Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

PHẢN BIỆN “THƯ BÀY TỎ LẬP TRƯỜNG” CỦA TRUNG QUỐC, 9-6-2014

Posted by Trần Xuân An on 14.06.2014

hidden hit counter

 

PHẢN BIỆN “THƯ BÀY TỎ LẬP TRƯỜNG” CỦA TRUNG QUỐC ĐỆ TRÌNH LIÊN HIỆP QUỐC VÀO NGÀY 9-6-2014

Trần Xuân An

Xem ảnh chụp bản đồ với kích cỡ lớn hơn

PHẢN BIỆN “THƯ BÀY TỎ LẬP TRƯỜNG” CỦA TRUNG QUỐC ĐỆ TRÌNH LIÊN HIỆP QUỐC VÀO NGÀY 9-6-2014

Trần Xuân An

Trong cuốn sách “Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, do Nhà xuất bản Công an Nhân dân ấn hành năm 1995, tác giả Lưu Văn Lợi đã xác nhận không những văn bản được quen gọi là “công thư Phạm Văn Đồng 14-09-1958” là có thật mà cả “tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1965 về việc Mỹ quy định khu vực chiến đấu của quân Mỹ”, và, trước hai thời điểm ấy, tức là vào năm 1956, còn có “câu nói của thứ trưởng ngoại giao Ung Văn Khiêm” (có lẽ cũng như của Lê Lộc, cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam dân chủ cộng hoà) rằng, Tây Sa (Hoàng Sa) vốn thuộc về Trung Quốc, đều là có thật. Ông Lưu Văn Lợi cho rằng “nhưng đó không phải là lời tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, càng không phải là từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa”, mà thực ra, bấy giờ “Việt Nam muốn gắn chặt cuộc kháng chiến của mình với Trung Quốc càng nhiều càng tốt. Việt Nam chân thành tin cậy Trung Quốc và cho rằng chiến tranh xong mọi vấn đề lãnh thổ sẽ được giải quyết tốt đẹp giữa những người ‘vừa là đồng chí vừa là anh em’”. Vả lại, Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) vốn thuộc quyền quản lí của Quốc gia Việt Nam và Việt Nam cộng hoà, sau 1954, theo Hiệp định Genève. Nói cách khác, đó chỉ đơn thuần là một thủ pháp chính trị và quân sự của Việt Nam dân chủ cộng hoà để tranh thủ sự viện trợ của Trung Quốc và để hạn chế bớt sự vây bủa của Mỹ tại Việt Nam cũng như tại eo biển giữa Đài Loan – Trung Quốc; không ngờ sau đó và hiện nay, Trung Quốc lại sử dụng hai văn bản ấy, lời nói ấy một cách xuyên tạc để biện minh cho sự xâm lược bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và đảo ngầm Gạc Ma cùng vài bãi san hô, bãi đá ngầm khác ở quần đảo Trường Sa.

Ông Lưu Văn Lợi, trong cuốn sách nêu trên, không nói gì rõ rệt về “tập Bản đồ Thế giới in vào tháng Năm năm 1972 của Cục Khảo sát và Bản đồ thuộc Văn phòng Thủ tướng Việt Nam”“sách giáo khoa địa lý lớp chín do Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành năm 1974” theo như trong một văn bản mới nhất Bộ Ngoại giao Trung Quốc đệ trình lên Liên hiệp quốc vào đầu tháng 6-2014 này.

Đối với hai tài liệu mà Trung Quốc mới đưa ra lần này (09-6-2014), cũng đã có một vài người xác nhận là “sách giáo khoa địa lý lớp chín do Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành năm 1974” đã ghi rõ Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) thuộc Trung Quốc là có thật, nhưng hiện chưa có ai xác nhận “tập Bản đồ Thế giới in vào tháng Năm năm 1972 của Cục Khảo sát và Bản đồ thuộc Văn phòng Thủ tướng Việt Nam” có thật là đã ghi chú với nội dung như thế hay không (1). Tuy nhiên, không một ai cho rằng cả hai tài liệu ấy là có giá trị về mặt pháp lí.

Như vậy, cũng như trên đã nói, đó chỉ đơn thuần là một thủ pháp chính trị và quân sự trong chiến tranh mà thôi.

Mặc dù sự thật là vậy, nhưng chắc sẽ có người nêu vấn đề: Trong năm loại được gọi là “bằng chứng” mà Trung Quốc đưa ra, có bốn “món” nếu xếp vào loại thuộc thủ thuật, mưu kế cũng không sao, nhưng còn loại “sách giáo khoa địa lý lớp chín do Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành năm 1974”, chẳng lẽ cũng thuộc loại như vậy? Tại sao một thứ thuộc thủ thuật, mưu kế chính trị và quân sự có tính chất nhất thời như vậy lại đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy cho học sinh? Vâng, tại sao lại dạy cho học sinh như là kiến thức khoa học tự nhiên về địa lí, nhất là kiến thức ấy lại làm tổn hại về mặt chủ quyền lãnh thổ (bao gồm biển đảo, vùng biển) của Miền Nam Việt Nam, vốn thuộc đất nước Việt Nam nhất thống cố hữu?

Trả lời cho câu hỏi này chỉ có thể là phải nói rõ: Quyền lực chính trị của cường quốc ở các nước nhỏ thuộc phe xã hội chủ nghĩa luôn luôn phủ bóng lên mọi lĩnh vực và lấn át tất cả, kể cả khoa học, giáo dục, đại để cũng như hai câu thơ nổi tiếng của Việt Phương: “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”, “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ”. Quả thật, không phải chỉ dạy học sinh sai về chủ quyền đích thực đối với Hoàng Sa, Trường Sa mà còn sai nhiều thứ khác nữa.

Tuy thế, từ 1979 và từ 1991, sự thể đã khác rồi, Việt Nam không thể tiếp tục chấp nhận thân phận nhược tiểu, phải cam đành luồn lách, nhẫn nhục bằng nhiều cách như trước. Cái gì trót đã nhận thức sai, thì sửa. Cái gì bị ép phải dạy sai, thì phải dạy lại cho đúng. Đặc biệt, điều tối thượng là chủ quyền Đất – Nước (bao gồm biển đảo) của quốc gia – dân tộc, không phải vì trót bị cường quốc ép uổng đến nỗi đã chấp nhận dạy sai mà nay đành để đánh mất chủ quyền biển đảo, cụ thể là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và tất cả những vùng biển thuộc đất nước Việt Nam.

Nói rõ sự thật đó và cũng cần khẳng định thêm như gần đây luôn được khẳng định:

1) Việt Nam dưới chính thể nào (Vương quốc Đại Nam, Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc gia Việt Nam – Việt Nam cộng hoà, Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) cũng đều chưa có hiệp ước sang nhượng quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và các vùng biển Việt Nam cho Trung Quốc. Trong vấn đề lãnh thổ (gồm biển đảo) thì chỉ có hiệp ước mới có giá trị pháp lí.

2) Trung Quốc sử dụng vũ lực quân sự để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và bãi Gạc Ma cùng với hai bãi ngầm khác thuộc quần đảo Trường Sa, chứ Việt Nam không hề làm lễ bàn giao cho Trung Quốc.

3) Việt Nam chắc chắn phải đi đến biện pháp đấu tranh hoà bình mạnh mẽ nhất là kiện Trung Quốc ra Toà án quốc tế.

4) Việt Nam chấp nhận hi sinh tất cả vì chủ quyền toàn vẹn Đất – Nước. Trong bối cảnh thế giới không có công lí, suốt mấy ngàn năm qua, Việt Nam đã nhiều lần đánh bại các cường quốc xâm lược, nhất là Trung Quốc (Trung Hoa) để giành lại lãnh thổ. Nay cũng thế, nếu Trung Quốc cứ vin vào những cái gọi là “bằng chứng” để tiếp tục cưỡng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và những vùng biển trên Biển Đông thuộc Việt Nam.

T.X.A.
10:30 – 14:43, 13-6 HB14 (2014)

_____________________

(1) Trích nguyên văn văn bản đã dẫn của Trung Quốc: “Trong tập Bản đồ Thế giới in vào tháng Năm năm 1972 của Cục Khảo sát và Bản đồ thuộc Văn phòng Thủ tướng Việt Nam đã ghi quần đảo Tây Sa theo tên Trung Quốc (xem Phụ lục 4/5)”.

Đã đăng tại:
http://www.tranxuanan-writer.net/Home/thong-bao-cap-nhat/dacbiet-ve-hoangsa-truongsa-tr2

Trích nguyên văn VĂN BẢN TRUNG QUỐC ĐỆ TRÌNH LIÊN HIỆP QUỐC:

Bộ Ngoại giao Trung Quốc – Hoạt động của giàn khoan HYSY 981: Khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc
Nguồn bản dịch ra tiếng Việt: DÂN LUẬN
Mục: Đối ngoại
http :// www. danluan. Org / tin- tuc /20140610 /bo-ngoai-giao-trung-quoc-hoat-dong-cua-gian-khoan-hysy-981-khieu-khich-cua-viet-nam

Diên Vỹ chuyển ngữ
Nguồn nguyên bản: Bộ Ngoại Giao Trung Quốc

08.06.2014

BẮT ĐẦU TRÍCH ĐOẠN NGUYÊN VĂN:

IV. Quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc

[ …. …. ]

2. Trước năm 1974, không một chính phủ kế thừa nào của Việt Nam đã thách thức chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa. Từ cổ xưa, Việt Nam đã chính thức công nhận quần đảo Tây Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Quan điểm này đã được phản ánh trong các tuyên bố và ghi chú của chính phủ cũng như trên báo chí, bản đồ và sách giáo khoa của họ.

Trong một cuộc họp với đại diện lâm thời Li Zhimin thuộc Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam vào ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam Ung Văn Khiêm đã long trọng tuyên bố rằng “theo dữ liệu của Việt Nam, các Quần đảo Tây Sa và Nam Sa trong lịch sử là một phần của lãnh thổ Trung Quốc.” Lê Lộc, Quyền Vụ trưởng Vụ châu Á của Bộ Ngoại giao Việt Nam, người cũng có mặt tại cuộc họp, đã trích dẫn cụ thể dữ liệu của Việt Nam và chỉ ra rằng, “xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã là một phần của Trung Quốc vào thời nhà Tống.”

Ngày 4 tháng Chín năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã ban hành một bản tuyên bố (xem Phụ lục 2/5), trong đó nói rằng bề rộng phạm vi lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và nói rõ rằng “quy định này áp dụng cho tất cả các vùng lãnh thổ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm cả Quần đảo Tây Sa … “. Ngày 06 tháng Chín, báo Nhân Dân, tờ báo chính thức của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, đã công bố trên trang nhất toàn bộ văn bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc về lãnh hải của Trung Quốc. Ngày 14 tháng Chín, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của chính phủ Việt Nam đã gửi một công hàm ngoại giao (xem Phụ lục 3/5) đến Thủ tướng Chu Ân Lai của Hội đồng Nhà nước Trung Quốc, long trọng tuyên bố rằng “chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công nhận và hỗ trợ tuyên bố của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về quyết định liên quan đến lãnh hải của Trung Quốc đưa ra ngày 04 tháng Chín năm 1958 ” và “chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định này”.

Ngày 09 tháng Năm năm 1965, chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành một tuyên bố liên quan đến các “khu vực chiến sự” của quân đội Mỹ tại Việt Nam do chính quyền Hoa Kỳ chỉ định. Tuyên bố nói rằng “Việc Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson chỉ định toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và các vùng biển lân cận với giới hạn khoảng 100 dặm từ bờ biển của Việt Nam và một phần của lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc thuộc quần đảo Tây Sa là ‘khu vực chiến sự’ của quân đội Hoa Kỳ … là sự đe dọa trực tiếp đến an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và các nước láng giềng … ”

Trong tập Bản đồ Thế giới in vào tháng Năm năm 1972 của Cục Khảo sát và Bản đồ thuộc Văn phòng Thủ tướng Việt Nam đã ghi quần đảo Tây Sa theo tên Trung Quốc (xem Phụ lục 4/5). Sách giáo khoa địa lý lớp chín do Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành năm 1974 có một bài dạy mang tên “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” (xem Phụ lục 5/5). Trong đó viết, “Vòng cung đảo từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến các đảo Hải Nam, Đài Loan, quần đảo Bành Bồ, Châu Sơn… làm thành một bức Trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc….”

Nhưng giờ đây chính phủ Việt Nam lại đảo ngược lời nói của mình bằng cách tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Tây Sa của Trung Quốc. Đó là một vi phạm trắng trợn các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, bao gồm các nguyên tắc không được đảo ngược thừa nhận pháp lý và các tiêu chí căn bản trong quan hệ quốc tế.”.

[….. ]

HẾT TRÍCH ĐOẠN NGUYÊN VĂN

—————————
BẢN TIẾNG ANH
Đăng ở web:
Ministry of Foreign Affairs, the People’s Republic of China
(Bộ Ngoại giao, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)
http:/ / www. fmprc. gov. cn/mfa_eng/zxxx_662805/t1163264.shtml

.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: