Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

NHỮNG BI KÍ TỰ ĐỨC HIỆN NAY (thơ TXA.)

Posted by Trần Xuân An trên 11.08.2011

hidden hit counter


NHỮNG BI KÍ TỰ ĐỨC HIỆN NAY

Trần Xuân An

muốn toả sáng thơ ca?
          sao lại làm thơ ghi nhận biểu tình?
“người máy” quắp thơ ca,
          khuỳnh tay nạnh cổ
“bung xung” đạp vào mặt thơ ca,
          hụ còi thét loa vỡ phố:
thơ yêu nước ư?
          “Có Nhà nước lo rồi”!

tôi soi mặt vào trang viết,
          tự hỏi tôi
trong trái tim nhà thơ
          lẽ nào
          câm tiếng kêu đòi vẹn toàn Đất – Nước
chống Đại Hán xâm lăng,
          thơ ca không tính toan tuổi tên thua được
mong những-bi-kí-Tự-Đức-hiện-nay
          (hiện thực khác xưa)
          không chỉ đau,
          đã làm bệ phóng chống Tàu.

tối 10-8 HB11
sáng sớm 11-8 HB11

TXA.

 

Hai chữ “Đông Hải” (Biển Đông) trên Cao đỉnh (đỉnh Gia Long), một trong chín đỉnh tại Huế — Ảnh tư liệu của Nnc. Phan Thuận An & một số báo chí điện tử

Ảnh lớn hơn

Bài Khiêm cung kí trên bia đá, tại Lăng Tự Đức (Huế)

Đã gửi đăng trên các báo chí, điểm mạng:
TranNhuongCom

Advertisements

5 phản hồi to “NHỮNG BI KÍ TỰ ĐỨC HIỆN NAY (thơ TXA.)”

  1. TXA. said

    ĐỐI CHIẾU: TRÍCH ĐOẠN QUAN TRỌNG Ở CÁC BẢN DỊCH BÀI KÍ TỰ THUẬT CỦA TỰ ĐỨC Ở TRÊN BIA ĐÁ TẠI KHIÊM LĂNG:

    1) BẢN DỊCH TRẦN ĐẠI VINH:

    Than ôi ! Ngu mà lại quen yên thân, mờ mịt trong xó cửa, không biết phòng bị lo xa, tôi giỏi tướng tài đã tàn tạ quá nửa, mấy ai có thể khôi phục được theo lời di huấn về việc phòng bị bờ biển của cha ta, để giúp ta thoát vòng tội lỗi.

    Hoàng thiên lại trừng phạt nặng để răn dạy vua tôi ta, khiến cho dù cách trở trùng dương vạn dặm, người Âu châu nào có liên quan gì với ta, thế mà có nước Phú Lang Sa vốn từng quen biết, bỗng nhiên kéo binh thuyền vào, bỏ tình giao hảo, tìm sự oán cừu, xâm lấn biên cương ta. Chúng cậy thuyền to, súng tốt, càn rở cắn nuốt ta; bị ngăn chận ở Quảng Nam, bèn đánh vào Gia Định. Dân gian tà ở Bắc Kỳ mừng vì có loạn, nhân đó mà xuẩn động (xem chú thích đối chiếu [*] – TXA.).

    Hưởng hòa bình lâu ngày, dân không biết chiến tranh, thủ thành giữ biển, nào được mấy người, khiến cho trộm cướp khắp cõi. Trong thì bọn gian tà, ngoài thì giặc cướp, chúng lén lút thông đồng, lan nhanh như gió. Chẳng có ai cùng bảo vệ bờ cõi ta, huống gì bảo vệ dân ta ! Bất đắc dĩ phải đánh, vì thế dân càng lo sợ, càng nhọc nhằn.

    Vì giặc cầu hòa, ta bất đắc dĩ sai sứ hội ước. Bậc kỳ nho thạc phụ (7) khẳng khái xin đi, không xét rõ vì cớ gì mà dễ dàng thương thuyết để đòi lại, đã khinh suất đem cả nhân dân và đất đai mà nhiều triều khai thác sinh tụ, một sớm bỏ hết cho địch, gọi là chọn lấy cái họa nhẹ nhất. Liều chết đòi lại, đi sứ không làm nhục mệnh vua, quả như thế chăng ? (9) khiến ta cùng với một bề tôi thân cận chẳng biết làm sao đành nhìn nhau mà nuốt nước mắt, cam chịu tội với tôn miếu và thiên hạ.

    Kẻ mất không thể hoàn thành chí nguyện và sự nghiệp. Người còn mãi mãi ngậm ngùi lo lắng mà không sao rửa sạch được. Vậy ai gắng gỏi để vượt qua ? Nếu bảo rằng bỏ cái đã mất, chuyển cái đã nguy, không làm thế thì sao giữ được việc trước ? Rằng nếu kẻ bỏ mà có công, thì người làm mất nên có tội. Nếu người làm mất mà chưa định tội, thì kẻ bỏ sao gọi là công ? Hai điều đó chắng phải biện biệt. Huống gì, như kẻ kia đã làm mất, ta có thể lấy lại được, mới đáng gọi là công. Còn kẻ kia đã làm mất, ta lại theo đó mà bỏ đi, thì còn đâu là công nữa. Sao lại có thể ngược cả muôn người mà gọi là trí, chúc tụng giả dối mà cho là công. Vậy mà những kẻ bàn riêng còn ngỏ lời như thế, chẳng thương xót nước nhà.

    Điều đó không phải lạ sao ?

    Ngày càng trễ nãi, việc càng thêm phiền, không biết lòng người có thầm đau xót chăng ? Nhưng không sáng suốt trong việc biết người, đó là tội của ta. Dùng người không xứng đáng, đó cũng là tội của ta. Bất đắc dĩ ta phải nhường nhịn để tòng quyền, mong mỏi cho thiên hạ được đôi chút nghỉ ngơi. Từ đó mới nảy ra nhiều chuyện.

    Nhớ lại ngày ấy, tin chiến sự tới tấp, công việc cơ mật dồn dập, đêm ngày ăn ngủ không điều độ, như say, như dại, đến nay hồn kinh chưa tỉnh, mà bệnh tật ngày một tăng them. Thế mà không được may mắn chết, gặp được bệnh nguy cấp cho xong, mà lại thuyên giảm. Lúc đó, đầu váng, mắt hoa, chân yếu, bụng trệ, các hư chứng hiện ra. Việc tế tự không thể đích thân tham dự, việc thăm hỏi chính sự không thể chuyên cần, do đó việc chỉ trích lỗi ta càng thêm vậy.

    (XEM TIẾP)

  2. TXA. said

    (TIẾP THEO)

    2) BẢN DỊCH PHAN HỨA THỤY:

    Ôi! Dốt nát mà quen sống yên ổn, mông muội mà ở chốn nhà cao cửa rộng chẳng biết phòng bị, tôi tài tướng giỏi cũng đã tàn tạ hơn phân nửa, mấy ai có thể khôi phục lời di huấn về việc canh giữ biên cương của cha ta để giúp ta bước ra khỏi vòng tội lỗi?

    Trời cao lại trừng phạt nặng nề để răn dạy vua tôi ta. Người Châu Âu xa cách trùng dương ngoài vạn dặm, phong tục chẳng giống nhau, mà nước Pháp vốn là nơi quen biết cũ, bỗng đưa quân lính thuyền bè đến, bỏ tình hòa hiếu mà tìm cách xâm lấn bờ cõi, chúng cậy tàu bền súng tốt giày xéo để hòng nuốt chửng đất Quảng Nam, phá phách đất Gia Định. Đất bắc vốn ưa làm loạn nhân thể cũng nổi lên (xem chú thích đối chiếu [*] – TXA.).

    Hưởng thái bình đã lâu ngày, dân không biết chiến đấu, canh thành giữ chốt nào được mấy người, khiến đất nước đầy trộm cướp, trong gian ngoài giặc, chúng lén lút câu kết với nhau ngày càng tràn lan, chúng đến đâu thì tàn hại như gió bão, thử hỏi biết cùng ai để bảo vệ bờ cõi của ta huống chi là việc bảo vệ dân ta? Bất đắc dĩ phải đánh qua loa cho xong chuyện nhưng dân thì ngày càng quấy nhiễu.

    Để thôi mệt nhọc, nhân giặc cầu hòa ta đành phải sai sứ cùng chúng hội ước, những nhà nho lão thành, những đại thần uy vọng đều lấy làm bùi ngùi và xin đi, rồi chẳng hiểu sao lại quá dễ dãi trong việc thương thuyết mà trở về. Các triều đã dày công khó nhọc mở mang đất đai tụ họp dân chúng, bỗng nhiên một sớm thảy giao cho địch, họ đã chọn lấy cái họa nhỏ nên đã dùng cái chết để khỏi nhục mạng vua (20), quả như thế chăng, khiến ta cùng với một bề tôi thân cận (21) chẳng làm sao hơn, chỉ còn biết nhìn nhau mà nuốt nước mắt, đành đắc tội với tông miếu và thiên hạ.

    Kẻ mất chẳng hoàn thành được ý chí và sự nghiệp; người còn thì đằng đẵng xót thương lo lắng không sao khuây được. Đó là cái dẫn đến chỗ thảm khốc. Nếu cho rằng đành bỏ cái đã mất để lo xoay xở cái nguy mới hiện ra, thật không làm như thế thì làm sao giữ được việc đã qua? Than ôi, nếu bỏ là có công tất mất là có tội, nếu mất mà chưa cho là tội thì sao bỏ lại gọi là công? Hai điều ấy chắc có thể phân biệt được. Kẻ kia làm mất nay ta thu lại được mới nên gọi là công, huống hồ kẻ kia làm mất, ta lại hùa theo mà bỏ luôn, ôi công sao? Sao có thể lo lường trái đến vậy mà cho là trí, dối trá như vậy mà cho là công? Những kẻ bàn luận riêng tư còn cho như thế, nên họ chối bỏ chẳng đoái nghĩ gì đến nước nhà, thế nên chẳng lạ gì họ ngày càng uể oải, trốn tránh, do đó chính sự ngày càng phiền phức, không biết lòng người có từng thổn thức đau đớn hay không?

    Nhưng không sáng suốt trong việc biết người ấy là tội của ta, dùng người không đúng chỗ cũng là tội của ta, hằng trăm việc không làm được đều là tội của ta cả, bất đắc dĩ phải thuận theo quyền mà hành động, những mong được một phút nghỉ ngơi nhưng thiên hạ từ đó bắt đầu sinh ra lắm chuyện…

    Nhớ lại thời ấy, tin từ chiến trường gửi về vội vàng, tới tấp, công việc trọng yếu lại cần kíp, ngày đêm ăn nghỉ mất cả điều hòa, như điên cuồng, như mê loạn, đến nay nỗi kinh hoàng ấy còn chưa định tính, nên tật bệnh ngày một tăng, rồi chẳng may có một phen quá nặng đã chết đi sống lại, từ đó đầu choáng, mắt hoa, chân yếu, bụng ứ, những hư chứng thảy đều xuất hiện, nên việc tế tự không thể thân hành, việc triều chính không thể cần mẫn được. Vì vậy càng về sau ta càng bị chê bai phỉ báng.

    (XEM TIẾP)

  3. TXA. said

    (TIẾP THEO)

    3) ĐỐI CHIẾU THÊM VỚI BẢN DỊCH VIỆN SỬ HỌC:
    TẬP 31, QUYỂN XXXVII, NXB. KHXH., 1974, TR. 150-165
    ______________________

    [*] Chú thích đối chiếu:
    Bản dịch của Viện Sử học (sđd., tr.156): “Dân gian trá muốn làm loạn ở Bắc Kỳ cũng nhân đó mà xuẩn động”.
    Căn cứ vào các tài liệu gốc đã giám định khác, ở câu này, Tự Đức nói đến cuộc phản loạn do Pièrre Tạ Văn Phụng đứng đầu, dưới sự dẫn dắt trực tiếp của tên thực dân Pháp Charles Duval, nhằm làm sức ép để triều đình Huế đi đến việc kí cưỡng ước Nhâm Tuất 1862. — TXA.

  4. TXA. said

    Trong bài thơ trên, tôi viết:

    mong những-bi-kí-Tự-Đức-hiện-nay
    (hiện thực khác xưa)
    không chỉ đau,
    đã làm bệ phóng chống Tàu.

    Trân trọng,
    TXA.

  5. TXA. said

    Trân trọng mời xem bài thơ:

    NHỮNG CUỘC BIỂU TÌNH YÊU NƯỚC (thơ TXA.)
    Bấm vào đây

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: