúc đáng buồn thôi. Ông ấy từng ở ẩn tại vùng đất có suối Đa Mê, gần thác Prenn, trên cao nguyên Lâm Viên. Ông ấy không bị bệnh nan y, không bị phá sản, nhưng bị bế tắc về chính trị. Nhưng rồi Nhất Linh lại phải làm chính trị, bằng hành vi dũng cảm nhất, là góp phần tạo ra cuộc đảo chính, nhưng lại có hành vi đáng tiếc nhất, ấy là tự tử, khi bị chính quyền tại Sài Gòn truy tố ra toà. Không, Nhất Linh không phải là nhà sư vì đại nghĩa, “vị Phật pháp thiêu thân”, nhằm thắp lên ngọn lửa thúc đẩy phong trào đấu tranh bất bạo động, thì đúng ra ông ấy – nhà văn, nhà chính trị – phải sống và chiến đấu đến cùng.

Nghĩ thế, nhưng Xuân im lặng. Cô giáo quốc văn hiện thời của lớp Xuân lại không có máu tranh đấu như vài thầy giáo trong phong trào đấu tranh đô thị.

Khi trống đánh báo giờ ra chơi đã đến, buổi thảo luận và tranh luận về tiểu thuyết “Bướm trắng” xem như đã kết thúc một cách lửng lơ.

Cô giáo quốc văn cầm cặp, bước ra cửa. Cả lớp đứng dậy chào tiễn cô sau hai tiết học.

Xuân cũng không bước ra khỏi lớp. Anh chàng tì tay vào cửa sổ phía hông trường, nhìn vượt lên mấy tán cây xanh ven đường phố Trần Cao Vân. Xuân ngẫm nghĩ về mẩu giấy cánh bướm. Đúng rồi, nó cũng thơ mộng và có thể chỉ là ảo mộng, nhưng trong sáng như bầu trời kia, hồng hào sức sống của nắng mai kia.

4

Chiều chủ nhật cuối tuần đó, cả tổ thuyết trình “Bướm trắng” lại họp mặt để rút kinh nghiệm và liên hoan.

Xuân đến sớm hơn giờ hẹn cả một tiếng đồng hồ. Khi anh chàng đang đứng cùng Tấn dưới gốc cây thị rợp mát và ngát hương trái chín trước sân nhà của Tấn, Nhị-tóc-nâu cũng đến. Cô nàng có vẻ vui hơn những lần họp tổ khác.

Cùng ngồi trên chiếc chõng tre vàng óng đặt trên thềm xi măng, sau những câu bông đùa để làm không khí tươi lên như mọi khi, họ bất chợt rơi vào im lặng. Trong Xuân bỗng lại dấy lên nỗi thắc mắc về mẩu giấy cánh bướm. Tuy vậy, anh chàng vẫn không nói gì.

Bà mẹ già của Tấn từ nhà dưới đi ra thềm, bước lên thềm nhà trên, chỗ đặt chõng tre, với chiếc bị đan bằng lác trên tay. Bà cười:

“Nhị ơi rơi xuống bị bà…”. – Một câu trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, bà cố ý phát âm nhịu chữ “thị” thành chữ “Nhị”, nói với giọng đọc thơ ngân nga, và bà nhìn chăm vào Nhị rồi đẩy ánh mắt mình về phía Tấn, lại quay sang nhìn chằm chằm vào Xuân. Bà cười cả bằng đôi môi đỏ quết trầu lẫn bằng ánh mắt với khoé chân chim.

Bà đặt vào tay của ba cô cậu học trò mỗi đứa một quả thị thơm ngát. Họ cám ơn bà.

Cả ba học trò 16, 17 tuổi ngẩn ngơ, cười khẽ, chưa hiểu hết ý của bà mẹ Tấn. Họ nghĩ, bà đùa thôi. Ôi, cái thời xưa, “lấy chồng từ thuở mười ba…”, đã xa lắc xa lơ! Nay, yêu đương bâng quơ lại còn sợ và mắc cỡ, nữa là. Lúc này, Tấn và Nhị là hai người cảm thấy thẹn nhất.

Tấn buột miệng một câu thơ của Nguyên Sa:

“Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám?…”.

– Hai lăm. – Nhị-tóc-nâu nói, rồi phá ra cười.

Xuân cảm giác rất rõ sự thắt lòng trong một giây thoáng qua. Bà mẹ của Tấn cũng đã lui lại nhà ngang phía bên cạnh, liền kề.

Tấn mạnh dạn hơn thấy rõ. Tấn hỏi nhanh:

– Mẩu giấy hôm nọ Nhị nào bỏ quên trên bàn vậy? Gửi cho ai?

Nhị-tóc-nâu ngạc nhiên:

– Mẩu giấy nào?

– Mẩu giấy cánh bướm… À, chắc Nhị không hiểu cụm từ bọn con trai mình đặt ra đâu. Mẩu giấy có nội dung là “Gương mặt ấy trông giống tranh kí hoạ chân dung Nhất Linh lắm đó. Nhất Linh, ơi cái ông tác giả ‘Bướm trắng’, nhà văn mà mình quý trọng và yêu mến vô vàn”. Chữ viết rõ ràng là của Nhị này rồi.

Tấn vào phòng học, lấy mẩu giấy ấy ra. Không ngờ anh chàng Tấn này lại cắt vanh các cạnh trùng mép gấp, thành dạng cánh bướm thật! Và Tấn mở ra:

– Có phải chữ của Nhị đây không? Hết cãi nghe!

– Đúng rồi. Mà sao? – Nhị-tóc-nâu cười, ngạc nhiên thật sự. – Có chuyện gì vậy?

– Nhị viết với ý nghĩ thật là gì thế? Và gửi cho ai? Nói thật đi mà.

Nhị bật cười khúc khích:

– Có gửi cho ai đâu. Đó là khi họp tổ, thấy ảnh chân dung Nhất Linh và tranh kí hoạ rất phóng bút về chính Nhất Linh, mình chợt nghĩ, và viết, đúng ra là “gương mặt trong tấm ảnh chụp Nhất Linh ấy trông giống tranh kí hoạ chân dung Nhất Linh lắm đó…”. Nhưng mình viết vội trong lúc họp, thành ra như thế này đây. – Nhị chỉ vào mảnh giấy nay đã được cắt thành hình bướm, nếu vẫn gấp tư, chỉ mở thành hình chữ V.

Tấn và Xuân bỗng câm lặng, cố giấu chút thất vọng trong tim mỗi người.

– Hoá ra, bọn con trai tụi mình chỉ khéo suy diễn chủ quan thôi!

Nhị-tóc-nâu chợt hiểu ra:

– Bộ mấy ông tưởng tui viết để gửi cho một ông nào trong tổ hả? – Nhị lại cười hồn nhiên. – Còn khuya à nghe!

Tấn lắp bắp, ngẩn ngơ nét mặt:

“Hai lăm” tuổi mà!

“Hai lăm” hồi nào? – Nhị chối.

– Trời ơi, mới nói đó, mấy phút sau đã chối rồi! – Tấn bỗng mạnh dạn hơn.

Bây giờ, Xuân mới hiểu rõ thêm mấy cô học trò con gái. Rõ ràng Nhị-tóc-nâu mới nói “hai lăm”, giờ lại chối. Thế thì ai bảo đảm rằng câu mà cô nàng mới chỉnh sửa lại, “gương mặt trong tấm ảnh chụp Nhất Linh ấy trông giống tranh kí hoạ chân dung Nhất Linh lắm đó…”, không phải là một câu khéo chối cãi!

Ngay lúc đó, cả Tấn và Xuân đều trách mình ngu. Lẽ ra chuyện này, mỗi đứa con trai trong tổ phải khôn ngoan hỏi riêng Nhị-tóc-nâu thôi, khi chung quanh không có ai. Đằng này, lúc này, có cả Tấn lẫn Xuân, làm sao Nhị dám trả lời thật lòng!

Xuân nghĩ vậy, liền bước vào nhà trên, vô tận phòng khách vờ tìm cuốn sách nào đó Xuân đang cần. Anh chàng muốn tạo điều kiện để Tấn hỏi lại và Nhị-tóc-nâu sẽ thật lòng trả lời.

Xuân nhìn qua cửa sổ mở ra khu vườn phía sau nhà Tấn, bất chợt thấy bướm trắng vờn bay trên luống cải đã trổ ngồng hoa vàng. Xuân bước đến cửa sổ, tì tay vào những song sắt, đứng sững nhìn bướm trắng. Anh chàng đứng sững sờ không biết bao lâu, cho đến khi các bạn trong tổ đã đến đầy đủ.

Trong buổi họp mặt chiều ấy, gương mặt Tấn buồn rầu quá đỗi.

Không nhìn ra vườn sau nữa, nhưng Xuân biết chắc là con bướm trắng kia đã bay mất rồi, cho dù Nhị-tóc-nâu vẫn còn ngồi với cả tổ đây. Nói theo Nhất Linh, như một giấc ảo mộng…

Trở lại với cuộc họp rút kinh nghiệm, Xuân thấy đã đến lúc nói:

– Chúng ta học tập tác phẩm của Nhất Linh, dĩ nhiên chúng ta không phải là Nhất Linh, và cố gắng không là bản sao của ông ấy. Học Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm (?), Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… hay Thạch Lam, Lưu Trọng Lư… cũng vậy. Chúng mình thường vẫn nói với nhau, “Hãy là chính mình”, với nỗ lực tự thân cao nhất, nhất là trong lĩnh vực văn chương, vốn không chấp nhận người này là bản sao của người kia…

Xuân nói có vẻ hơi lên gân một cách không cố ý như vậy, nhưng chừng như cũng bất giác, là chỉ để che lấp nỗi buồn thất vọng trong lòng mình.

Mẩu giấy bướm trắng đã bay mất thật rồi…

T.X.A.

(trải qua các lớp 9/3, 10C, 11C – 1970-1973,
Trường Trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ, Quảng Nam)
10:20, 25-6 – 15:18, 26-6 HB15 (2015)

(*) Tên của các nhân vật nam sinh được lấy từ chữ lót trong danh tính của các nguyên mẫu. Xin lưu ý đây chỉ là truyện ngắn, không phải là kí.

Đã đăng ở Đặc san 60 năm Trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ, Quảng Nam & trên TTTĐT. HNV.TP.HCM.:
http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/tran-xuan-an-mau-giay-canh-buom.html
http://www.nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/tran-xuan-an-mau-giay-canh-buom.html

http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/bai-moi-viet-4/txa-mau-giay-canh-buom
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , | Leave a Comment »

LÍ LỊCH GIA ĐÌNH: VIỆC NƯỚC & VIỆC NHÀ

Posted by Trần Xuân An trên 01.10.2015

hidden hit counter

 
.

LÍ LỊCH GIA ĐÌNH: VIỆC NƯỚC & VIỆC NHÀ
Trần Xuân An

(xem tiếp từ :https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1626646627609282 )

Những người Miền Bắc khi vào Miền Nam sau 1975, thường có nhận định khá giống nhau về ngoài ấy: Miền Bắc chỉ còn hai “giai cấp” là “giai cấp cán bộ” và “giai cấp nhân dân”. Nhận định đó được đúc rút từ nhận thức thực tế về thực tiễn xã hội họ sống. Nói dễ hiểu hơn, giai cấp làm việc nước và giai cấp làm việc nhà.

Thật ra, từ xa xưa, dưới chế độ phong kiến, thuộc địa – nửa phong kiến và ở Miền Nam 1954-1975 có khuynh hướng tư bản chủ nghĩa, xã hội cũng tự phân chia ra hai “giai cấp” chủ yếu là như thế, tuy xét cho chặt chẽ, thì đa dạng hơn về phương thức sản xuất so với Miền Bắc (1954-1975).

Dĩ nhiên, khác với chế độ lãnh chúa, quý tộc Phương Tây, ở nước ta, dưới chế độ quân chủ, hầu hết là trung ương tập quyền, mọi thần dân thuộc mọi tầng lớp, kể cả cùng đinh, bạch đinh, như con em gia đình bần cố nông, trẻ chăn trâu thuê (trừ con hát, xướng ca vô loài) đều được phép học hành, ứng thí và đỗ đạt, làm quan. Trong số đó, có người làm quan đến mức nhất phẩm triều đình, tuy chỉ dưới vua, nhưng còn trên tất cả hoàng thân quốc thích. Và hoàng thân quốc thích, rõ nhất là dưới triều Nguyễn, tuy được cấp bổng lộc, có người được phong tước, nhưng rất ít người được bổ dụng làm quan. Muốn làm quan, hoàng thân quốc thích cũng phải thi cử (thậm chí quốc thích — bà con bên ngoại vua — lắm khi cũng bị nghi kị, ít được sử dụng).

Riêng về “giai cấp làm việc nước”, phần lớn, hầu hết xuất thân từ nhân dân. Nếu có công lao to lớn, thì con, cháu, chắt và cha mẹ, ông bà của họ còn được tập ấm, tập tước. Thực chất cũng chỉ nhận được sắc bằng phong tặng, áo quần vài món tượng trưng và có thể thêm một ít lương bổng nào đó mà thôi, chứ không thực sự tham dự vào guồng máy nhà nước phong kiến. Con cháu tử sĩ cũng chỉ được nhận tiền tuất, nhưng muốn làm quan thì cũng phải đỗ tú tài, cử nhân, tiến sĩ.

Nếu chỉ hoàng thân làm quan thôi, còn con em nhân dân mọi tầng lớp, đông đảo nhất là nông dân, bị cấm ngặt, thì chắc chắn chế độ quân chủ phong kiến không thể tồn tại lâu dài đến cả ngàn năm như thế.

Chế độ Việt Nam cộng hoà tại Miền Nam Việt Nam (1954-1975) cũng vậy và tiến bộ hơn vậy nhiều lắm. Ai cũng có quyền học hành, thi cử, làm công chức, vào quân đội, tiến thủ từ cấp thấp nhất đến chức cao nhất, ai cũng có quyền ứng cử các chức trách dân cử, theo luật định, không phân biệt thành phần, giai cấp. Nhưng con cháu và cha mẹ, ông bà họ không được tập ấm, tập tước gì cả. Đó là điều tiến bộ, công bằng hơn chế độ quân chủ phong kiến.

Còn “giai cấp nhân dân” thời nào cũng chỉ mưu sinh, lo nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà, xây nhà dựng cửa ngày một khang trang hơn. Trong đó, có người trở nên giàu có, mua được nhiều ruộng đất, có nhiều cửa hàng, cơ sở sản xuất. Và đồng thời, trong đó, cũng có người sa sút, thất cơ lỡ vận, nghèo khó… Có người bản thân là quan, là con cháu nhà quan lại, nhưng sa sút thì cũng thuộc vào hạng bạch đinh… Điều đáng nói ở đây là vấn đề thừa kế. Tất nhiên con em “giai cấp nhân dân” cũng chỉ thừa kế tài sản, cơ ngơi (vật chất) từ cha mẹ, ông bà, và có thể cả danh vọng giàu sang, đức độ (tinh thần) từ các thế hệ thân nhân đời trước. Dưới chế độ Việt Nam cộng hoà, không có việc mua bán phẩm hàm hư vị hư danh (chỉ lấy cái danh hão, như ông cửu phẩm, ông thất phẩm, chứ chẳng được tham dự vào việc làm quan).

Nói chung, chế độ quân chủ phong kiến nước ta không phân biệt đối xử theo giai cấp. Ai cũng có quyền học hành, thi cử, làm quan. Dưới chế độ Việt Nam cộng hoà cũng vậy, nhưng còn tiến bộ hơn, công bằng hơn. Và dù thuộc “giai cấp việc nước” hay “giai cấp việc nhà” ai cũng có quyền thừa kế tài sản (vật chất) và danh vọng (tinh thần) từ thân nhân mình, còn bản thân muốn tiến thủ theo con đường làm quan thì phải tự thân lo việc học hành, thi cử và phải đỗ đạt.

Từ “giai cấp việc nước” có thể nhảy sang “giai cấp việc nhà”, và ngược lại, “giai cấp việc nhà” cũng có thể nhảy sang “giai cấp việc nước”. Tuỳ ý, tuỳ năng lực, sở nguyện.

Nếu hoàng thân hoàng tộc chỉ độc quyền làm vua, làm quan, và nếu “giai cấp việc nước” cứ khư khư giành giữ quyền học hành, thi cử, làm quan cho con em cháu chắt mình mà thôi, thì chắc chắn sẽ bị lật đổ trong một ít năm cai trị.

T.X.A.
sáng 28-9 HB15 (2015)

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1626846197589325?pnref=story
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »

CHỦ NGHĨA LÍ LỊCH VỀ CHÍNH TRỊ & TRUY ÁN TÍCH HÌNH SỰ THÂN NHÂN VỀ TỘI THƯỜNG PHẠM

Posted by Trần Xuân An trên 01.10.2015

hidden hit counter

 
.

XIN PHÂN BIỆT RÕ CHỦ NGHĨA LÍ LỊCH VỀ CHÍNH TRỊ
KHÁC HẲN CHỦ TRƯƠNG TRUY ÁN TÍCH HÌNH SỰ THÂN NHÂN VỀ TỘI THƯỜNG PHẠM
Trần Xuân An

Bài viết của ông Lê Chân Nhân (*) đánh đồng cả CHỦ NGHĨA LÍ LỊCH VỀ CHÍNH TRỊ với CHỦ TRƯƠNG TRUY ÁN TÍCH HÌNH SỰ THÂN NHÂN VỀ TỘI THƯỜNG PHẠM. Đó là hạn chế của bài viết này. Vì vậy, bài viết có thể là “tung hỏa mù” để đối phó với công luận đấu tranh chống chủ nghĩa lí lịch, một thuật ngữ có nội hàm là chủ trương phân biệt đối xử đến 3 đời những đối tượng về chính trị CẦN XỬ LÍ của phe Đỏ gần đây và của chế độ phong kiến thuở xa xưa (tiêu biểu là án tru di tam đại, thậm chí tam tộc – ba họ).

Để rõ ràng hơn, chúng ta cần phân biệt rõ TỘI CHÍNH TRỊ với TỘI THƯỜNG PHẠM:

1) Đối tượng chính trị nói chung là những thành phần, giai cấp, cá nhân bị cải tạo tại chỗ hay tại trại tập trung, bao hàm cả ĐỐI TƯỢNG KINH TẾ, KẺ THÙ GIAI CẤP của phe Đỏ, tức là gồm các thành phần, giai cấp vốn là đối tượng cần đánh bẹp, cần “xóa sổ” mà phe Đỏ chủ trương, như “trí, phú, địa, hào” (trí thức, phú nông – phú gia các loại, địa chủ, cường hào) trước 1954 và cả những năm 1960/XX. Theo đó, phe Đỏ phải “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Và sau 1954 ở Miền Bắc, sau 1975 ở Miền Nam, phe Đỏ cũng chủ trương phải cải tạo, “xóa sổ” giai cấp tư sản (cả tư sản dân tộc lẫn tư sản mại bản) tại thành thị, đồng thời cải tạo nông dân (1), tiểu thương, thợ thủ công, thành phần sản xuất nhỏ – cá thể (đều thuộc loại tiểu tư sản, tiểu tư hữu) thành xã viên hợp tác xã, theo lí luận đấu tranh giai cấp. ĐỐI TƯỢNG CHÍNH TRỊ theo lí luận của phe Đỏ còn bao gồm cả đối tượng tôn giáo các loại. Nhưng quan trọng nhất, theo họ, vẫn là những ĐẢNG PHÁI CHÍNH TRỊ chống cộng như Quốc dân đảng, Đại Việt đảng, hay quan chức triều Nguyễn, công chức và quân lính QUỐC GIA VIỆT NAM, VIỆT NAM CỘNG HÒA (1949-1975). Sau 1954 ở Miền Bắc, sau 1975 trên cả nước, còn có cả đối tượng bị gọi là PHẢN ĐỘNG, PHẢN CÁCH MẠNG.

2) Đối tượng thường phạm là những tội nhân về kinh tế có tính chất vô đạo đức (mua gian bán lậu, đầu cơ nâng giá, buôn bán ma túy…), tội có hành vi trong đời sống rõ ràng vi phạm đạo đức (như hiếp dâm, giết người, trộm cướp, tham ô, hối lộ, nhũng nhiễu, ức hiếp quần chúng…)… Nói chung là những loại tội mà dưới chế độ chính trị – xã hội nào cũng có, thành phần nào cũng có người phạm phải, và thường là yếu tố chính trị không có, hoặc yếu tố chính trị là thứ yếu, mà trội lên là yếu tố vi phạm đạo đức (luân lí, phong tục và đạo lí phổ quát), thuộc loại tham, sân, si… Đối tượng thường phạm thường gây cho xã hội và cả nhân loại nói chung sự ghê tởm, khủng khiếp, khinh bỉ… Đây là loại tội phạm bị tuyên án bởi tòa án, chiếu theo bộ luật hình sự về cơ bản là có tính phổ quát (giống các nước trên thế giới) với những chứng cứ không thể chối cãi.

Cụ thể hơn, nhân dân Việt Nam và nhiều người, nhiều tổ chức ngoại quốc quan tâm đến Việt Nam vẫn thiện cảm với công chức, sĩ quan, quân lính chế độ cũ (1949-1975), nhưng tuyệt đại đa số vẫn kết án loại tội nhân thường phạm (tội nhân vô đạo đức về các lĩnh vực).

Nhưng chắc hẳn ai cũng biết có một ca sĩ với giọng hát tuyệt vời, có chiều sâu nội tâm, vốn là con gái của một viên công an giết chết vợ mình. Cô ca sĩ ấy có tội gì đâu. Cô chỉ mặc cảm về tội đạo đức của cha ruột, nhưng giọng hát của cô đã xóa tan tất cả mọi định kiến về cô do yếu tố vô đạo đức trong lí lịch gia đình (chứ không phải tiểu sử bản thân).

Nói tóm lại, công luận trong nước và trên thế giới phê phán Nhà nước, Đảng cầm quyền hiện nay về CHỦ NGHĨA LÍ LỊCH — sự phân biệt đối xử của phe Đỏ nước ta đối với các đối tượng chính trị như đã phân tích trên kia (2). Các loại đối tượng chính trị ấy thật ra không có tội gì cả (trừ những tên tay sai cho ngoại bang, đúng nghĩa, phe nào cũng có), nên thường bị vu khống thêm tội bán nước, hại dân, thậm chí cũng như dưới chế độ phong kiến, còn vu khống thêm cho những nhân vật trọng yếu tội thường phạm nữa.

T.X.A.
27-9 HB15 (2015)
Còn tiếp, xem theo link:

———————————–

(*) Bài “Cất “gánh nặng” lý lịch trên đôi vai công dân” trên blog báo điện tử Dân Trí, 25/09/2015 – 06:30.. Thành viên FB. Lehieu Huu dẫn link và có nhiều ý kiến bàn luận:

(1) Giai cấp nông dân trong “cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân” (giành chính quyền) được Đảng cầm quyền (Đảng Cộng sản với nhiều tên gọi, tùy giai đoạn) vận động, tổ chức liên minh với giai cấp công nhân, gọi là “liên minh công – nông”. Nhưng một khi đã giành được chính quyền (ở Miền Bắc, từ 1954 và ở Miền Nam, từ 1975), giai cấp nông dân cũng trở thành đối tượng cách mạng, cần cải tạo (hay giải phóng), để tất cả đều từng bước trở thành xã viên các hợp tác xã nông nghiệp (tập thể hóa tư liệu sản xuất chính là ruộng đất, theo hướng công hữu hóa ruộng đất, tiến tới nông trang quốc doanh, và xã viên nông nghiệp thành công nhân nông nghiệp).

(2) Đúng ra phải thực hiện đúng các điều khoản trong Hiệp định Paris 1973 về hòa giải, hòa hợp dân tộc, về các quyền tự do chính trị, báo chí, ngôn luận… của công dân Miền Nam Việt Nam.
— Xem: Chương IV, điều 11: https://sites.google.com/…/tra…/hdparis-1973_6_saigonbao.gif

.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »

TÔI VÀ HAI MẶT BIỆN CHỨNG CỦA CHỦ NGHĨA CẢI LƯƠNG

Posted by Trần Xuân An trên 01.10.2015

hidden hit counter

 
.

null

TÔI VÀ HAI MẶT BIỆN CHỨNG CỦA CHỦ NGHĨA CẢI LƯƠNG
Trần Xuân An

(nhân trả lời cô Fackbook Hoa Nguyen Thi ở Đà Lạt)

Về cái gọi là “ức” (ấm ức, uất ức, tùy cấp độ…) hẳn ai cũng có, vì đó là tâm lí con người, từ trẻ thơ cho đến người già, tùy theo trường hợp bị ức hiếp, ức chế… Thời đó, từ 1975 đến 1978, từ 1978 đến 1983, tuy tôi cũng thấy hòa bình, thống nhất, đánh Tàu Đỏ là đáng phấn khởi, nhưng cũng có cái phải ức chứ sao không ức. Nhưng thuở bấy giờ, tôi chủ trương nên góp ý, cải tạo cán bộ, công an, nói chung là Nhà nước, Đảng, bằng cách làm sâu sắc hơn cái đẹp, cái tốt, để nhấn mạnh, giúp cho họ bớt ức hiếp, bớt thù hận Miền Nam (do họ bị nhồi sọ, do quan điểm đấu tranh giai cấp, địch – ta…). Nói vắn tắt, khi mình làm thơ, mình nêu cao cái tốt, cái đẹp của Cách mạng, kể cả cái tốt, cái đẹp chỉ là LÍ THUYẾT, chỉ là tuyên truyền, thì Cách mạng cũng bớt xấu đối với nhân dân các loại ở Miền Nam, kể cả công chức, quân lính chế độ cũ (hiểu một cách giản đơn nhất câu nói của Dostoievsky: “CÁI ĐẸP SẼ CỨU CHUỘC NHÂN LOẠI”, giáo dục nhau bằng cái đẹp). Nói theo ngôn từ chính luận thì đó là CẢI LƯƠNG CHỦ NGHĨA. Giai đoạn gần đầy, một mặt trong sáng tác tôi cũng vậy.

Tuy vậy, nếu chỉ viết về cái đẹp, cái tốt, phần nào có thật và phần lớn là lãng mạn (cái nên có, mong ước sẽ có) thì rất nguy hiểm, chỉ tạo ảo tưởng cho xã hội và ngộ nhận cho hậu thế mà thôi.

Vì thế, từ 1983, đặc biệt là sau “CỞI TRÓI” (1986) và từ khi INTERNET được phép sử dụng, tôi cũng có phê phán trực diện “Nhà nước ta” , “Đảng ta”, nhưng cũng nhằm làm tốt hơn (dễ sống hơn, được bình đẳng hơn…) cho xã hội, cho dân Miền Nam mà thôi. Thế là cũng CẢI LƯƠNG CHỦ NGHĨA, chứ chẳng gì khác.

TÔI VẪN NHẤT QUÁN NHƯ VẬY.

T.X.A.
sáng 23-9 HB15 (2015)

.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer
.

Posted in Không phân loại | Tagged: | Leave a Comment »

MỘT CHÚT CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI VIẾT CŨ (1972) CỦA ANH BẢO CỰ

Posted by Trần Xuân An trên 01.10.2015

hidden hit counter

 
.

MỘT CHÚT CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI VIẾT CŨ (1972) CỦA ANH BẢO CỰ
Trần Xuân An

1) Chương trình môn quốc văn bậc trung học đệ nhất cấp và đệ nhị cấp ở Miền Nam trước 1975 bị anh Bảo Cự phê phán là phản động và phản dân tộc! Tôi thấy anh Bảo Cự dùng từ ngữ có tính tranh luận nên hơi cực đoan đến mức sai lệch. Vì anh Bảo Cự muốn cường điệu để tạo hiệu ứng cao hơn, nên sự cực đoan, sai lệch ấy có thể tạm cho là tính quá khích của tuổi trẻ (lúc ấy anh chỉ mới hai mươi mấy tuổi).

2) Thế hệ trẻ của Thiên Chúa giáo hồi bấy giờ (như Nguyễn Văn Trung, Mai Tâm, Nguyễn Ngọc Lan, Kim Định….) muốn sửa sai trong hiện tại thuở đó, để thoát khỏi mặc cảm về lịch sử Thiên Chúa giáo thời thuộc Pháp, nên cũng tương tự như anh Bảo Cự: cực đoan, quá khích, sai lệch trong nhận định. Dù sao, ý thức sửa sai, “tìm về dân tộc” là đáng quý rồi.

3) Tuy vậy, những điều anh Bảo Cự góp ý về chương trình quốc văn trung học (cả hai cấp) tại Miền Nam (trước 1974-1975) vẫn rất hữu ích. Theo tôi, một học sinh thời đó:

3a) Chương trình quốc văn ấy chỉ dừng lại ở mốc 1945, vì các vị soạn chương trình ở Bộ Quốc gia Giáo dục lúc đó chỉ cho học những gì đã định hình, còn những gì đang diễn tiến thì chỉ xem như ngoại khóa (không bắt buộc). Từ niên khóa 1974-1975, bỏ môn triết, quốc văn mới gộp với triết học ở lớp 12, có cập nhật thêm các tác giả sau 1945.

3b) Do quan niệm văn chương là văn chương, sử học là sử học, nên ở môn quốc văn, cần học những tác phẩm được tác giả viết vì mục đích thể hiện tâm trạng, cảm xúc, phản ánh cả những mặt đời sống mà quốc sử không bàn tới. Tất nhiên nhà văn, nhà thơ phải thể hiện tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm (không thể thiếu yếu tố này), nhưng không chỉ như vậy, vì hiện thực xã hội, hiện thực con người gồm nhiều mặt khác nữa (như tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, họ tộc, như phong tục, cộng đồng, cái tôi cá nhân, thân phận con người, như quan hệ với thiên nhiên đất nước…). Môn sử của ta vốn đã thiên về chính trị, quân sự rồi, nên các thiên cổ hùng văn như Thơ Thần, Hịch tướng sĩ, Cáo bình Ngô (1) … vốn là các văn kiện chính trị, quân sự đã được học ở dạng tài liệu sử học.

—- Đây là điều mà hiện nay (2015) còn phải bàn cãi về sự thể có nên trùng lặp, vừa học ở môn sử lại học ở cả môn văn không (2). —-

Theo tôi, môn quốc văn phải đậm đà tinh thần dân tộc, yêu nước, chống ngoại xâm, nhưng cũng rất cần sâu sắc về các lĩnh vực khác nữa, thể hiện thành các đề tài vốn là đặc trưng của văn chương. Lẽ ra phải cân đối tỉ lệ lại cho hợp lí.

4) Tôi thừa nhận chương trình học tập, gồm môn văn chương sau 1975 ở nhà trường, là quá nhồi sọ. Riêng môn văn, có đến 2/3 chương trình là văn học cách mạng dạng tuyên truyền (nặng về chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội; ca ngợi lãnh tụ…).

Đây chỉ là một chút cảm nghĩ sơ sài.

T.X.A.
14-8 HB15 (2015)
______________________________

(1) Tôi thấy “Bạch đằng giang phú” của Trương Hán Siêu là một thiên cổ hùng văn nhưng không phải được viết vì nhiệm vụ chính trị, không phải là văn kiện chính trị, quân sự, mà đích thực là tác phẩm trữ tình hùng tráng về đề tài lịch sử.

(2) Quả thật, “Thơ Thần”, “Hịch tướng sĩ”, “Cáo bình Ngô” và cả “Tuyên ngôn độc lập” là văn bản, văn kiện chính trị, quân sự, nhưng đồng thời đó là những áng văn chính luận thuộc loại thiên cổ hùng văn. Sử khai thác các tư liệu này khác với cách khai thác của văn, nhưng nội dung mỗi văn bản vẫn là một.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/1622639781343300?pnref=story

http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/bai-moi-viet-4/txa-mot-chut-cam-nghi-khi-doc-bai-viet-cu-cua-anh-bao-cu

.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »

CẢM NHẬN THẾ NÀO VỀ MỘT BÀI CA DAO XƯA

Posted by Trần Xuân An trên 01.10.2015

hidden hit counter

 
.
CẢM NHẬN THẾ NÀO VỀ MỘT BÀI CA DAO XƯA
Trần Xuân An

trên trời có đám mây xanh
ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
ước gì anh lấy được nàng
để anh mua gạch Bát Tràng về xây
xây dọc rồi lại xây ngang
xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
có rửa thì rửa chân tay
chớ rửa lông mày, chết cá ao anh!

(ca dao)

Ngẫm lại bài ca dao xưa, cảm nhận ra nét tế nhị và thật lòng của người xưa, vô cùng đáng trân trọng. Thêm vào đó, còn khiến tôi sực tỉnh, nhận ra cô gái trong bài ca dao này chỉ là thanh nữ thành thị, nhưng, biết đâu, cũng có thể là cô thôn nữ sau buổi diễn chèo tuồng trên sân đình làng.

Dĩ nhiên đây là bài ca dao thuộc thể hứng, một trong ba thể phổ biến của ca dao, nhưng hai câu mở đầu, thường là thể hiện những cảnh vật gợi cảm hứng thơ của tác giả dân gian, ở trường hợp này:

trên trời có đám mây xanh
ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

vẫn khiến tôi hình dung ra trang phục của cô gái thành thị như nàng tiên trên trời, hay phông màn của diễn viên thôn nữ ở vuông chiếu, sân khấu tuồng chèo, tại các sân đình, mà dân gian đã ảo hóa để ngợi ca.

Tuy vậy, điểm sáng nghệ thuật chính là tác giả bài ca dao muốn nhắc nhở cô gái rằng, chính khi cô rửa đi nét mực kẻ lông mày, để hiện ra lông mày do cha mẹ cho, lông mày thật, mới khiến “chết cá ao anh” ấy, vì quá xinh, quá đẹp:

có rửa thì rửa chân tay
chớ rửa lông mày, chết cá ao anh

(ca dao)

Nói là đừng rửa trôi mực kẻ, nhưng thực ra là muốn nói hãy rửa đi, để lông mày thật khiến cá anh “được chết”!

Cách ca ngợi nhan sắc theo mẫu thức “chim sa cá lặn” ở ca dao còn kín đáo và hay hơn cả nhà thơ chạm trổ ngôn từ bậc nhất là Nguyễn Gia Thiều nữa:

chìm đáy nước cá lờ đờ lặn
lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa

(Cung oán ngâm khúc).

Đây là bài ca dao khiến nhiều nhà phê bình, nhà giáo văn chương, từ trước đến nay, tuy đều thấy hay, nhưng cũng đều phân tích,giảng bình sai lệch hoặc thiếu sót! Thậm chí, có người vì không hiểu hai câu đầu,nên chỉ cho là thuộc trường hợp thể hứng mà hình ảnh thơ, ý thơ thường không liên quan gì đến nội dung chính của bài, hoặc tệ hơn, có người cắt béng luôn hai câu cuối!

T.X.A.
15-9 HB15 (2015)

.

.
Cũng có thể xem tại:
https://www.facebook.com/notes/tran-xuan-an/cam-nhan-the-nao-ve-mot-bai-ca-dao-xua-tran-xuan-an/1623631201244158?pnref=lhc

Xem thêm:
https://sites.google.com/site/tranxuananwriter/Home/danh-muc-tac-pham-txa/bai-moi-viet-4/txa-long-may-nho-hien-nhu-cha-me-cho
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »

LÔNG MÀY NHỚ HIỀN NHƯ MẸ CHA CHO

Posted by Trần Xuân An trên 01.10.2015

hidden hit counter

 
.

LÔNG MÀY NHỚ HIỀN NHƯ MẸ CHA CHO
Trần Xuân An

… có rửa thì rửa chân tay
chớ rửa lông mày, chết cá ao anh
(ca dao)

lông mày ngọt hai lưỡi dao
thôi em, hiền lại, ngoan nào, xinh xưa

xây hồ bán nguyệt bằng thơ
lông mày em rửa, ngẩn ngơ người rồi!
như ca dao, duyên mãi đời
cá hình tim, bóng mắt bơi trong hồn

trái tim áp nhẹ nụ hôn
lông mày không cắt mà mơn nét tình
không dao, cũng chẳng là đinh
yêu ai, đừng đóng khổ hình trăm năm!

xinh môi, xinh trán, xinh cằm
sao lông mày, nỡ kẻ nhầm em ngoan! (*)

T.X.A.
trưa 13-9 HB15 (2015)

.

.
Facebook & http://www.tranxuanan-writer.net:

https://www.facebook.com/notes/tran-xuan-an/long-may-hien-nhu-cha-me-cho-tho-tran-xuan-an/1622947424645869?pnref=lhc
.
http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/bai-moi-viet-4/txa-long-may-nho-hien-nhu-cha-me-cho

Xem thêm:
http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/bai-moi-viet-4/cam-nhan-the-nao-ve-mot-bai-ca-dao-xua–txa
.
http://www.tranxuanan-writer.net
http://www.txawriter.wordpress.com
http://www.facebook.com/tranxuanan.writer
.

Posted in Không phân loại | Tagged: , | Leave a Comment »