Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Chùm thơ 10 bài về Phú Yên

Posted by Trần Xuân An on 15.09.2010

hidden hit counter

Cập nhật: 15-10 HB10: BÀI THỨ 10 ĐÃ ĐƯỢC BỔ SUNG 2 KHỔ THƠ VÀ 3 CHÚ THÍCH.

mừng hết lạm mù trong đáy mắt
bói trong thư ấy (8), vướng mê lầm
mõ vang khẽ thức hồn yêu nước
sử học là chuông, không quẻ xăm!

dịch biến tùy thời, mong chính trực
đâu ai tạ sự, nổ hay ngầm
Mai Xuân, án kết (9), nào sư Trứ
tuyệt mệnh thơ Người, mãi hát ngâm (10).

(Xem tiếp trọn bài 10 ở cuối khung này)

Cập nhật: 10-10 HB10 (2010): ĐÃ BỔ SUNG THÊM MỘT BÀI THỨ 10

Cập nhật: 03-10 HB10 (2010): ĐÃ ĐĂNG TRỌN VẸN 09 BÀI

CHÙM THƠ 3 BÀI KHI SẮP ĐI PHÚ YÊN

Trần Xuân An

1). Hình dung khi đến Phú Yên
2). Kính nghĩ về Lê Thành Phương (1825-1887), nghĩa tướng Cần vương (*)
3). Gành Đá Đĩa

_____________________

(*) Theo một số tài liệu gần đây cho biết, Lê Thành Phương là tác giả “Hịch Chiêu quân”. Trong đó, có câu không đúng với sự thật lịch sử. Phải chăng đó là một văn bản đáng ngờ? (Giới sử học và bản thân tôi đã làm sáng tỏ). Cũng nên nói thêm: Ngoại trừ các chi tiết bôi nhọ, xuyên tạc, chính các bản dụ, cáo thị của thực dân Pháp, nguy triều Đồng Khánh – Nguyễn Hữu Độ cũng vô hình trung ghi nhận lòng trung thành của nhân dân, phong trào Cần vương các tỉnh tả kì đối với Nguyễn Văn Tường (1824-1886), Tôn Thất Thuyết (1839-1913). Do đó, “Hịch Chiêu quân” chắc hẳn đã bị thêm bớt do người đời sau.

Lê Thành Phương không được sách sử trong Nam ngoài Bắc, từ trước đến nay đề cập đến, mặc dù đều có viết về phong trào Cần vương ở Phú, Khánh, Thuận (?). Đền thờ ông mới được người dân địa phương (?) xây dựng từ 1956, tu bổ vào năm 1971. Xin đánh 2 dấu hỏi khoa học ở 2 điểm này.

Xin xem thêm bốn (04) đầu sách của Trần Xuân An đã xuất bản và các bài khảo cứu khác của tác giả về đề tài Nguyễn Văn Tường (1824-1886).

TXA.
12 &14-9 HB10 (2010)

SẼ CÔNG BỐ SAU

—————————————–

Cả thảy 9 bài
ĐÃ NỘP (27-9 HB10):
Trưởng trại, nhà văn Đỗ Viết Nghiệm (cùng một số nhà thơ, nhà văn trại viên)
& ĐÃ GỬI ĐĂNG, PHÁT (23 & 27-9 HB10):
Nhà thơ Phan Hoàng, nhà văn Thu Trân (tạp chí Đương Thời) & các báo, đài ở Phú Yên
Nhạc sĩ Ngọc Quang (chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Yên)
Tttđt. Hội Nhà văn Việt Nam (29-9 HB10)

Cập nhật: 29-9 HB10 (2010):

Các bài thơ Trần Xuân An viết tại Đồi Thơm, Tuy Hòa, Phú Yên, trong thời gian dự Trại sáng tác do Hội Nhà văn TP.HCM. tổ chức, phối hợp với Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Phú Yên, với sự hỗ trợ của Công ti Du lịch sinh thái Sao Việt, từ 18 đến 28-9 HB10 (2010):

4). Bài toán đố về trung thu
5). Cuộc khởi binh nâu sồng 1898
6). Tùy bút ở Phú Yên
7). Từ Sông Cầu, ngắm Phú Yên như tranh sơn thủy
8). Ở Gành Đá, Huế bỗng dưng Tuy Hòa
9). Tiền Chiến và Đồng Cam

Bản đồ lớn hơn: Nguồn: khudothimoi. com

Ảnh lớn hơn

TXA. nhiếp ảnh tại Phú Yên, trong thời gian tham dự Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM., từ 18 đến 28-9 HB10 (2010)

Trần Xuân An

KÍNH NGHĨ VỀ LÊ THÀNH PHƯƠNG (1825-1887),
NGHĨA TƯỚNG CẦN VƯƠNG

Lệnh người đi – Dụ về kẻ ở (1)
chiếncần; “hòa” quyết bất đồng (2)
Ông yêu nước trách Người yêu nước?
hay cáo giặc làm ai nhiễu lòng? (3)

năm thập niên gần đây tưởng nhớ (4)
nước mắt buồn chảy ngược vào hồn
trang sử cũ giờ đây lật mở
Ông và Người chung trái tim son

Người gục chết, đảo đày – châu Mỹ (5)
bến Cây Dừa, máu đẫm vai Ông
Hịch Chiêu quân, chữ nào đã lỡ?
chú giải đành khắc giữa núi sông (6)

hay chỉ từ một chín bảy mốt
Hịch thêm vào nét nghĩa vu oan
tranh thờ Ông, cũng sai trang phục
quản hương binh, hệt tướng vua Càn! (7)

nghìn đời sau dâng hương lễ hội
trán trang nghiêm, ánh mắt trong hơn
kế li gián, giặc gieo, đã rõ
Ông và Người cùng sáng nước non.

TXA.
15:40, ngày 13-9 HB10 (2010)
và sáng sớm 14 – 9 HB10, tại TP.HCM.

(1) “Lệnh dụ thiên hạ Cần Vương” và “Dụ Nguyễn Văn Tường”, từ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị), được phát đi khắp nơi và gửi về Huế trong cùng một ngày, 13 – 7 – 1885 (02 – 6 Ất Dậu), với sách lược “kẻ ở, người đi”.

(2) Kháng chiến là cần vương (giúp vua [cứu nước]); “hòa”, nhưng quyết không cùng lòng với giặc Pháp. “Hòa” ở trường hợp Nguyễn Văn Tường, trong thời điểm sau ngày 05 – 7 – 1885, thực ra là chiến. Nguyễn Văn Tường vốn là người đứng đầu nhóm chủ chiến (xem: bản án chung thẩm trong “Đại Nam thực lục”, kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., tr. 35).

(3) “Hịch Chiêu quân” của Lê Thành Phương có câu không đúng với sự thật lịch sử. Từ lâu, giới sử học cùng bản thân tôi đã làm rõ. Cũng cần nói thêm: đồng thời với các chi tiết bôi nhọ, xuyên tạc, chính các bản dụ, cáo thị của thực dân Pháp, ngụy triều Đồng Khánh – Nguyễn Hữu Độ cũng vô hình trung ghi nhận lòng trung thành của nhân dân, phong trào Cần vương các tỉnh tả kì đối với Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), Tôn Thất Thuyết (1839 – 1813). Do đó, “Hịch Chiêu Quân” chắc hẳn đã bị thêm bớt do đời người đời sau (“hay cáo giặc làm ai nhiễu lòng?” – TXA) (*). Xin xem thêm bốn đầu sách đã xuất bản chính thức của Trần Xuân An cùng các bài khác của tác giả (trong cuốn “Bàn thêm về mấy vấn nạn sử học”) về đề tài Nguyễn Văn Tường.

(*) Năm 1971, mới công bố “Hịch Chiêu quân”. Trích dẫn từ các nguồn tài liệu:

— “Do các ông Lê Thành Thao, Lê Thành Lược, Võ Toàn Lưu, cháu nội ngoại 4 đời của Lê Thành Phương sưu tầm. Các bài này hiện còn ghi tại đền thờ Lê Thành Phương” (Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật Phú Khánh, xuân Giáp Tý, số 2 – 1984, tr. 32 – tài liệu tại Thư viện Phú Yên).

— “Bài hịch này, đọc trước ba quân tướng sĩ (*1), vào tháng 8-1885, ở núi Một, thôn Tân An, tổng Xuân Vinh, phủ Tuy An. Thân quyến Lê Thành Phương đã ghi chép và lưu giữ bản hịch này. Đến năm 1971 (đền thờ Lê Thành Phương xây dựng xong), ông Võ Toàn Lưu và ông Lê Thành Thao chép bài hịch thành văn bản để thờ tại đền thờ Lê Thành Phương” (Đặc san “Danh nhân lịch sử Lê Thành Phương”, Bảo tàng tỉnh Phú Yên xuất bản, 2-1997, tr. 17 – tài liệu của ThS. Nguyễn Quang Trung Tiến)

(*1) Lê Thành Phương chỉ là một vị chỉ huy lực lượng hương binh ở một địa phương mà thôi.

Thêm vào đó, tấm chân dung Lê Thành Phương được đặt ở bàn thờ trong đền thờ ông là một bức họa được vẽ, cho chúng ta thấy ông mặc quan phục (trang phục quan võ triều Nguyễn?). Rõ ràng đó là chi tiết phi lịch sử. Suốt đời Lê Thành Phương chưa hề làm quan (chỉ đỗ tú tài, ở nhà dạy học) và lúc khởi nghĩa Cần vương (sau 5-7-1885), chắc chắn ông không có điều kiện kịp thời để mặc quan phục võ tướng. Mặt khác, các sĩ phu lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa Cần vương chỉ chỉ huy hương binh và cung cách ăn mặc cũng theo cách của các nghĩa sĩ, nghĩa là không mặc quan phục võ tướng như thế.

(4) Lê Thành Phương không được sách sử trong Nam ngoài Bắc từ trước đến nay đề cập đến, mặc dù đều có viết về phong trào Cần vương ở Phú, Khánh, Thuận. Thậm chí, A. Laborde còn cho rằng phong trào Cần vương ở Phú Yên (1885-1887) là do người Bình Định thúc đẩy, cụ thể là Mai Xuân Thưởng (1860-1887) (bài “Tỉnh Phú Yên”, trong “Những người bạn cố đô Huế” [B.A.V.H.], tập XVI, năm 1929, Nguyễn Cửu Sà dịch, Lưu Nguyễn, Nhị Xuyên hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 2003, tr. 389-391 [tr. 382-454]). Đền thờ Lê Thành Phương mới được dựng từ 1956, tu bổ vào năm 1971. Xin đánh dấu hỏi khoa học ở điểm này.

(5) Quần đảo Tahiti, thuộc Pháp, trên Thái Bình Dương, gần châu Mỹ.

(6) Hiện nay, thực hiện yêu cầu khoa học cần thiết là chú giải vào “nguyên bản” lưu hành. Gọi là “nguyên bản” nhưng thực ra bản gốc “Hịch Chiêu quân” không còn.

(7) Khổ thơ này, tôi viết thêm sau khi từ Phú Yên về (29 – 30-9 HB10), để sát hợp với thông tin – tư liệu hơn. Xem lại bị chú của chú thích 3.

 



____________________________________________________
 
Cập nhật bổ sung (ngày 05-10 HB10 [2010]):
 
 
 



Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 101, 9+10-2010 – mục lục

Xin lưu ý trang này:



T.chí Huế Xưa và Nay, số 101, 9+10-2010 – 2 tr. cuối b. khảo cứu

 


________________________________________________

 

Ảnh lớn hơn

Các nhà văn, nhà thơ Đoàn Thạch Biền, Trần Xuân An, Trần Hữu Dũng, Ngô Liêm Khoan, trại viên Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM. tại Phú Yên, và một phóng viên, từ 18 đến 28-9 HB10 (2010) —- Nhiếp ảnh: Nguyễn Nhân (photo . net)

Ảnh lớn hơn

8 nhà thơ, nhà văn dự trại Trại sáng tác Hội Nhà văn TP.HCM. tại Phú Yên, 18 — 28-9 HB10 (Thu Trân, Trần Xuân An, Đỗ Viết Nghiệm – trại trưởng -, Đặng Hồng Quang, Phố Giang, Nguyễn Bính Hồng Cầu, Quang Chuyền, Trần Hữu Dũng), nhạc sĩ Ngọc Quang (chủ tịch HVNNT.PY.), nhà thơ Phan Hoàng (UV.BCH.HNV.TP.HCM.). Ảnh được chụp lúc đến thăm Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Phú Yên —- Nhiếp ảnh: anh Bình (tài xế Cty Sao Việt)

Xem thêm: Các bản tin của báo chí (links) về Trại sáng tác HNV.TP.HCM. tại Phú Yên.

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

http://picasaweb.google.com/s/c/bin/slideshow.swf

Cập nhật: 03-10 HB10 (2010)
Đã đăng trọn vẹn:

Bài 1

Trần Xuân An

HÌNH DUNG KHI ĐẾN PHÚ YÊN

xe với sao mai cùng lúc tới
Phú Yên, nhụy sáng, xinh Tuy Hòa
mình, con đom đóm nhiều năm trước
gùi trăng Chiau Mạa, có lần qua

đèn đuốc thuở nào hiu hắt lắm
sáng nhau, nguồn sáng là trăng trời
sớm nay còn xám, thơ bừng thắp
tâm kết mỗi từ, trăm ngọc tươi

đâu phải Tản Đà thơ quán gió:
đa tình con mắt Phú Yên xưa
duyên hơn lửa, nắng, trăng và điện
tim ngời, sao liếc, nghe đong đưa!

lòng hòa, nốt nhạc vin dây vút
đất giàu thương mến, rất bình an (*)
ngày đầu khẽ lắng chuông trong ngực
đom đóm – ngọc trai – sao biếc ngân.

TXA.
Lúc 17giờ, 12-9 HB10 (2010)
& lúc 12 giờ, 17-9 HB10 tại TP.HCM.

(*) Phần nào theo nghĩa chữ Hán của hai địa danh Tuy Hòa, Phú Yên.

Bài này được viết
sau khi nhận được thông báo sẽ đi dự trại sáng tác Phú Yên
từ 18 đến 28-9 HB10 (2010)
& có sửa ít chữ sau cuộc họp nhóm nhà văn, nhà thơ dự trại ở cơ quan HNV.TP.HCM.

Bài 2
(xem ở bên trên)

Bài 3

Trần Xuân An

GÀNH ĐÁ ĐĨA

thơ tiên đĩa gốm huyền vàng?
kìa em, hoành tráng đã ngàn năm đây

chồng chồng đĩa nhạc say say
ngắm cao lớp lớp ảnh đầy đĩa ghi?

núi trào cảm xúc, lạ chi
tận nơi, mắt mới ngợp kì công ai

ta xây thêm nhé, tháp đài
đĩa ngời biển chữ vun hoài tượng em.

TXA.
7:10, 14 – 9 HB10
tại TP.HCM.

Bài 4

Trần Xuân An

BÀI TOÁN ĐỐ VỀ TRUNG THU

mỗi tháng một lần tròn đầy
mỗi năm một lần sáng nhất
nếu chia đều trên trái đất
mỗi người đẹp mấy đêm ngày?

bài toán đố rất thơ ngây
mãi mãi loài người nát óc
trăng bạc phai dần mái tóc
vẫn trăng nhắc nhở giữa trời

nhưng đó là trăng xa xôi!
trăng đời: chén cơm đều trắng
trăng đời: bóng đèn đều rạng
cho dù sáng – mờ, đầy – vơi

sáng và tròn trên cõi đời
lại là vượt lên hiện có
mỗi người, mấy thời vượt khó?
lời giải là ở mình thôi!

TXA.
6g – 6g45’, 20.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

Bài 5

Trần Xuân An

CUỘC KHỞI BINH NÂU SỒNG 1898

tam quan, bình phong nứt
khu bảo tháp gió lùa
chùa cổ đồi Đá Trắng
còn chăng dăm nét xưa?

am nghĩa binh Võ Trứ
vọng hoài vó ngựa khua
gạch vôi sao quá mới
dưới gốc thu trăm mùa

tìm đâu thư tịch cũ
qua lửa bão đạn mưa
kí ức rêu bụi phủ
chuyện sử đành phai thưa

rộng cửa thiền xưa đón
giúp vua lẫn không vua
duy một điều: yêu nước
là chung tấm lòng chùa

tượng bồ tát từng lấp
chuông đồng đau vết cưa
Phật nguyên nụ cười Việt
lung linh bóng nắng trưa.

TXA.
13- 16:40, 23.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM.

Bài 6

Trần Xuân An

TÙY BÚT Ở PHÚ YÊN

Đà Diễn xưa, có một nguồn Thạch Hãn (*)
Quảng Trị ơi, vào đây tự bao giờ?
thời mở cõi dẫu khuyết hao lịch sử
nhưng địa chí kia nào phải mơ hồ

chiều Sông Hinh, mưa mịt mờ
nghe một thoáng đăm chiêu áy náy
quán cà phê sớm mai, nhã nhạc dăm đời xa ngái
ca từ mỗi thời mỗi khác rồi chăng?

một nguồn Đà Rằng: mấy đời tiên tổ đã dừng chân
ở Quảng Trị của cõi miền Thuận – Quảng?
chỉ mang vào Phú Yên tên sông Thạch Hãn
vẫn giữ gốc xa xưa: Thanh Hóa, Nghệ An?

nghe cây lá gật gù, nắng bớt phân vân
và chiếc xe băng qua ban trưa ngẫu hứng
ngỡ xoay quanh núi Đá Bia sừng sững
tôi tình cờ tìm thêm một góc nhìn riêng

Đá Bia: Phượng hoàng dợm cánh bay lên!
bay lên tầm nhìn Tây Sơn – Gia Long nhất thống
bay lên tầm nhìn Vũng Rô thâm sâu lặng sóng
bay lên tầm nhìn biển bờ Mũi Điện – Trường Sa

Tháp Nhạn như cây xương rồng nâu non không già
từ Đa Đảo sóng giạt vào, mấy trăm năm còn lại
đôi mắt Phật, đôi mắt Shiva
trông ra Biển Đông thức mãi
bóng áo lam
như bay lên
trong lời khấn nguyện cuối chiều tà

đón chuyến xe về là trăng sáng giữa xanh xa
một trung thu trên Đồi Thơm, thơm ngát
giữa những ước mơ, có ước mơ:
không sai lạc
trên trang sách tuổi thơ.

TXA.
Chiều 22.9 HB10 (16.8 Canh Dần), lúc 15:00 – 17:12
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

(*) Đà Diễn: sông Đà Rằng ngày nay. Trong các nguồn, các nhánh sông Đà Rằng, có một dòng mang tên Thạch Hãn (theo Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 3, Bản dịch Viện Sử học (người dịch: Phạm Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh), Nxb. Thuận Hóa, 1992, phần viết về Phú Yên, tr. 72).

Bài 7

Trần Xuân An

TỪ SÔNG CẦU,
NGẮM PHÚ YÊN NHƯ TRANH SƠN THỦY

1
ai trên gành cát Phú Yên
quê xa, ai cũng trên triền cát xa?
– biển trời soi chiếu bóng ta
lên mây xuống cát cho xa thành gần
cũng dương liễu rất quen thân
cát muôn đời vẫn trắng ngần Miền Trung

nhưng dạt dào sóng Cửa Tùng
thiết tha Mỹ Thủy, trầm hùng Việt Yên! (1)
biển Xuân Đài lại rất thiền
Vịnh Hòa, Xuân Hải nếp phiền phẳng phiu
vuông Ô, lồng Lấm hiu hiu
nuôi bao nguồn sống dưới trìu mến xanh

2
giấc trưa Bến Ghé ngọt lành
vương chiều Gành Đỏ nhớ quanh quất nào
mướn Xiêm khẩn đất, tiễn chào (2)
đưa miền Thuận – Quảng gắn vào Phú Yên
Thành Hồ, xe chỉ lướt nghiêng
nghe An Thổ vọng tiên hiền: thần Lương (2)

3
khi không chín nhớ mười thương
bạc rồi một nhớ quê hương trong mình!
trội hơn thi sĩ đa tình
hai đèo – guốc võng, trùng trình: Phú Yên
đẹp xinh sơn thủy nên tiên
chút đa tình để chiêu hiền, thuở xưa ?

Phú Yên: mười ngón xòe thưa –
núi non – múc cát, thêu thùa Biển Đông
chỉ tay nối lại bao sông?
xe mình đi cũng trong lòng tay thiêng
bạc tình quê, bạc tình riêng
Sông Cầu một sáng còn miên man chiều…

TXA.
6:30 – 11:03, 25.9 HB10 (2010)
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn Hội Nhà văn TP.HCM. –

(1) Cửa Tùng, Mỹ Thủy, Việt Yên (Cửa Việt) ở Quảng Trị.

(2) Theo Quốc sử quán Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện”, tiền biên (tập 1), bản dịch VSH., Nxb.Thuận Hóa, 1993, tr. 89.

Bài 8

Trần Xuân An

Ở GÀNH ĐÁ, HUẾ BỖNG DƯNG TUY HÒA

cách đây ngàn năm xa
hình như lũ phù sa
tràn về gần lút núi
hay từng năm, dần dà
núi thành cụm đá gửi
trên cánh đồng Tuy Hòa

bao mùa vàng rộng ra
sóng lúa thay sóng biển
vỗ Gành Đá thơ ca
sông Ba cùng cất tiếng
trầm đục và ngân nga
trên bao la Tuy Hòa

tóc em là sông Ba
tay em, mùa vàng đó
ôm anh trong tình ca
cho Gành Đá anh thở
đừng bắt anh khuyụ đổ
trên mênh mông Tuy Hòa

tình ta ngàn năm qua
bao vun bồi, không đếm
bao lần chung môi nếm
sao ào ạt, khi xa
một mình, không chăn đệm
Huế bỗng dưng Tuy Hòa!

TXA.
14:30 – 16:19, 26.9 HB10
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV.TP.HCM. –

Bài 9

Trần Xuân An

TIỀN CHIẾN VÀ ĐỒNG CAM

rất nhiều nơi hẳn bình thường
ở nước mình sao thấy lạ
nỗi chiến tranh còn vật vã
phu phen nô lệ được thờ!

giặc Pháp thương chi đồng khô
sợ đói khiến dân nổi dậy
chúng mong thóc đầy hạt mẩy
tàu viễn chinh há họng to

nhưng ta thương bao nhà thơ
phần nào văn nô thuở đó
ép lệ tình duyên òa đổ
cũng như dòng kênh Đồng Cam!

thắp hương, cháy nỗi đau thầm
chết đập khác gì chết giấy
Tiền Chiến là Đồng Cam đấy
chừng nay tim ấm lòng no

chiến tranh đau đến bao giờ?
cách nào niềm đau chóng dứt?
người thắng khơi trong – vớt mục
lạ, nhưng bỡ ngỡ gì đâu!

TXA.
6:00 -9: 27, 9 HB10 (2010)
tại Sao Việt (Đồi Thơm, Phú Yên)
– Trại viết văn HNV. TP.HCM. –

Đã đăng 09 bài ở Tcđttl. TranNhuongCom

Cũng có thể xem tại điểm mạng chính của TXA.

Đã đăng 02 bài ở Tcđttl. PhongDiepNet

Bài 10

Trần Xuân An

TRONG ÂM HƯỞNG SỬ PHÚ YÊN,
NHỚ TÊN TRƯỜNG CŨ TRẦN CAO VÂN Ở TAM KỲ
(thêm một bài bổ sung vào chùm thơ về Phú Yên – 10-10-10)

quân sư của Võ – truyền đơn đỏ (1)
dù cũi Phú, Bình, ngục Quảng Nam
Côn Đảo, lưu đày, lòng chẳng khác
chí ngời khởi nghĩa lắng sen Tâm (2)

học đón Duy Tân như Trị – Tĩnh (3)
đầu rơi, Cống Chém ngập hờn căm (4)
ai người Mai – Hãn tìm xương lấp
cải táng trong đêm Huế tối tăm? (5)

nhà sư mãi sáng Trung Thiên dịch
Trời với Đất thân, Người xứng tầm (6)
mấy thuở đuổi thù, bao thuở kính:
chuông chùa Đá Trắng vọng ngàn năm (7)

mừng hết lạm mù trong đáy mắt
bói trong thư ấy (8), vướng mê lầm
mõ vang khẽ thức hồn yêu nước
sử học là chuông, không quẻ xăm!

dịch biến tùy thời, mong chính trực
đâu ai tạ sự, nổ hay ngầm
Mai Xuân, án kết (9), nào sư Trứ
tuyệt mệnh thơ Người, mãi hát ngâm (10).

TXA.
10-10-10 (HB10 – 2010)

(1) Theo A. Laborde, “Tỉnh Phú Yên” (BAVH., 1929): Võ Trứ (1855? – 1900?) dán và rải truyền đơn màu đỏ với nội dung Cần vương (cũng có thể hiểu là nhân danh vua Thành Thái?).

(2) Hồ Tịnh Tâm (Huế), 1916, nơi Trần Cao Vân (1866-1916) và Thái Phiên tìm gặp vua Duy Tân.

(3) Các căn cứ của triều đình kháng chiến (1885-1888): Tân Sở (Quảng Trị), Hương Khê (Hà Tĩnh) và còn dự kiến một sơn phòng ở Thanh Hóa.

(4) Cống Chém (An Hòa, Huế).

(5) Theo vài tài liệu, bà Trương Thị Dương, người Quảng Trị — xứ non Mai sông Hãn –, đồng chí của Trần Cao Vân, đã âm thầm cải táng di cốt ông cùng Thái Phiên vào năm 1925.

(6) Tác phẩm lập thuyết của Trần Cao Vân, chỉ mới phổ biến trực tiếp bằng trò chuyện và bằng bài thơ “Vịnh Tam tài”: Thiên (tả, thượng) – Nhân (trung) – Địa (hữu, hạ), cũng cùng ý tưởng thể hiện trong bài thơ tuyệt mệnh: “Đứng giữa Trời – Đất, không dựa vào Thượng đế”, đề cao vai trò chủ thể của Con Người.

(7) Chùa Đá Trắng (Từ Quang) ở Tuy An, Phú Yên.

(8) Các loại thư từ thuộc lĩnh vực bói toán, địa lí phong thủy… Ngoài ra, còn có các văn thơ thư từ liên lạc tại Phú Yên, kí tên Chánh Minh, Chơn Diện (xem: Tô Đình Cơ, “Thân thế và sự nghiệp Trần Cao Vân (1866-1916)”, Sở VHTT. Bình Định, 1995, tr. 27). Riêng bức thư gửi vua Duy Tân, theo tác giả Trần Trúc Tâm, “Chí sĩ Trần Cao Vân (1886-1916)”, Nxb. Đà Nẵng, 1999, tr. 53-54: “Thư dài nhưng tựu trung mang 3 ý ‘Tha Mỹ quốc… chung nhược’; ‘Thiên khải… chi quyền’; ‘Phụ hoàng đế… kiến quật’…” và tất nhiên, còn có ý kiến nghị vua đứng đầu cuộc khởi nghĩa, như nhiều sách đã chép lại và diễn ý, ngoài ra không có gì khác.

(9) Bản án ngụy triều Đồng Khánh và thực dân Pháp về Mai Xuân Thưởng: “Dương vị Hàm Nghi khởi nghĩa, âm vị ngụy Nhạc phục thù” (Mặt phải, vì Hàm Nghi mà khởi nghĩa; mặt trái, vì ngụy Nhạc [Tây Sơn] mà phục thù). Bản án về Võ Trứ (1898? / 1900?) hẳn không phải vậy.

(10) TXA. mới viết thêm hai đoạn cuối (2 khổ thơ thứ 4, thứ 5), theo tinh thần bài viết về cụ Trần Cao Vân trong một đặc san từ 1974 (1995, đăng lại trong kỉ yếu Trường THPT. Trần Cao Vân, Tam Kỳ), đồng thời theo yêu cầu của nhiều người đọc, và cũng để công bằng hơn trong nhận định, tuy là nhận định bằng thi ca.

Đã đăng ở PhongDiepNet & TranNhuongCom – 11-10 HB10

http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=11275
http://trannhuong.com/… NHỚ-TÊN-TRƯỜNG-CŨ-TRẦN-CAO-VÂN-Ở-TAM-KỲ

Advertisements

11 phản hồi to “Chùm thơ 10 bài về Phú Yên”

  1. TXA. said

    中立乾坤不倚天,
    越南文物古來傳。
    君民共主精神會,
    臣子尊周日月傳(懸)。
    百越山河無白齒,
    一腔忠義有青天。
    英雄提局休成敗,
    公論千秋付史編。

    • TXA. said

      TUYỆT MỆNH THI

      Trung lập kiền khôn bất ỷ thiên
      Việt Nam văn vật cổ lai truyền
      Quân dân cộng chủ tinh thần hội
      Thần tử tôn Chu nhật nguyệt huyền
      Bách Việt sơn hà vô bạch xỉ
      Nhất xoang trung nghĩa hữu thanh thiên
      Anh hùng đề cục hưu thành bại
      Công luận thiên thu phó sử biên.

      (Nguyên tác của Trần Cao Vân [1866-1916])

      THƠ TUYỆT MỆNH

      Giữa trời đứng sững không thiên
      Nghìn năm nước Việt còn truyền sử xanh
      Chu vương nhân chính đại hành
      Quân dân hợp sức lũy thành đắp xây
      Người thù non nước còn đây
      Trời xanh với tấm lòng nầy tương tri
      Anh hùng thành bại sá gì
      Nghìn thu lịch sử còn ghi lại đời.

      (Bản dịch của Hành Sơn)

      THƠ TUYỆT MỆNH

      Đứng giữa Non Sông, chẳng tựa Trời
      Việt Nam văn hoá cổ kim soi
      Vua Dân đồng chí nên tương đắc
      Noi dấu nhà Chu nghiệp chẳng dời
      Bách Việt đâu dung phường Quỷ Trắng
      Trời xanh minh giám tấc lòng tôi
      Anh hùng thành bại lo chi tới
      Phó mặc nghìn thu sử sách khơi!

      (Bản dịch của Bạch Thủy)

      THƠ VIẾT TRƯỚC KHI CHỊU ÁN CHÉM

      Đứng giữa đất trời, chẳng dựa Trời
      Văn minh cõi Việt vạn xưa soi
      Vua – dân Diên Hội (1), chung tình Nước
      Quan – lính Chu Công (2), cộng ánh Đời
      Bách Việt núi sông, ma trắng lặn
      Một chương trung nghĩa, nắng trong phơi
      Anh hùng tạo cuộc, chi thành, bại!
      Công luận nghìn năm mặc sử khơi.

      (TXA. biên soạn lại theo nguyên tác và theo bản dịch của Bạch Thủy)

      (1) Hội Diên Hồng, vua và dân cùng bàn việc nước một cách dân chủ. TXA. thêm vào điển tích này để đối chỉnh với câu dưới và diễn đạt rõ ý của cụ Trần Cao Vân hơn.
      (2) Chu công và Chu Lệ vương (thời cổ đại, Trung Hoa) thực hiện “cộng hòa hành chính”. Xem “Hán – Việt từ điển” của Đào Duy Anh. Điển tích “Chu Công” này chỉ là thủ pháp nghệ thuật ngày xưa. Ngày xưa, các cụ hay dùng điển tích Trung Hoa, chứ không có ý nghĩa lệ thuộc Trung Hoa về chính trị, quân sự.

      (TXA. chú thích).

      • txawriter said

        LỜI NÓI SAU CÙNG TRÊN ÁN CHÉM
        thơ tuyệt mệnh chữ Nôm của Trần Cao Vân (1866-1916)

        Trời chung không đội với thù Tây
        Quyết trả ơn vua, nợ nước này
        Một mối ba xiềng xin giữ chặt
        Thân dù thác xuống rạng đài mây

        TRẦN CAO VÂN (17-5-1916)

  2. TXA. said

    13

    NGUYỄN VĂN TƯỜNG & TÔN THẤT THUYẾT…

    Dụ Cần vương dậy Trường Sơn
    Giải Triều, trung nghĩa, tờ son gửi về
    bình Tây, sát tả-tà-mê
    cho Tân Sở – Huế tư bề hoa giăng
    lễ tần viết sắc “hòa” ban
    Tôn Thuyết chiến để Nguyễn Văn Tường đàm
    Pháp tung cáo trạng bắc nam
    lưu đày Kì Vĩ, chết thầm đảo xa
    súng rền, khâm sứ bôi nhòa
    hòm tù đỏ, Hạnh Thục ca hoen vàng
    Vè Thất thủ giữa dân gian
    giọng run lệch bởi chuông vang giáo đường
    thơ Nguyễn Thượng Hiền buốt sương
    thương thái phó, ngó sen vương, dặm về (*)

    14

    […]

    15

    PHAN BỘI CHÂU & MAI LÃO BẠNG…

    mắc mưu Hữu Độ tỏa mê
    Khang, Lương (đại Hán !), xóa thề Cần vương
    Duy tân theo Nhật, nghẹn đường
    súng gươm Quang phục, tự cường, khôn nguôi
    Mai Lão Bạng sống bên Người
    sách kia ai sửa?
    Sai lời sắt son! (**)
    gót chân ngang dọc chưa mòn
    mắt sương Bến Ngự vẫn còn ngóng trông
    xa xa một ngọn cờ hồng
    nụ cười hi vọng ấm dòng sông Hương

    (Trích: Trần Xuân An, “Cảm nhận bên dòng sông”, trong tập “Nắng và Mưa”, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991 – có bổ sung ở bản vi tính, sách điện tử)

  3. TXA. said

    Xem thêm:

    Bài “Phan Bội Châu trong quan hệ với Thiên Chúa giáo” (kí tên Phan Huyên Đình, khi đăng ở Tạp chí Xưa & Nay)

    http://tranxuanan.writer.googlepages.com/luanvethoichungta_b13.htm

    http://giaodiem.us/us-2007/407/407-txa-pbchau.htm

    http://tranxuanan-writer-1.blogspot.com/2007/04/tran-xuan-phan-boi-chau-trong-quan-he.html

    http://www.vusta.vn/news_detail.asp?id=22343

    http://sites.google.com/site/tranxuananwriter/Home/danh-muc-tac-pham-txa/tieu-luan-1/bai13

  4. TXA. said

    TRÍCH:

    TRẦN XUÂN AN

    VỀ MỘT VÀI TRANG

    ĐẢO NGƯỢC SỰ THẬT LỊCH SỬ

    VÌ MỤC ĐÍCH TUYÊN TRUYỀN

    TRONG VIỆT NAM VONG QUỐC SỬ

    (trong: Trần Xuân An, “NGUYỄN VĂN TƯỜNG, MỘT NGƯỜI TRUNG NGHĨA”, Nxb. Thanh Niên, 2006)

    1. Phan Bội Châu bị mắc mưu tuyên truyền bôi nhọ nhằm dập tắt phong trào Cần vương của Hector (khâm sứ thực dân Pháp), Đồng Khánh, Nguyễn Hữu Độ, Phan Liêm, Phạm Phú Lâm, và của hai cố đạo Puginier, Camelbeck cùng đồng bọn tả đạo trong Thiên Chúa giáo, sau khi Đất nước và triều đình hoàn toàn rơi vào tay giặc Pháp. Thế hệ cụ Phan còn bị ảnh hưởng ít nhiều do sự nhồi sọ bởi nội dung giảng dạy, có thể như bản thảo Đại Nam thực lục, chính biên, đệ lục kỉ (1885 – 1888), trong nhà trường thực dân nửa phong kiến (trường học ở phủ, huyện và Quốc tử giám). Đây chính là các nguyên nhân tạo ra sự hoang mang, rối nhiễu, tác hại khôn lường trong xã hội Việt Nam hồi đó.

    Mặt khác, nhận thức về hiện thực lịch sử trong thực tế đời sống của Phan Bội Châu vẫn có nhiều sai sót. Cụ Phan sai lầm đến mức lẫn lộn chi tiết cụ thể nhất là cái chết của Phạm Thận Duật với cái chết của Nguyễn Văn Tường; thậm chí cụ không biết chính xác ba tỉnh Miền tây Nam kì mất vào năm nào! v.v… Những sai sót ấy là do sự bưng bít thông tin, bị ngăn cấm liên lạc… Trong điều kiện bị thực dân độc quyền thao túng, lũng đoạn, xuyên tạc thông tin và bị chúng hạn chế liên lạc như thế, làm sao cụ Phan hiểu và biết được chút gì đúng với sự thật về những nhân vật lịch sử trong triều đình Huế trước ngày 06.9.1885! Những nhân vật lịch sử ấy lại cách thế hệ cụ Phan đến bốn, năm mươi tuổi! Huế lại xa Nghệ An tít mù tắp! Nói như vậy, phải thấy ở Việt Nam vong quốc sử những ghi nhận không sai sót đáng kể về phong trào Cần Vương (2), một phong trào do chính sĩ phu, nông dân trực tiếp tiến hành; riêng khía cạnh sưu thuế (20 loại thuế của thực dân Pháp với sự tàn ác của chúng) là vấn đề sát sườn, nhân dân xứ Nghệ và bản thân cụ Phan cũng phải gánh chịu, thì không thể sai sót được. Phong trào nhân dân chống sưu thuế nặng nề dậy lên vào năm 1908 ở Trung kì là một minh chứng… Từ đó, với cái nhìn tổng thể về Việt Nam vong quốc sử, có thể nói rộng ra, ngoài những nhận thức chính xác về bản chất thực dân nói chung và sự phản kháng của nhân dân nói chung, không phải người yêu nước, nhiệt tâm cứu nước là không sai sót về kiến thức lịch sử, mà thậm chí vẫn sai sót nghiêm trọng nữa là đằng khác, và có lắm người sai sót mãi cho đến cuối đời!

    Từ sai sót đến đảo ngược sự thật lịch sử về Nguyễn Văn Tường… là do một thủ đoạn chính trị.

    2. Phan Bội Châu chủ trương bảo hoàng, tôn quân, trung quân như một thủ đoạn: tôn phù Cường Để (Nguyễn Phúc Hồng Dân), hậu duệ của hoàng tử Cảnh (tín đồ Thiên Chúa giáo) [2] (3). Phan Bội Châu cố ra sức tạo lại uy tín cho hoàng tộc triều Nguyễn vốn bị Dục Đức, Hiệp Hòa, Hồng Hưu… làm sứt mẻ. Vì vậy, cụ quy hết tội làm mất nước là do các đại thần và do Từ Dũ! Ở điểm này, Phan Bội Châu “bảo hoàng hơn vua”! Cụ Phan còn kém xa vị vua yêu nước Thành Thái, mặc dù Thành Thái là con trai Dục Đức (bị Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phế truất, do thân Pháp và thân tả đạo). Thành Thái đã bảo đảm được quyền trung thực cho Quốc sử quán, nên đã bảo đảm được sự thật lịch sử, đồng thời đã chứng tỏ được sự công minh của sử học (sử học bất vị thân, luật pháp bất vị thân), và như thế là giữ được uy tín cho vương triều Nguyễn.

    3. Phan Bội Châu liên kết với một bộ phận linh mục, giáo dân trước khi xuất dương vào năm 1905 [3]. Tuy nhiên, chắc chắn không phải cụ Phan liên kết với Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam thuở bấy giờ, một “giáo hội” mà hàng giáo phẩm (chức sắc) cao cấp đều do cố đạo Pháp, Tây Ban Nha nắm giữ! Do mối liên kết đó, Phan Bội Châu đổ tội để đả kích trực tiếp Nguyễn Văn Tường, Từ Dũ, đả kích ám chỉ Nguyễn Phúc Thuyết (cụ Phan không gọi là Tôn Thất Thuyết hay Lê Thuyết). Và khi Phan Bội Châu đã sang Trung Hoa, cụ không một lần ghé thăm Tôn Thất Thuyết, mặc dù hoạt động nhiều năm gần nơi Tôn Thất Thuyết đang sống lưu vong [4].

    4. Mọi người đều biết rõ khi Pháp chuẩn bị xâm lược Bắc Kì lần thứ hai, Nguyễn Văn Tường đã đại diện triều đình tiếp xúc với Đường Đình Canh (Chiêu thương cục) để liên minh với nhà Thanh, vào những tháng cuối năm 1881, đầu năm 1882. Nhưng sau đó, nhà Thanh Trung Hoa đã mưu toan và bộc lộ dã tâm cùng với Pháp xâu xé, chia đôi Bắc Kì, nên Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết buộc lòng phải thực hiện ngoại giao đối trọng, trung lập giữa hai nước xâm lược ấy. Đó là thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” [5]. Và cuộc chiến tranh Pháp – Hoa ngã ngũ với sự thất bại về phía Trung Hoa.

    Việc thực hiện ngoại giao đối trọng, trung lập giữa hai nước xâm lược Pháp – Hoa, với thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu”, không những khiến Pháp thù ghét, còn khiến những kẻ Đại Hán bành trướng chủ nghĩa như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu không thể không căm hận. Thật ra, Pháp thù ghét là chuyện đã đành, còn chính những kẻ Đại Hán cam tâm xâu xé một nước láng giềng trước nạn thực dân da trắng đúng ra phải tự vấn lương tâm.

    Phan Bội Châu còn có bút hiệu là Phan Thị Hán, nên không thể không đồng tình với Lương Khải Siêu để “chụp mũ” Nguyễn Văn Tường!

    5. Phan Bội Châu bị chi phối bởi tư tưởng Đại Hán chủ nghĩa, bảo hoàng, nỗi hận chính biến Mậu tuất (1898) của Lương Khải Siêu (học trò của Khang Hữu Vi) [6]. Lương Khải Siêu đã trút nỗi hận của mình, từ thái hậu Từ Hi và Viên Thế Khải sang hai hình tượng văn sử bất phân đã bị bóp méo theo ý đồ chủ quan là thái hậu Từ Dũ và Nguyễn Văn Tường, nhằm mục đích ám chỉ, để vận động cho cách mạng Trung Hoa ngay trong nước Trung Hoa. Lương Khải Siêu đã viết, đăng báo và in Việt Nam vong quốc sử để phát hành chủ yếu ở Trung Hoa, một phần ở Nhật Bản; số lượng bản sách đưa về Việt Nam chỉ 50 cuốn.

    Ý tưởng miệt thị người Giao Chỉ, đề cao người Việt bị lai Hán một cách vong bản, thậm chí gọi hẳn người Kinh (Việt) là người Hán, chẳng lẽ là tư tưởng của Phan Bội Châu [7]? (4).

    6. Phan Bội Châu hoạt động cứu nước theo phương châm của nhà chính trị bá đạo Machiavel: “cứu cánh (mục đích cuối cùng) biện minh cho phương tiện (thủ đoạn, vũ khí vật chất, tinh thần, bất kể xấu, tốt, thiện, ác, vinh, nhục)” [8].

    Trong sáu nguyên nhân đó, chúng tôi cho rằng hai nguyên nhân 2, 3 và 4 là quan trọng, nguyên nhân 5 (bị chi phối bởi Lương Khải Siêu) là quyết định. Đúng hơn, chính Lương Khải Siêu đã viết phần lớn Việt Nam vong quốc sử (VNVQS.) với sự đồng tình của Phan Bội Châu như các học giả Trung Hoa đã bao năm khẳng định.

    Từ chủ trương chính trị bảo hoàng, phương châm hoạt động chính trị machiaveliste và kiến thức lịch sử vừa bị sai lệch vừa “thực dụng” như thế, từ việc chịu tác động của các mối liên kết như thế, không lạ gì khi cụ Phan (và Lương Khải Siêu) viết về Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Từ Dũ… như vậy, trong Việt Nam vong quốc sử (VNVQS., xuất bản năm 1905).

  5. Người đọc said

    THAM KHẢO SỬ LIỆU:

    THỜI KHẮC HY SINH LẪM LIỆT CỦA HAI NHÀ CHÍ SĨ
    NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀN
    Bài viết được đăng lúc 7:41:20 PM, 19.06.2009

    Đã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên – Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.

    Sách “Chí sĩ Trần Cao Vân (1866 – 1916)” của tác giả Trần Trúc Tâm, gọi Trần Cao Vân là “cụ cố của mình”, do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1999, ở trang 69, viết: “Ngày 17.5.1916, đất trời Việt Nam ghi nhớ giờ phút bi thương tiễn đưa hai nhà cách mạng Trần Cao Vân, Thái Phiên và hai phụ tá Nguyễn Quang Siêu, Tôn Thất Đề, những người anh hùng bước vào lịch sử dân tộc Việt Nam”. Bản Tiểu sử THÁI PHIÊN do vị tộc trưởng tộc Thái đọc tại Lễ khánh thành đài tưởng niệm nhà chí sĩ Thái Phiên và nhà yêu nước Thái Thị Bôi được tổ chức vào ngày 21-5-2005 tại làng Nghi An – Đà Nẵng, cũng viết: “Cuộc khởi nghĩa thất bại, Thái Phiên cùng Trần Cao Vân bị bắt và xử tử hình. Ngày 17-5-1916 hai ông bị chém ở An Hoà (gần Huế). Lúc đó Thái Phiên 34 tuổi”.

    Gần đây, tác giả bài viết này có điều kiện tìm thấy một số sử liệu được viết ngay trong những ngày diễn ra cuộc khởi nghĩa và thuật rõ lại về vụ xử án đối với các chí sĩ. Có lẽ tờ báo tiếng Việt đưa tin nhanh nhất về sự kiện có cuộc khởi nghĩa và những vấn đề liên quan, là tờ TRUNG BẮC TÂN VĂN. Ngay trong số 133 ra ngày 20 tháng 5, dưới nhan đề Hoàng hiệu mới, báo này đã đăng trên trang nhất ở vị trí đáng chú ý nhất bản lai kiểu của Phủ Toàn quyền như sau: “Quan Khâm sứ Kinh điện trình tôi rằng lễ đăng-quang đã cử hành sáng hôm nay ở tại cung điện Huế, theo như điển – lệ thường, có đủ mặt các quan Tây và các quan văn – võ An – nam. Niên hiệu mới đặt là KHẢI ĐỊNH, nghĩa hai chữ ấy là từ nay bắt đầu thời – đại hoà – bình. Vậy các công văn phải đề niên hiệu từ ngày hôm nay trở đi là mười bảy tháng tư, năm KHẢI ĐỊNH nguyên niên”. Tờ Le Nouvelliste Cochinchinois (Nam kỳ tân báo) của Pháp số 2873 – 562, ra ngày 18-5-1916, đăng bản thông báo của Phủ Toàn quyền nói về chuyến kinh lý của viên Toàn quyền lúc bấy giờ là Roume vừa vào Huế và mấy tỉnh miền Trung có xảy ra “biến loạn” trở về Hà Nội sáng 12.5, thuật lại những nét chính của vụ “biến loạn”, về việc vua Duy Tân đã bị bắt, bị phế truất, Hoàng thân Bửu Đảo, con vua Đồng Khánh đã được đưa lên thay, còn hoàng thân Vĩnh San, tức vua Duy Tân đang bị giữ trong một trại lính của Pháp ở Huế. Báo LỤC TỈNH TÂN VĂN, số 429 ra ngày 23-5-1916, đăng lại bản dịch Thông báo của Phủ Toàn quyền, và có bổ sung thêm chi tiết, vì họ đã kịp lấy thêm thông tin mới hơn tờ Le Nouveliste Cochinchinois. Dưới đầu đề “Vua Duy Tân bị phế, ông Hoàng Bửu Đảo con vua Đồng Khánh kế vị”, báo này viết:

    “Quan Toàn quyền Tổng thống Đông Dương Roume ở Huế do theo đường bộ về đến Hà Nội sớm mai ngày thứ sáu 19 mai (tức 19 tháng 5 – TG), đi xe lửa riêng. Ngài lấy làm hữu hạnh mà thấy tận mặt, tại Huế và các tỉnh trong và hướng Bắc, đều là những tỉnh Ngài đã đi qua, rằng sự biến loạn tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi đều đã dứt tuyệt cùng là sự đức vua Duy Tân trốn đó không can dự chi với nhơn dân. Nhơn dân cũng chẳng dự đến những kẻ toan mưu sanh loạn còn ẩn nơi ngoại bang, sự ấy nhà nước chẳng chúc sờn, nếu mà vua không can dự vào việc ấy, thì không chúc gì mà nghi nan ngài được.

    Trong miệt Quảng Nam, Quảng Ngãi là nơi muốn khởi loạn, song nhơn dân hãy còn cứ lo ruộng rẫy dân làm sao cũng cứ công việc làm như thường. Còn về lính tráng Annam như lính tập, lính khố xanh, lính và thợ đã mộ, nhứt là tại Huế thì thảy đều an tịnh. Trước khi ở Huế về thì quan toàn quyền ngài có dượt các sắc binh, và lại tỏ lời khen ngợi quan coi quản về sự ăn mặc sạch sẽ và hiệu quan lịnh quân lính hẳn hoi.

    Các đẳng nhơn dân đều rõ lòng dạ vua Duy Tân phản đối thì quyết rằng, không lẽ còn để ngài giữ ngôi báu được nữa. Các quan phụ chánh cùng hoàng thân quốc thích và các quan đại thần triều đình đều công nghị mà xin phế vua Duy Tân và tôn vua khác lên lập tức. Lời ấy thì quan Toàn quyền đã ưng thuận, nên ngài đã tư điện báo về chánh quốc, thì hội các bộ đều ưng phế trong kỳ nhóm ngày 13 Mai.

    Ông hoàng Bửu Đảo là con lớn của Đức Đồng Khánh kế vị cho vua Duy Tân là một vị vương cả toàn thể người Đại – pháp chọn, và hằng giữ một lòng trung thành cùng nhà nước Đại Pháp.

    Ông Hoàng Vĩnh San (vua Duy Tân) chờ ngày đem khỏi xứ Đông Dương nay còn tại trại binh trong đất nhượng cho Pháp tại Huế”.

    Ngày 27tháng 5 năm 1916, trong số 136, dưới đầu đề VIỆC LOẠN TRUNG KỲ, tờ TRUNG BẮC TÂN VĂN đăng một tin ngắn như sau:

    “Hồi 4 giờ rưỡi chiều 16 Mai (tức tháng Năm-TG), bốn người mưu việc khởi loạn Trung kỳ, đã phải xử tử tại đường Quảng Trị, cách la-ga An Hoà 100 thước. Một người tên là Trần Cao Vân và một người là Thái Phiên, cùng ở Quảng Nam cả. Còn hai người nữa là thị vệ hầu vua”.

    Cũng tin này, mãi đến số 431, ra ngày 8 tháng 6 năm1916, tờ LỤC TỈNH TÂN VĂN đăng ở trang 3, cùng đầu đề “Việc loạn Trung kỳ”, như sau:

    “Hồi 4 giờ rưỡi chiều bữa 16 tháng Mai, bốn người mưu sự khởi loạn tại Trung kỳ, đã phải xử tử tại đường Quảng Trị, cách ga An Hoà 100 thước. Một người tên là Trần Cao Vân và một người là Thái Phiên, cũng ở Quảng Nam cả. Còn hai người nữa là thị vệ hầu vua”.

    Ở trang nhất của số báo này, LỤC TỈNH TÂN VĂN mới đăng bài tường thuật về Lễ đăng quang của vua Khải Định.

    Khác với cách đưa tin với thái độ tương đối khách quan và có phần tỏ thái độ tôn kính, cảm phục đối với vua Duy Tân và các chí sĩ yêu nước của 2 tờ TRUNG BẮC TÂN VĂN, LỤC TỈNH TÂN VĂN, tờ NÔNG CỔ MÍN ĐÀM mãi đến ngày 8 tháng 6 năm1916 mới đề cập đến sự kiện này với một bài tường thuật dài gồm ba phần. Phần thứ nhất thuật lại sự kiện khởi nghĩa, đến khi thi hành bản án đối với các chí sĩ. Phần hai thuật lại Lễ đăng quang của vua Khải Định. Phần ba đăng nguyên văn Thánh chỉ của vua Khải Định. Bằng một giọng văn xa lạ và nhiều ngôn từ không mấy thiện cảm với các nhà cách mạng, báo này viết:

    “Mới có một sự buồn ngoài Trung kỳ, nhứt là tại Huế có xảy ra việc đại sự. Đức vua Duy Tân nghe lời bọn phản thần xúi biểu, nên bỏ ngôi mà trốn, rồi cũng kiếm lại đặng đem về.

    Khi Duy Tân ra khỏi đền mà đào tẩu, thì phủ Phụ chánh, các quan Đình – Thần và cả trong Tông-Nhơn ai nấy đều một ý, không muốn cho Duy Tân nhập đền lại nên tính tôn ông Hoàng-Bửu-Đạo lên ngôi kế vị mà thôi. Đã có điển tín qua chánh phủ Pháp quốc mà xin, thì chánh phủ nhậm lời, châu phê y theo, điển tín gởi lại tại Huế ngày 15 mai ban mai. Ai nấy đều trông tin lành, còn ông Hoàng-Bửu-Đạo đã sắp đặt sẵn sàng rồi. Qua 3 giờ chiều có ông Tông-Nhơn lệnh, quan Thượng-Thư-Bộ-Hộ hiệp với quan triều lên tại An-Cựu mà rước ngài về đô. Lúc đi ngang qua dinh quan Khâm-sứ, thì ông Hoàng Bửu-Đạo ghé lại một chúc mà tạ ơn quan Khâm và tỏ lòng yêu dấu cùng nước Đại Pháp đã giùm giúp ngài đặng lên ngôi đế-vị, ngài lại phân rằng trước chẳng có chiếu cố đến việc đó, mà cũng tưởng không có tài đức chi mà được vậy.

    Bước qua bốn giờ chiều, ngài vào thành nội thì đã có sắp đặt riêng một chỗ đặng ngài làm lễ, ngài ở đó chờ cho gia đình, đồ đạc của Duy Tân ra khỏi rồi, ngài mới vào đền.

    Cũng nội hồi đó, quan Khâm-sứ tâu rằng Duy Tân đã bị phế, nay mọi sự tử tế đều lo cho ngài đó, còn việc công minh đã xem xét rồi cho ông Hoàng-Vĩnh-San (Duy Tân). Bọn làm đầu nguỵ bốn đứa mới làm án trảm huyết tức khắc, đến mai, qua 4 giờ rưỡi chiều sẽ dẫn đến pháp trường lệ, cách 100 thước gần ga xe lửa An – hoà đường ra Quảng Trị mà xử trảm.

    Một đứa là Thái Phiên nguyên là kẻ bao tiền, nó làm đô đốc binh nguỵ, lãnh việc Sở Tạo tác, trong sở đó đều tin cậy nó, giỏi dắn trong vịêc trù-nghỉ. Khi còn thơ ấu thì học hành giỏi thông thạo mọi sự, dễ hiểu dễ dạy. Nay bởi kiêu căng, nó lại ghét ta mà đền ơn báo đáp đó. Một đứa khác là thầy pháp, gốc là thầy chùa, biết đoán tiên tri thời sự lành dữ, trước nó đã phạm tội làm loạn mà đặng ân xá, nay nó đồ mưu cho vua nhỏ dại, và thường hay đến bái mạng đặng diều dắc vua nầy phục quốc lại. Đó là hai gã đầu đảng, như phục quốc đặng thì sau nó sẽ làm quan lớn hơn hết”…

    Chép đến đây, tác giả bài viết này xin được dừng lại để thưa chuyện cùng quý độc giả. Thật lòng, tôi không muốn chép tiếp ra đây đoạn sau, một đoạn văn phũ phàng, miêu tả một cách ghê rợn về sự hành hình đối với các chí sĩ. Tôi sợ rằng, điều đó sẽ làm đau lòng quý độc giả, nhất là đối với các hậu duệ cháu con các nhà chí sĩ. Nhưng, sử liệu là sử liệu. Vả lại, sử liệu dù phũ phàng đến mấy cũng lại có một mặt khác nữa, đó là nó đem đến cho người sau về khoảnh khắc ra đi dù bi thương, nhưng rất đỗi kiên cường, lẫm liệt của ông cha ta. Với suy nghĩ như vậy, tôi xin được chép ra đây đoạn miêu tả của tờ báo nói trên, với lời trân trọng cầu mong sự thể tất của cháu con, hậu duệ các nhà chí sĩ, nhất là đối với hậu duệ chí sĩ Trần Cao Vân. Bài báo viết tiếp:

    “Đây chẳng cần gì kể cho hết về sự dẫn đi xử trảm mà trong khi trảm huyết thì những người Tây và Annam đi coi đều lấy làm sợ. Đến 4 giờ rưỡi chiều, 4 cái đầu đã rớt xuống, song le cái đầu tên thầy pháp phải chém 6 lần; mặt trời rọi xuống ngó ghê gớm, hễ gươm chém xuống rồi lại dội lại làm như vậy ai nấy đều day mặt chỗ khác không dám ngó. Ấy là lời thầy pháp đã tiên tri trước như vậy đó. Mấy đứa xử tử không có phiền trách than van chi hết. Chỉ có thầy pháp khi lâm chung có tụng kinh lớn… Trảm huyết như vậy thật là ghê gớm, ấy là làm gương cho những kẻ tà vạy trở vào đàng Quy-chánh, quân côn đồ hết còn bắt chước nữa…”.

    Thưa quý độc giả, giờ đây chúng ta như vừa chứng kiến những giây phút hy sinh lẫm liệt của những vị anh hùng đã ra đi hơn 92 năm về trước. Tiếng tụng kinh lớn của “thầy pháp” Trần Cao Vân, mà bài báo nhắc đến hẳn không chỉ đơn giản là tiếng tụng kinh như người viết nào đó ngỡ là như vậy. Tác giả bài viết này được nghe chính con cháu cụ Trần Cao Vân kể rằng, trước lúc lâm chung, cụ Trần Cao Vân đã ung dung đọc bài thơ tuyệt mệnh, mà ngày nay con cháu đã khắc lên bia kỷ niệm ở làng Tư Phú quê nhà. Bài đó như sau:

    Trung lập càn khôn bất ỷ thiên
    Việt Nam văn vật cổ lai truyền
    Quân dân cộng chủ tinh thần hội
    Thần tử tôn chu nhật nguyệt huyền
    Bách Việt sơn hà vô Bạch Xỉ
    Nhất Xoang trung nghĩa hữu thanh thiên
    Anh hùng để cuộc hưu thành bại
    Công luận thiên thu phó sử biên

    Trung dung đứng giữa đất trời,
    Việt Nam văn vật muôn đời sử xanh
    Quân dân cộng chủ phân minh
    Tôn Châu nghĩa cả đấu tranh không ngừng
    Non sông quyết rửa bụi trần
    Một bầu trung nghĩa ngút tầng mây xanh
    Anh hùng chi sá bại thành
    Nghìn năm công luận phẩm bình về sau

    Còn tác giả Trần Trúc Tâm khi viết về giây phút cuối cùng của cụ cố của mình đã cho biết, đó chính là lúc cụ dõng dạc đọc bài thơ tuyệt mệnh ngay khi những nhát gươm chém xuống:

    “Trời chung không đội với thù Tây
    Quyết trả ơn vua, nợ nước nầy.
    Một mối ba giềng xin giữ chặt
    Thân dù thác xuống rạng đài mây”.

    N.T.Đ
    (243/05-09)

    Nguồn:
    Tạp chí Sông Hương, số 243/ tháng 05-2009, in giấy & điện tử:
    http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=0&catid=7&ID=2706&shname=Thoi-khac-hy-sinh-lam-liet-cua-hai-nha-chi-si

    Google tìm kiếm & lưu trữ:
    http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:97kWfCjHb2EJ:tapchisonghuong.com.vn/index.php%3Fmain%3Dnewsdetail%26pid%3D0%26catid%3D7%26ID%3D2706%26shname%3DThoi-khac-hy-sinh-lam-liet-cua-hai-nha-chi-si+%E2%80%9CTh%E1%BB%9Di+kh%E1%BA%AFc+hy+sinh+l%E1%BA%ABm+li%E1%BB%87t+c%E1%BB%A7a+hai+nh%C3%A0+ch%C3%AD+s%C4%A9%E2%80%9D+%22S%C3%B4ng+H%C6%B0%C6%A1ng%22&hl=vi&strip=1

  6. nqtt said

    Chào Bác An,
    Tôi đọc bài của Bác An khá nhiều. Tôi thấy nghiên cứu của Bác rất tốt.
    Vừa rồi không thấy bác ra Hội thảo ở QT. Có lẽ BTC không muốn bác ra đó thôi. Vấn đề Bản quyền nữa. Cái này hình như có tranh luận nảy lửa trên tạp chí rồi. Báo Đất Việt cũng có đăng.
    chúc bác vui.

  7. txawriter said

    Trân trọng chào anh Nqtt.,

    Thưa anh, nếu tôi không lầm, thì chắc hẳn 4 chữ viết tắt Nqtt. là Nguyễn Quang Trung Tiến (giảng viên ĐHKH. Huế)? Tôi phải phỏng đoán, vì địa chỉ e-mail anh sử dụng khác với e-mail chính thức của anh Nguyễn Quang Trung Tiến bấy lâu nay. Tôi cũng mong anh và thạc sĩ Nguyễn Quang Trung Tiến thứ lỗi trước, nếu quả thực tôi đoán lầm.

    Nếu đoán lầm, thì tôi bị hớ. Nhưng có hớ cũng chẳng sao, còn hơn bị mất lòng anh là không trả lời.

    Thưa anh Nqtt.,

    Dẫu là ai đi nữa, tôi cũng xin bày tỏ ở đây lời cảm ơn anh Nqtt.

    Thật ra, tôi cũng muốn dự Lễ Minh oan và tôn vinh Nguyễn Văn Tường (1824-1886) hồi năm 2007 cũng như Hội thảo về Tân Sở gần đây (7-2010). Nếu không vì ước muốn minh oan cho nhân vật lịch sử NVT. – một ước muốn từ hồi nhỏ –, tôi bỏ ra bao nhiêu năm tháng nghiên cứu, viết khảo luận, rồi bỏ tiền túi để in 4 đầu sách về Cụ làm gì. Đó là chưa kể nhiều bài khảo luận sau 4 đầu sách ấy. Việc không tham dự hội thảo về Tân Sở là ngoài ý muốn của tôi. Từ sự “vắng mặt” đó và đặc biệt là từ các bài báo của Nguyễn Hoàn — Nguyễn Hoàn cố tình zê-rô-hóa tôi, một cách “ý tại ngôn ngoại” –, thành ra làm ảnh hưởng đến bản quyền nghiên cứu của tôi.

    Vấn đề phức tạp lắm, vì đó là quá trình và tiến trình tranh luận học thuật, cụ thể là sử học, mà sử học thì không thể không đụng chạm các thế lực…

    Dẫu cho thế lực nào làm áp lực hay xúc xiểm để zê-rô-hóa tôi đi nữa, thì người ta vẫn nghĩ là do Ban Tổ chức.

    Quan trọng nhất vẫn là khẳng định bản quyền nghiên cứu (sách xuất bản chính thức, bài viết đăng báo chí in giấy, hay công bố trên điểm mạng…).

    Báo ĐẤT VIỆT có đăng bài về vụ việc ấy nhưng rất tiếc đến nay tôi không biết là số báo nào. Tôi chưa đọc được. Anh có thể cho biết số bào nào không? Nếu anh photocopy hay scan bài báo ấy, gửi cho tôi, thì thật vô cùng quý hóa.

    Một lần nữa, xin cảm ơn anh.

    Trân trọng,
    TXA.

  8. TXA. said

    Tôi đã nhận được điện thư của anh Nguyễn Quang Trung Tiến, xác nhận Nqtt. không phải là anh ấy.

    Xin quý người đọc lưu ý: Nqtt. (nqtt@gmail.com) gửi lời bàn ở khung trên (chép lại dưới đây) không phải là Nguyễn Quang Trung Tiến (giảng viên ĐHKH. Huế):

    nqtt đã nói
    02.12.2010 lúc 10:55 sáng
    Chào Bác An,
    Tôi đọc bài của Bác An khá nhiều. Tôi thấy nghiên cứu của Bác rất tốt.
    Vừa rồi không thấy bác ra Hội thảo ở QT. Có lẽ BTC không muốn bác ra đó thôi. Vấn đề Bản quyền nữa. Cái này hình như có tranh luận nảy lửa trên tạp chí rồi. Báo Đất Việt cũng có đăng.
    chúc bác vui.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: