Chiếc cầu Ý Hệ (cầu Hiền Lương)

người bắn nhau nhưng đâu phải bắn nhau / bắn những ngoại xâm sau lưng nhau đó (thơ Trần Xuân An)

Tạp chí điện tử tự lập, có hay chưa?

Posted by Trần Xuân An trên 24.05.2010

hidden hit counter

Một ý kiến nhỏ về việc xác định các từ ngữ để gọi các loại điểm mạng …

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ TỰ LẬP, CÓ HAY CHƯA?

Bao giờ cũng thế, trước sự xuất hiện các thực thể mới (hiện tượng, sự vật mới), chúng ta cần động não để tìm từ ngữ nhằm gọi tên chúng cho thật thích đáng. Khi tìm từ ngữ mới, đặc biệt là thuật ngữ mới (1), cũng rất cần tôn trọng tính trong sáng, tính thuần Việt của tiếng Việt.

Và ai cũng ngầm hiểu, khi sử dụng từ ngữ, có nhiều lí do, khiến người ta phải “lách”. Dĩ nhiên, “lách” là không tốt. Vậy nên, rất cần tường minh.

Một số điểm mạng vi tính toàn cầu hiện nay ở nước ta như Trần Nhương, Văn chương Việt, Phong Điệp, Lê Thiếu Nhơn, Bô-xit Việt Nam, Anh Ba Sàm (Xàm?), Lục bát, Tôn vinh văn hóa đọc… và còn khá nhiều điểm mạng khác của các Việt kiều cũng ở tầm mức tương tự, như Sách hiếm, Chuyển Luân, Chim Việt cành Nam…, khiến chúng ta lúng túng không biết gọi bằng danh từ gì cho đúng. Chẳng lẽ cũng gọi là web-site, web-blog? Và các người chủ trương, các tác giả viết trên đó đều là blogger? Chưa thấy xuất hiện từ websiter! Như thế, vừa không thích đáng, vừa chứng tỏ ta thiếu sự động não, sáng tạo các cụm từ mới để dịch ra tiếng Việt và để sử dụng chăng? Thậm chí, có người sẽ bảo, ở nước ngoài thực tiễn cuộc sống xã hội vẫn vượt trước các viện hàn lâm ngôn ngữ và các viện lập pháp cũng bị thực tiễn xã hội vượt qua.

Để khỏi lúng túng về từ ngữ, tôi gọi chung các điểm mạng vi tính toàn cầu của các cá nhân tự sáng lập (chủ sở hữu) và tự điều hành (chủ biên), có tầm mức hoạt động tương tự như các tạp chí điện tử nhà nước (2) ở nước ta, là tạp chí điện tử tự lập (hay tự lực); còn các điểm mạng vi tính toàn cầu chủ yếu đăng bài của cá nhân người chủ trương, gọi chung là điểm mạng vi tính toàn cầu tự lập (hay tự lực, và lược bớt từ tự lập hay tự lực thì người ta cũng hiểu với nội hàm ý nghĩa như thế). Cũng cần nói thêm, các tạp chí điện tử tự lập, các điểm mạng vi tính toàn cầu tự lập mặc dù không có giấy phép nhưng vẫn hoàn toàn hợp pháp (căn cứ vào Thông tư 07/2008/TT.-BTTTT. của Bộ Thông tin & Truyền thông).

Có người sẽ bảo, xét trong phạm vi lãnh thổ nước ta, như vậy là vi phạm luật báo chí hiện hành, vì hiện tại, làm gì có báo, tạp chí điện tử tùy nghi cập nhật hay định kì hoàn toàn tự do, tự lập, tồn tại một cách chính danh! Nhục lắm, phải “chui”, phải núp dưới một danh từ khác! Do đó, về từ ngữ, phải “lách” thôi. Chỉ được gọi chung là điểm mạng vi tính toàn cầu (web-site, web-blog).

Nhưng ai “lách” kệ họ, tôi không “lách”. Tôi hi vọng nhiều người khác cũng không “lách”, để xã hội quen dần, Nhà nước quen dần.

Cũng cần tỉnh táo nhận ra, việc xác định danh xưng thích đáng cho các điểm mạng là cần thiết. Nhưng nếu không cân nhắc, sẽ đưa đến ít ra là hai tình huống: 1. danh xưng quá mức so với thực trạng sẽ làm lố bịch hóa; 2. danh xưng dưới tầm so với thực trạng sẽ khiến xã hội bất bình.

23-5 HB10
Trần Xuân An
______________________

(1) Thuật ngữ có nội hàm chặt chẽ và có tính đơn nghĩa, cố định. Hiện nay có nhiều người sử dụng từ “thuật ngữ” không chính xác.

(2) Tạp chí điện tử nhà nước: Tạp chí điện tử của Nhà nước, của tổ chức chính trị, xã hội hay văn hóa, tôn giáo hoặc nghề nghiệp nào đó, do Nhà nước chính thức quản lí, có giấy phép của Bộ Thông tin & Truyền thông.

Tài liệu xem thêm:
1) http://mic.gov.vn/uploads_file/DOC/2009/07/241235564.doc
2) http://phapluattp.vn/237958p0c1021/thong-tu-quan-ly-blog-ca-nhan-nam-dieu-cam-doi-voi-blogger.htm

_____________________

Bài viết đã đăng trên Tcđttl. TranNhuongCom:
trannhuong.com/news_detail/4875/TẠP-CHÍ-ĐIỆN-TỬ-TỰ-LẬP-CÓ-HAY-CHƯA?

XIN XEM THÊM Ở KHUNG “Ý KIẾN PHẢN HỒI” SỐ 3, THUỘC BÀI VIẾT NÀY

Advertisements

11 phản hồi to “Tạp chí điện tử tự lập, có hay chưa?”

  1. txawriter said

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do -Hạnh phúc

    BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
    Số: 07 /2008/TT-BTTTT

    Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2008

    THÔNG TƯ
    Hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet

    Căn cứ Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 25 tháng 5 năm 2002;

    Căn cứ Nghị định số 187/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông;

    Căn cứ Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet;

    Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet (sau đây gọi tắt là Nghị định số 97) như sau:

    1. Trang thông tin điện tử cá nhân (blog) quy định tại khoản 12 Điều 3 Nghị định số 97 được hiểu như sau:

    Trang thông tin điện tử cá nhân được dùng để thể hiện những thông tin mang tính chất cá nhân phục vụ nhu cầu lưu trữ hoặc trao đổi, chia sẻ với một nhóm người hoặc với cộng đồng rộng rãi sử dụng dịch vụ Internet. Trang thông tin điện tử cá nhân được chủ thể trang thông tin điện tử cá nhân đăng ký khởi tạo trên Internet.

    2. Hướng dẫn khoản 3, 5, 6 Điều 4 Nghị định số 97 đối với hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân như sau:

    2.1 Khuyến khích phát triển và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân giúp cá nhân mở rộng khả năng tương tác trên môi trường Internet để trao đổi, chia sẻ các thông tin phù hợp với thuần phong mỹ tục và các quy định của pháp luật Việt Nam, làm phong phú thêm đời sống xã hội và tinh thần gắn kết cộng đồng.

    2.2 Khuyến khích sử dụng tiếng Việt trong sáng, lành mạnh trên các trang thông tin điện tử cá nhân.

    2.3 Khuyến khích việc sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên các mạng xã hội trực tuyến đã đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    3. Các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 6 Nghị định số 97 đối với hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân được quy định cụ thể như sau:

    3.1 Lợi dụng trang thông tin điện tử cá nhân để cung cấp, truyền đi hoặc đặt đường liên kết trực tiếp đến những thông tin vi phạm các quy định tại Điều 6 Nghị định số 97.

    3.2 Tạo trang thông tin điện tử cá nhân giả mạo cá nhân, tổ chức khác; sử dụng trái phép tài khoản trang thông tin điện tử cá nhân của cá nhân khác; thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    3.3 Truyền bá các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, nghệ thuật, các xuất bản phẩm vi phạm các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản.

    3.4 Sử dụng những thông tin, hình ảnh của cá nhân mà vi phạm các quy định tại Điều 31, Điều 38 Bộ Luật Dân sự.

    3.5 Cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân mà vi phạm các quy định về sở hữu trí tuệ, về giao dịch thương mại điện tử và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    4. Trách nhiệm của người sử dụng dịch vụ Internet quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 12 Nghị định số 97 được hướng dẫn như sau:

    4.1 Chủ thể trang thông tin điện tử cá nhân chịu trách nhiệm về nội dung thông tin được cung cấp, lưu trữ, truyền đi trên trang thông tin điện tử cá nhân của mình, bảo đảm không vi phạm quy định của pháp luật và các quy định tại mục 3 Thông tư này.

    4.2 Chủ thể trang thông tin điện tử cá nhân có trách nhiệm bảo vệ mật khẩu, khóa mật mã, thông tin cá nhân.

    5. Trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 97 trong hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân được hướng dẫn như sau:

    5.1 Xây dựng và công khai quy chế cung cấp, trao đổi thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân tại trang thông tin điện tử cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp, bảo đảm không vi phạm các quy định của pháp luật và quy định tại mục 3 Thông tư này.

    Có biện pháp xử lý thích hợp đối với các trang thông tin điện tử cá nhân vi phạm quy chế hoạt động cung cấp thông tin của doanh nghiệp.

    5.2 Xây dựng quy trình quản lý thông tin phù hợp với quy mô cung cấp dịch vụ do doanh nghiệp quản lý.

    5.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu về trang thông tin điện tử cá nhân do doanh nghiệp quản lý và có trách nhiệm cung cấp thông tin với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi được yêu cầu.

    5.4 Ngăn chặn và loại bỏ những nội dung thông tin vi phạm các quy định của pháp luật và các quy định tại mục 3 Thông tư này ngay khi phát hiện hoặc khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

    5.5 Chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

    6. Thực hiện chế độ báo cáo về hoạt động cung cấp dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị định số 97 như sau:

    6.1 Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 6 tháng một lần và báo cáo đột xuất theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

    6.2 Nội dung báo cáo định kỳ bao gồm:

    a) Ngày, tháng, năm và ký hiệu văn bản xác nhận đăng ký cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến của Bộ Thông tin và Truyền thông;

    b) Ngày, tháng, năm chính thức cung cấp dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân;

    c) Địa chỉ trụ sở giao dịch;

    d) Tên, số điện thoại và email của người đại diện có thẩm quyền;

    đ) Số lượng các trang thông tin điện tử cá nhân mà doanh nghiệp đang quản lý và dữ liệu thống kê theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;

    e) Số liệu về các trang thông tin điện tử cá nhân vi phạm quy chế hoạt động cung cấp, trao đổi thông tin của doanh nghiệp.

    6.3 Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến có cung cấp dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân có trách nhiệm gửi báo cáo trước ngày 15 tháng Một và trước ngày 15 tháng Bảy hàng năm.

    6.4 Địa chỉ gửi báo cáo:

    a) Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử).

    Email: cucptth&ttđt@mic.gov.vn

    b) Sở Thông tin và Truyền thông tại địa phương nơi doanh nghiệp đăng ký hoạt động.

    7. Hiệu lực thi hành

    7.1 Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.

    7.2 Trong quá trình thực hiện, các tổ chức, cá nhân nếu có vướng mắc thì phản ánh về Bộ Thông tin và Truyền thông để được xem xét, giải quyết./.

    Nơi nhận:
    – Thủ tướng, các PTT Chính phủ;
    – VP Chính phủ;
    – VP Trung ương Đảng;
    – VP Quốc hội;
    – VP Chủ tịch nước;
    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
    – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
    – Toà án nhân dân tối cao;
    – UBND các tỉnh thành phố trực thuộc TW;
    – Cơ quan TW của các đoàn thể;
    – Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);
    – Các Sở TTTT;
    – Các doanh nghiệp viễn thông và Internet;
    – TTĐT, Công báo;
    – Bộ TTTT: BT, các TT, các đơn vị thuộc Bộ;
    – Lưu: VT, Cục QL PTTH&TTĐT.

    KT.BỘ TRƯỞNG
    THỨ TRƯỞNG
    (Đã ký)
    Đỗ Quý Doãn

    Nguồn:
    http://mic.gov.vn/uploads_file/DOC/2009/07/241235564.doc

    Nguyên văn NGHỊ ĐỊNH 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ:
    http://mic.gov.vn/uploads_file/DOC/2009/07/1953271.doc
    (cũng có thể tìm đọc bản html của Google Tìm kiếm)

    • TXA. said

      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
      Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

      CHÍNH PHỦ
      Số: 97/2008/NĐ-CP

      Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2008

      NGHỊ ĐỊNH
      Về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet
      và thông tin điện tử trên Internet

      ______

      CHÍNH PHỦ
      Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
      Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006;
      Căn cứ Luật Báo chí ngày 28 tháng 12 năm 1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 12 tháng 6 năm 1999;
      Căn cứ Luật Xuất bản ngày 14 tháng 12 năm 2004;
      Căn cứ Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông ngày 25 tháng 5 năm 2002;
      Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông,

      NGHỊ ĐỊNH:

      Chương I
      NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

      Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
      Nghị định này quy định chi tiết về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet tại Việt Nam.

      Điều 2. Đối tượng áp dụng
      1. Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet tại Việt Nam.
      2. Trong trường hợp các Điều ước quốc tế liên quan đến Internet mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế.

      Điều 3. Giải thích từ ngữ
      Các từ ngữ trong Nghị định này được hiểu như sau:
      1. Internet là hệ thống thông tin toàn cầu sử dụng giao thức Internet (Internet Protocol – IP) và tài nguyên Internet để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho người sử dụng.
      2. Tài nguyên Internet bao gồm hệ thống tên miền, địa chỉ Internet và số hiệu mạng dùng cho Internet, được ấn định thống nhất trên phạm vi toàn cầu.
      3. Hệ thống thiết bị Internet là tập hợp các thiết bị điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin và các thiết bị phụ trợ khác bao gồm cả phần cứng lẫn phần mềm được các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong lĩnh vực Internet thiết lập tại một địa điểm có địa chỉ và phạm vi xác định mà tổ chức, cá nhân đó được toàn quyền sử dụng theo quy định của pháp luật để phục vụ trực tiếp cho việc cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet.
      4. Mạng lưới thiết bị Internet là tập hợp các hệ thống thiết bị Internet của tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet được kết nối với nhau thông qua mạng viễn thông công cộng hoặc bằng các đường truyền dẫn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuê hoặc tự xây dựng.
      5. Mạng Internet dùng riêng là mạng lưới thiết bị Internet do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập, kết nối với Internet để cung cấp các dịch vụ Internet cho các thành viên của cơ quan, tổ chức đó trên cơ sở không kinh doanh và hoạt động phi lợi nhuận.
      6. Ðường truyền dẫn là tập hợp các thiết bị truyền dẫn được liên kết với nhau bằng đường cáp viễn thông, sóng vô tuyến điện, các phương tiện quang học và các phương tiện điện từ khác.
      7. Mạch vòng nội hạt là một phần của mạng viễn thông công cộng bao gồm các đường dây thuê bao và các đường trung kế kết nối tổng đài của doanh nghiệp viễn thông với thiết bị đầu cuối thuê bao của người sử dụng dịch vụ.
      8. Phân tách mạch vòng nội hạt là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại cố định có thể sử dụng cùng một mạch vòng nội hạt để cung cấp hai dịch vụ này độc lập với nhau cho người sử dụng dịch vụ.
      9. Dịch vụ Internet là một loại hình dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ truy nhập Internet, dịch vụ kết nối Internet và dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông:
      a) Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập đến Internet;
      b) Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau để chuyển tải lưu lượng Internet trong nước giữa các tổ chức, doanh nghiệp đó;
      c) Dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông là dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng được cung cấp cho người sử dụng thông qua mạng lưới thiết bị Internet.
      10. Trạm trung chuyển Internet (IX) là một mạng lưới hoặc hệ thống thiết bị Internet, được một tổ chức hoặc doanh nghiệp thiết lập để truyền tải lưu lượng Internet trong nước giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, các mạng Internet dùng riêng.
      11. Thông tin điện tử trên Internet là thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua mạng lưới thiết bị Internet.
      12. Trang thông tin điện tử trên Internet là trang thông tin hoặc tập hợp trang thông tin phục vụ cho việc cung cấp và trao đổi thông tin trên môi trường Internet, bao gồm trang thông tin điện tử (website), trang thông tin điện tử cá nhân (blog), cổng thông tin điện tử (portal) và các hình thức tương tự khác.
      13. Trang thông tin điện tử tổng hợp là trang thông tin điện tử trên Internet của tổ chức hoặc doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trên cơ sở trích dẫn lại thông tin từ nguồn chính thức của các cơ quan báo chí hoặc từ các trang thông tin điện tử của các cơ quan Đảng và Nhà nước.
      14. Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác.

      Điều 4. Chính sách quản lý và phát triển Internet
      1. Khuyến khích việc ứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội để nâng cao năng suất lao động; mở rộng các hoạt động thương mại; hỗ trợ cải cách hành chính, tăng tiện ích xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm an ninh, quốc phòng.
      2. Thúc đẩy việc ứng dụng Internet trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, trường học, bệnh viện, các cơ sở nghiên cứu và đưa Internet đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
      3. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn pháp luật về Internet. Có biện pháp để ngăn chặn những hành vi lợi dụng Internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, vi phạm các quy định của pháp luật và để bảo vệ trẻ em khỏi tác động tiêu cực của Internet.
      4. Phát triển Internet với đầy đủ các dịch vụ có chất lượng cao và giá cước hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
      5. Khuyến khích tăng cường đưa thông tin tiếng Việt lên Internet.
      6. Tên miền quốc gia “.vn”, địa chỉ Internet và số hiệu mạng Internet do Việt Nam quản lý là một phần của tài nguyên thông tin quốc gia, cần phải được quản lý, khai thác, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Khuyến khích và tạo điều kiện để sử dụng rộng rãi tên miền quốc gia “.vn” và thế hệ địa chỉ Internet IPv6.
      7. Bí mật đối với các thông tin riêng trên Internet của tổ chức, cá nhân được bảo đảm theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Việc kiểm soát thông tin trên Internet phải do cơ quan nhà nư¬ớc có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.
      8. Internet Việt Nam là một bộ phận quan trọng thuộc cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, được bảo vệ theo pháp luật, không ai được xâm phạm. Bảo đảm an toàn, an ninh cho các hệ thống thiết bị và thông tin điện tử trên Internet là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và cá nhân.

      Điều 5. Quản lý nhà nước về Internet
      1. Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý nhà nước về Internet, bao gồm:
      a) Xây dựng cơ chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển Internet;
      b) Trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cấp phép cung cấp dịch vụ; kết nối; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; chất lượng; giá cước; tài nguyên Internet; an toàn thông tin; cấp phép báo điện tử, xuất bản trên mạng Internet và các quy định quản lý thông tin điện tử trên Internet;
      c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý và thực thi pháp luật đối với hoạt động cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet; thiết lập, cung cấp và sử dụng thông tin điện tử trên Internet, bao gồm cấp phép, đăng ký, báo cáo, thống kê, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền;
      d) Tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về Internet.
      2. Bộ Công an chịu trách nhiệm trong việc đảm bảo an ninh thông tin trong lĩnh vực Internet bao gồm:
      a) Trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về an ninh thông tin trong hoạt động Internet;
      b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, các Bộ, ngành liên quan, với chính quyền địa phương và các doanh nghiệp viễn thông, Internet tổ chức thực hiện các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ đảm bảo an ninh quốc gia và phòng, chống tội phạm đối với hoạt động Internet;
      c) Kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm các quy định pháp luật về đảm bảo an ninh thông tin trong lĩnh vực Internet theo thẩm quyền;
      d) Tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế trong việc đảm bảo an ninh thông tin trên lĩnh vực Internet.
      3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư, tài chính để thúc đẩy việc sử dụng Internet trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, trường học, bệnh viện, các cơ sở nghiên cứu và đưa Internet đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và hướng dẫn việc thực hiện các quy định về phí, lệ phí liên quan đến tài nguyên Internet.
      4. Bộ Nội vụ thực hiện quản lý nhà nước về mật mã dân sự đối với các thông tin cần được bảo mật trong các hoạt động thương mại, dân sự trên Internet.
      5. Các Bộ, ngành liên quan phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và hướng dẫn thực hiện các quy định; triển khai thực hiện quản lý đối với việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ ứng dụng chuyên ngành trên Internet thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình.
      6. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình thực hiện quản lý nhà nước về Internet tại địa phương phù hợp với các quy định tại Nghị định này.

      Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm
      1. Lợi dụng Internet nhằm mục đích:
      a) Chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chiến tranh xâm lược; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
      b) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác đã được pháp luật quy định;
      c) Đưa các thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức; danh dự, nhân phẩm của công dân;
      d) Lợi dụng Internet để quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật.
      2. Gây rối, phá hoại hệ thống thiết bị và cản trở trái pháp luật việc quản lý, cung cấp, sử dụng các dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.
      3. Đánh cắp và sử dụng trái phép mật khẩu, khoá mật mã và thông tin riêng của các tổ chức, cá nhân trên Internet.
      4. Tạo ra và cài đặt các chương trình virus máy tính, phần mềm gây hại để thực hiện một trong những hành vi quy định tại Điều 71 Luật Công nghệ thông tin.

      Chương II
      CÁC BÊN THAM GIA CUNG CẤP, SỬ DỤNG DỊCH VỤ INTERNET VÀ THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRÊN INTERNET

      Điều 7. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet
      1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet (ISP) là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo pháp luật Việt Nam để cung cấp dịch vụ Internet cho công cộng.
      2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có các quyền và nghĩa vụ sau:
      a) Thiết lập hệ thống thiết bị Internet tại cơ sở và tại các điểm cung cấp dịch vụ công cộng của doanh nghiệp để cung cấp các dịch vụ Internet theo đúng quy định của giấy phép;
      b) Thuê đường truyền dẫn viễn thông của các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng đã được cấp phép để thiết lập mạng lưới thiết bị Internet của doanh nghiệp, kết nối trực tiếp với Internet quốc tế và cung cấp dịch vụ đến đại lý, người sử dụng dịch vụ Internet;
      c) Được sử dụng tài nguyên Internet theo quy hoạch và quy định về quản lý tài nguyên Internet;
      d) Thực hiện đầy đủ các quy định của nhà nước về quản lý giá cước và tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ Internet;
      đ) Triển khai các trang thiết bị và phương án kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm an toàn, an ninh thông tin theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
      e) Triển khai các điểm cung cấp dịch vụ Internet cho công cộng. Điểm cung cấp dịch vụ Internet cho công cộng của doanh nghiệp phải chấp hành các quy định như đối với các đại lý Internet, trừ việc phải đăng ký kinh doanh và ký hợp đồng đại lý;
      g) Giao kết hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet với người sử dụng dịch vụ và ký hợp đồng đại lý Internet với các tổ chức và cá nhân. Trường hợp hợp đồng được thực hiện bằng văn bản, căn cứ quy định của pháp luật về hợp đồng và về Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm xây dựng, ban hành hợp đồng mẫu để thực hiện thống nhất trong toàn doanh nghiệp;
      h) Từ chối cung cấp dịch vụ trong các trường hợp sau: người sử dụng dịch vụ Internet vi phạm pháp luật về Internet theo văn bản kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cước dịch vụ với một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ khác nếu đã có thỏa thuận bằng văn bản giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ với nhau về vấn đề này;
      i) Tạm ngừng hoặc ngừng cung cấp dịch vụ trong các trường hợp sau: thiết bị truy nhập đầu cuối Internet gây mất an toàn cho hệ thống thiết bị Internet, cho doanh nghiệp cung cấp và người sử dụng dịch vụ Internet; người sử dụng dịch vụ Internet không thanh toán cước dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai bên; người sử dụng dịch vụ Internet kinh doanh lại dịch vụ Internet trái pháp luật; theo văn bản yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng dịch vụ Internet vi phạm Điều 6 Nghị định này;
      k) Thông báo thời điểm bắt đầu chính thức cung cấp dịch vụ và kế hoạch triển khai cung cấp dịch vụ cho Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Công an 10 ngày làm việc trước khi cung cấp dịch vụ bằng văn bản hoặc thông qua môi trường mạng theo các địa chỉ do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định;
      l) Hướng dẫn, cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến việc cung cấp và sử dụng dịch vụ cho người sử dụng; giải quyết các khiếu nại của người sử dụng về giá cước và chất lượng dịch vụ;
      m) H­ướng dẫn, cung cấp thông tin, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của đại lý;
      n) Thực hiện chế độ báo cáo và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định;
      o) Thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước huy động trong trường hợp khẩn cấp và các nhiệm vụ công ích khác.

      Điều 8. Chủ mạng Internet dùng riêng
      1. Chủ mạng Internet dùng riêng là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam thiết lập mạng Internet dùng riêng theo quy định. Thành viên của mạng là thành viên của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng. Tư cách thành viên được xác định theo điều lệ hoạt động, văn bản quy định cơ cấu, tổ chức bộ máy của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó hoặc các quy định pháp lý liên quan khác.
      2. Chủ mạng Internet dùng riêng có các quyền và nghĩa vụ sau:
      a) Thiết lập hệ thống thiết bị Internet tại các địa điểm mà mình được quyền sử dụng theo quy định của pháp luật để cung cấp dịch vụ Internet cho các thành viên của mạng;
      b) Thuê hoặc xây dựng đường truyền dẫn viễn thông để thiết lập mạng Internet dùng riêng và kết nối trực tiếp với Internet quốc tế;
      c) Được sử dụng tài nguyên Internet theo quy hoạch và quy định về quản lý tài nguyên Internet;
      d) Tạm ngừng hoặc ngừng cung cấp dịch vụ truy nhập Internet nếu phát hiện thấy thành viên của mạng vi phạm Điều 6 Nghị định này hoặc theo văn bản yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
      đ) Thực hiện các quy định về cấp phép, kết nối, tiêu chuẩn, chất lượng, giá cước, an toàn, an ninh thông tin, tài nguyên Internet;
      e) Thực hiện chế độ báo cáo và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định;
      g) Thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước huy động trong trường hợp khẩn cấp và các nhiệm vụ công ích khác.

      Điều 9. Đại lý Internet
      1. Đại lý Internet là tổ chức, cá nhân tại Việt Nam nhân danh doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông cho người sử dụng thông qua hợp đồng đại lý và hưởng thù lao.
      2. Các tổ chức, cá nhân là chủ các khách sạn, nhà hàng, văn phòng, sân bay, bến xe, v.v… khi cung cấp dịch vụ Internet cho người sử dụng không thu cước dịch vụ trong phạm vi các địa điểm nói trên đều phải ký hợp đồng đại lý với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet và thực hiện đầy đủ các quy định về đại lý, trừ các quy định liên quan đến giá cước đối với người sử dụng dịch vụ.
      3. Đại lý Internet có các quyền và nghĩa vụ sau:
      a) Thiết lập hệ thống thiết bị Internet tại địa điểm mà mình được toàn quyền sử dụng hợp pháp để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông cho người sử dụng tại địa điểm đó có thu cước hoặc không thu cước theo đúng các thoả thuận trong hợp đồng đại lý;
      b) Thực hiện các quy định về cung cấp, bán lại dịch vụ Internet theo quy định của pháp luật;
      c) Từ chối cung cấp dịch vụ đối với người sử dụng vi phạm Điều 6 Nghị định này hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
      d) Tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn, an ninh thông tin;
      đ) Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet hướng dẫn, cung cấp thông tin để thực hiện hợp đồng, đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của doanh nghiệp ký hợp đồng đại lý với mình;
      e) Thực hiện thời gian mở, đóng cửa hàng ngày theo quy định của chính quyền địa phương;
      g) Chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

      Điều 10. Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng
      1. Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng là doanh nghiệp viễn thông được cấp Giấy phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông theo quy định của pháp luật.
      2. Trong hoạt động cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng có nghĩa vụ:
      a) Cung cấp đường truyền dẫn viễn thông và phân tách mạch vòng nội hạt đầy đủ, kịp thời khi có yêu cầu của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet trên cơ sở hợp đồng giao kết giữa các bên, trong các điều kiện công bằng và hợp lý, để bảo đảm kịp thời việc triển khai cung cấp các dịch vụ Internet, đặc biệt là các dịch vụ Internet băng rộng;
      b) Không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet là đơn vị thành viên của mình với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khác khi triển khai thực hiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
      c) Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet trong công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và điều tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động Internet.

      Điều 11. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến
      1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo pháp luật Việt Nam để cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến cho công cộng.
      2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến có trách nhiệm:
      a) Xây dựng quy chế cung cấp, sử dụng và trao đổi thông tin phù hợp với các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet tại Nghị định này;
      b) Cung cấp các thông tin có liên quan đến người sử dụng dịch vụ vi phạm quy định tại Điều 6 Nghị định này theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
      c) Thực hiện việc ngăn chặn và loại bỏ các nội dung thông tin vi phạm quy định tại Điều 6 Nghị định này khi phát hiện hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
      d) Thực hiện chế độ báo cáo và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

      Điều 12. Người sử dụng dịch vụ Internet
      1. Người sử dụng dịch vụ Internet là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet hoặc với đại lý Internet để sử dụng dịch vụ Internet.
      2. Người sử dụng dịch vụ Internet có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
      a) Được sử dụng tất cả các dịch vụ Internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật;
      b) Thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng đã giao kết với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hoặc đại lý Internet;
      c) Chịu trách nhiệm về những nội dung thông tin do mình đưa vào, lưu trữ, truyền đi trên Internet theo quy định của pháp luật;
      d) Bảo vệ mật khẩu, khoá mật mã, thông tin cá nhân, hệ thống thiết bị của mình và chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn, an ninh thông tin;
      đ) Không được cung cấp dịch vụ cho công cộng và kinh doanh lại các dịch vụ Internet.

      Chương III
      QUẢN LÝ, CUNG CẤP VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ INTERNET

      Điều 13. Cấp phép cung cấp dịch vụ Internet
      1. Các doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ Internet cho công cộng sau khi có Giấy phép cung cấp dịch vụ do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp.
      2. Nguyên tắc, điều kiện, thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn và thu hồi Giấy phép nêu tại khoản 1 Điều này thực hiện theo các quy định tại các Điều 36, Điều 40, Điều 41 Nghị định số 160/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông về viễn thông.

      Điều 14. Cấp phép thiết lập mạng Internet dùng riêng
      1. Các mạng Internet dùng riêng phải có Giấy phép thiết lập mạng do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp:
      a) Mạng Internet dùng riêng mà các thành viên của mạng là các cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, có cùng tính chất hoạt động hay mục đích công việc và được liên kết với nhau thông qua điều lệ hoạt động hoặc văn bản quy định cơ cấu tổ chức chung hoặc hình thức liên kết, hoạt động chung giữa các thành viên;
      b) Mạng Internet dùng riêng có đường truyền tự xây dựng.
      2. Ngoài các mạng Internet dùng riêng quy định tại khoản 1 Điều này, các mạng Internet dùng riêng khác không cần phải có Giấy phép thiết lập mạng nhưng phải tuân theo các quy định của pháp luật về kết nối, tiêu chuẩn, chất lượng, giá cước, tài nguyên Internet và an toàn, an ninh thông tin.
      3. Nguyên tắc, điều kiện, thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn và thu hồi Giấy phép thiết lập mạng Internet dùng riêng thực hiện theo các quy định tại các Điều 36, Điều 44, Điều 45 Nghị định số 160/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông về viễn thông.

      Điều 15. Điều kiện kinh doanh đại lý Internet
      1. Có địa điểm và mặt bằng bảo đảm các quy định, tiêu chuẩn về phòng cháy, chữa cháy; vệ sinh môi trường để bảo vệ an toàn và sức khỏe cho người sử dụng dịch vụ.
      2. Đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
      3. Ký hợp đồng đại lý với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet sau khi đã hoàn thành thủ tục đăng ký kinh doanh như quy định tại khoản 2 Điều này.
      4. Có hệ thống thiết bị Internet đáp ứng các yêu cầu về đảm bảo an toàn, an ninh thông tin theo quy định.
      5. Niêm yết nội quy sử dụng dịch vụ Internet tại địa điểm kinh doanh đại lý Internet. Nội quy này phải ghi đầy đủ và rõ ràng các điều cấm đã được quy định tại Điều 6 Nghị định này; các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ Internet tại Điều 12 Nghị định này.

      Điều 16. Kết nối
      1. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet được thuê đường truyền dẫn của các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng để kết nối trực tiếp đi quốc tế; kết nối trực tiếp với nhau; kết nối với các trạm trung chuyển Internet.
      2. Các mạng Internet dùng riêng được xây dựng hoặc thuê đường truyền dẫn của các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng để kết nối trực tiếp đi quốc tế; kết nối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet; kết nối với các trạm trung chuyển Internet. Các mạng Internet dùng riêng không được kết nối trực tiếp với nhau.
      3. Thiết lập trạm trung chuyển Internet quốc gia (VNIX) hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận để trung chuyển lưu lượng Internet trong nước trên phạm vi toàn quốc. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet đồng thời là doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng có trách nhiệm thiết lập đường truyền dẫn kết nối đến trạm trung chuyển Internet quốc gia.
      Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể về hoạt động của VNIX và ban hành các cơ chế, chính sách để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet kết nối trực tiếp với nhau, với VNIX và với các trạm trung chuyển Internet của các doanh nghiệp khác.

      Điều 17. Tài nguyên Internet
      1. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền đăng ký và sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” và các tên miền quốc tế.
      2. Việc đăng ký và sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thực hiện thông qua các nhà đăng ký tên miền “.vn” theo các nguyên tắc sau:
      a) Bình đẳng, không phân biệt đối xử;
      b) Đăng ký trước được quyền sử dụng trước;
      c) Tuân thủ các quy định về bảo vệ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” tại Điều 68 Luật Công nghệ thông tin;
      d) Trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan Đảng, Nhà nước phải sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” và lưu trữ trong các máy chủ có địa chỉ IP ở Việt Nam.
      3. Việc đăng ký tên miền quốc tế được thực hiện trực tiếp với các tổ chức cung cấp tên miền quốc tế ở nước ngoài hoặc thông qua các nhà đăng ký tên miền quốc tế làm đại lý cho các tổ chức cung cấp tên miền quốc tế ở nước ngoài. Tổ chức, cá nhân đăng ký tên miền quốc tế phải thông báo với Bộ Thông tin và Truyền thông theo quy định tại Điều 23 Luật Công nghệ thông tin.
      4. Nhà đăng ký tên miền “.vn” thực hiện hoạt động đăng ký tên miền trên cơ sở hợp đồng ký với Trung tâm Internet Việt Nam và quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet. Nhà đăng ký tên miền quốc tế làm đại lý cho các tổ chức cung cấp tên miền quốc tế ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký hoạt động và báo cáo theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.
      5. Hình thức giải quyết tranh chấp về sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thực hiện theo quy định tại Điều 76 Luật Công nghệ thông tin và các quy định pháp luật khác liên quan.
      6. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet và các mạng Internet dùng riêng được quyền xin cấp địa chỉ Internet, số hiệu mạng từ Trung tâm Internet Việt Nam để sử dụng hoặc phân bổ và cấp phát lại cho người sử dụng của mình. Việc xin cấp địa chỉ Internet và số hiệu mạng trực tiếp từ các tổ chức quốc tế phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Thông tin và Truyền thông.
      7. Các tổ chức cá nhân có trách nhiệm nộp phí và lệ phí sử dụng tài nguyên Internet theo quy định của pháp luật.

      Điều 18. Tiêu chuẩn chất lượng, giá cước dịch vụ Internet
      1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm thực hiện quy định về quản lý chất lượng dịch vụ sau đây:
      a) Công bố chất lượng dịch vụ theo quy định;
      b) Thường xuyên tự kiểm tra, giám sát và bảo đảm cung cấp dịch vụ cho người sử dụng theo đúng mức chất lượng quy định hoặc mức chất lượng đã công bố;
      c) Báo cáo và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng dịch vụ theo quy định.
      2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm thực hiện quy định về quản lý giá cước sau đây:
      a) Hạch toán riêng dịch vụ Internet và xác định giá thành các dịch vụ Internet theo quy định;
      b) Quyết định, đăng ký, thông báo, báo cáo giá cước theo quy định;
      c) Niêm yết và thu cước của người sử dụng theo đúng mức giá cước đã công bố; thanh toán giá cước với các doanh nghiệp khác theo đúng mức giá cước trên cơ sở hợp đồng đã ký;
      d) Chịu sự thanh tra, kiểm tra giá cước của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

      Chương IV
      QUẢN LÝ, CUNG CẤP VÀ SỬ DỤNG
      THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRÊN INTERNET

      Điều 19. Nguyên tắc quản lý, cung cấp và sử dụng thông tin điện tử
      1. Việc thiết lập trang thông tin điện tử, việc cung cấp, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin điện tử trên Internet phải tuân thủ các quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về báo chí, pháp luật về xuất bản, pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về bản quyền, pháp luật về quảng cáo và các quy định quản lý thông tin điện tử trên Internet.
      2. Các cơ quan báo chí đã được cấp Giấy phép hoạt động báo điện tử theo quy định của pháp luật về báo chí được thiết lập trang thông tin điện tử sử dụng cho hoạt động báo chí.
      3. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp phải có giấy phép do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp.
      4. Các doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử để cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông.
      5. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử và sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ ứng dụng chuyên ngành trên Internet thực hiện theo các quy định của pháp luật chuyên ngành và các quy định liên quan tại Nghị định này.
      6. Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thiết lập các trang thông tin điện tử không thuộc các đối tượng quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều này thì không cần giấy phép và không cần đăng ký, nhưng phải tuân theo các quy định tại Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet.

      Điều 20. Phát hành báo điện tử, xuất bản trên mạng Internet.
      1. Điều kiện, quy trình, thủ tục cấp Giấy phép hoạt động báo điện tử thực hiện theo quy định của pháp luật về báo chí.
      2. Việc xuất bản trên mạng Internet thực hiện theo quy định tại Điều 25 Luật Xuất bản.
      3. Cơ quan báo chí và nhà xuất bản có giấy phép hoạt động báo điện tử và xuất bản trên mạng Internet theo quy định, được thiết lập hệ thống thiết bị Internet tại cơ sở của mình để trực tiếp thực hiện hoặc ủy thác cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet thực hiện việc phát hành báo điện tử và xuất bản phẩm trên mạng Internet.

      Điều 21. Cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp
      1. Điều kiện cấp phép
      a) Là tổ chức, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật tại Việt Nam;
      b) Có đủ phương tiện kỹ thuật, nhân sự, chương trình quản lý phục vụ cho việc thiết lập, cung cấp và quản lý thông tin phù hợp với quy mô hoạt động;
      c) Cam kết của người đứng đầu tổ chức, doanh nghiệp hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung trang thông tin điện tử và tuân thủ các quy định tại Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet.
      2. Hồ sơ cấp phép
      Hồ sơ cấp phép được lập thành 02 bộ, mỗi bộ hồ sơ gồm có:
      a) Đơn đề nghị cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, có nội dung cam kết tuân thủ các quy định tại Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet;
      b) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc quyết định thành lập;
      c) Sơ yếu lý lịch của người đứng đầu tổ chức, doanh nghiệp;
      d) Đề án thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp gồm những nội dung chính sau:
      – Mục đích cung cấp thông tin; nội dung thông tin; các chuyên mục; nguồn tin hợp pháp; quy trình xử lý tin, nhân sự, mẫu bản in trang chủ và các trang chuyên mục chính;
      – Loại hình dịch vụ dùng để cung cấp hoặc trao đổi thông tin (website, forum, blog v.v);
      – Biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ bảo đảm cho việc cung cấp và quản lý thông tin;
      – Tên miền dự kiến sử dụng.
      3. Thời gian và quy trình xử lý hồ sơ
      Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều này, Bộ Thông tin và Truyền thông tiến hành xét duyệt hồ sơ. Trường hợp tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ cấp phép. Trong trường hợp từ chối, Bộ Thông tin và Truyền thông có văn bản thông báo và nêu rõ lý do.
      4. Bổ sung, sửa đổi, cấp lại giấy phép
      a) Khi có nhu cầu thay đổi quy định trong giấy phép về nội dung thông tin, người chịu trách nhiệm, tên miền, tên tổ chức, doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở giao dịch, tổ chức, doanh nghiệp phải có đơn đề nghị trong đó nêu chi tiết nội dung đề nghị sửa đổi và lý do thay đổi nội dung giấy phép, bản sao giấy phép đang có hiệu lực, gửi về Bộ Thông tin và Truyền thông;
      b) Trong trường hợp giấy phép bị mất, bị rách, bị cháy hoặc bị tiêu huỷ dưới các hình thức khác, tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp phải gửi văn bản đề nghị nêu rõ lý do xin cấp lại giấy phép tới Bộ Thông tin và Truyền Thông;
      c) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông tiến hành xét duyệt hồ sơ. Trường hợp tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ có quyết định bổ sung, sửa đổi hoặc cấp lại giấy phép. Trong trường hợp từ chối, Bộ Thông tin và Truyền thông có văn bản thông báo và nêu rõ lý do.
      5. Gia hạn giấy phép
      a) Tổ chức, doanh nghiệp được cấp phép muốn gia hạn giấy phép phải gửi hồ sơ xin gia hạn tới Bộ Thông tin và Truyền thông 30 ngày trước ngày giấy phép hết hạn. Hồ sơ xin gia hạn gồm đơn xin gia hạn giấy phép và bản sao giấy phép đang có hiệu lực;
      b) Bộ Thông tin và Truyền thông thẩm định và xét gia hạn giấy phép trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Trường hợp từ chối gia hạn giấy phép, Bộ Thông tin và Truyền thông có văn bản nêu rõ lý do cho tổ chức, doanh nghiệp nộp đơn biết;
      c) Giấy phép chỉ được gia hạn 01 lần và thời gian gia hạn không vượt quá một năm.
      6. Thu hồi giấy phép
      a) Tổ chức bị thu hồi giấy phép khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
      – Cung cấp nội dung thông tin vi phạm các quy định tại Điều 6 Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet theo văn bản kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
      – Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp giấy phép không triển khai hoạt động cung cấp thông tin lên mạng Internet theo quy định tại giấy phép được cấp.
      b) Tổ chức, doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép không được cấp phép lại ít nhất trong vòng 01 năm, kể từ ngày bị thu hồi giấy phép.
      7. Thời hạn của giấy phép
      Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp có thời hạn tối đa không quá 05 năm.

      Điều 22. Đăng ký cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến
      1. Điều kiện đăng ký
      a) Là tổ chức, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật tại Việt Nam.
      b) Có đủ phương tiện kỹ thuật, nhân sự, hệ thống quản lý phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phù hợp với quy mô hoạt động.
      c) Cam kết tuân thủ các quy định tại Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet.
      2. Hồ sơ đăng ký
      a) Đơn đăng ký theo mẫu do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.
      b) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Quyết định thành lập.
      3. Xác nhận đăng ký
      a) Sau 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ của doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ gửi doanh nghiệp thông báo xác nhận đã nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ hoặc văn bản yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ trong trường hợp hồ sơ đăng ký không hợp lệ theo quy định;
      b) Doanh nghiệp chỉ được chính thức cung cấp dịch vụ cho công cộng sau khi nhận được thông báo của Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận đã nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ của doanh nghiệp.
      4. Hình thức đăng ký và xác nhận: bằng văn bản hoặc thông qua môi trường mạng theo các địa chỉ do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.

      Chương V
      THANH TRA, KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

      Điều 23. Thanh tra, kiểm tra
      Mọi tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực Internet chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

      Điều 24. Xử lý vi phạm
      Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Nghị định này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

      Điều 25. Khiếu nại, tố cáo
      Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định hiện hành. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

      Chương VI
      ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

      Điều 26. Điều khoản thi hành
      1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Nghị định số 55/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet.
      2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
      3. Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức hướng dẫn và triển khai thực hiện Nghị định này./.

      TM. CHÍNH PHỦ
      THỦ TƯỚNG
      Nguyễn Tấn Dũng – ĐÃ KÝ

      Nơi nhận:
      – Ban Bí thư Trung ương Đảng;
      – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
      – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
      – VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
      – HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
      – Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
      – Văn phòng Chủ tịch nước;
      – Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
      – Văn phòng Quốc hội;
      – Toà án nhân dân tối cao;
      – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
      – Kiểm toán Nhà nước;
      – BQL KKTCKQT Bờ Y;
      – Ngân hàng Chính sách Xã hội;
      – Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
      – UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
      – Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
      – VPCP: BTCN, các PCN,
      các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
      – Lưu: Văn thư, KTN (5b). XH

  2. txawriter said

    THAM KHẢO TRÊN BÁO CHÍ:

    Thông tư quản lý blog cá nhân:
    NĂM ĐIỀU CẤM ĐỐI VỚI BLOGGER

    Blogger phải chịu trách nhiệm về sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả của các thông tin trên blog.

    Ngày 18-12, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư 07 hướng dẫn hoạt động cung cấp thông tin trên blog. Thông tư này hướng dẫn Nghị định 97/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

    “Hành lang” cho blogger

    Thông tư này cũng đã tạo ra “hành lang” cụ thể cho người tham gia môi trường Internet có mở trang thông tin cá nhân, thông qua năm loại hành vi thuộc danh mục cấm. Cụ thể, năm hành vi bị cấm trong cung cấp thông tin trên trang điện tử cá nhân gồm:

    Một, lợi dụng blog để cung cấp, truyền đi hoặc đặt đường liên kết trực tiếp đến những thông tin vi phạm các quy định tại Điều 6 Nghị định 97/2008 (về cấm lợi dụng Internet để thông tin xuyên tạc, làm lộ bí mật nhà nước, tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy, dâm ô, quảng cáo mua bán, tuyên truyền hàng cấm…).

    Hai, tạo blog giả mạo cá nhân, tổ chức khác; sử dụng trái phép tài khoản trang thông tin điện tử cá nhân của cá nhân khác; thông tin sai sự thật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    Ba, truyền bá tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học nghệ thuật, các xuất bản phẩm vi phạm quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản.

    Bốn, sử dụng thông tin hình ảnh của cá nhân mà vi phạm các quy định tại Điều 31 và 38 Bộ luật Dân sự (về quyền của cá nhân đối với hình ảnh: Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; quyền bí mật đời tư của cá nhân: Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý – PV).

    Năm, cung cấp thông tin trên trang điện tử cá nhân mà vi phạm quy định về sở hữu trí tuệ, giao dịch thương mại điện tử và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Chịu trách nhiệm về mọi thông tin trên blog

    Theo thông tư, blogger phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về các thông tin cung cấp trên blog: từ việc dẫn lại từ tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật đến vấn đề sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân và chịu trách nhiệm về vấn đề sở hữu trí tuệ của những thông tin đưa trên blog. Việc chịu trách nhiệm của chủ blog không chỉ thể hiện ở việc phải tự bảo quản các thông tin cá nhân mà còn phải bảo quản mật khẩu, khóa mật mã. blogger không thể viện cớ bị đánh cắp mật khẩu để chối bỏ trách nhiệm khi đưa những thông tin thuộc danh mục cấm trong Nghị định 97/2008 lên trang cá nhân của mình.

    Đồng thời, blogger hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về các vấn đề về sở hữu trí tuệ đối với các thông tin trên trang cá nhân của mình. Việc cung cấp thông tin trên trang vi phạm quy định về quyền tác giả nói riêng và các quy định về sở hữu trí tuệ nói chung đều bị coi là hành vi trái pháp luật và bị cấm.

    Nhà cung cấp dịch vụ cũng phải chịu trách nhiệm

    Theo thông tư, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến (gọi tắt là nhà cung cấp) cũng phải chịu trách nhiệm về “khách hàng” của mình.

    Cụ thể, nhà cung cấp phải ban hành rõ quy chế hoạt động cung cấp thông tin trên trang blog cá nhân. Đồng thời, phải có biện pháp xử lý thích hợp đối với trang blog cá nhân vi phạm quy chế hoạt động cung cấp thông tin của doanh nghiệp. Nhà cung cấp cũng phải xây dựng cơ sở dữ liệu về trang cá nhân và cung cấp cho cơ quan quản lý khi có yêu cầu. nhà cung cấp phải ngăn chặn và loại bỏ những nội dung thông tin vi phạm pháp luật và thông tin thuộc các trường hợp cấm nói trên. Mỗi năm hai lần, nhà cung cấp phải gửi báo cáo về Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử.

    Vấn đề là trang cá nhân có đảm bảo các thông tin khai trong blog cá nhân có đúng sự thật không và làm thế nào để xử lý hoặc từ chối vĩnh viễn việc cung cấp dịch vụ đối với một khách hàng nếu không xác định được thông tin của chủ blog trên trang này là giả hay thật. Tuy nhiên, các vấn đề chế tài đối với hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả đối với các thông tin đưa ra trên trang cá nhân, cũng như việc chế tài trách nhiệm của blogger đến đâu nếu xâm phạm bí mật đời tư hoặc đưa hình ảnh không xin phép trên trang cá nhân… chưa được quy định cụ thể trong thông tư này.

    Trang thông tin điện tử cá nhân (blog) là trang dùng để thể hiện những thông tin mang tính chất cá nhân phục vụ nhu cầu lưu trữ hoặc trao đổi, chia sẻ với một nhóm người hoặc cộng đồng rộng rãi sử dụng dịch vụ Internet. Trang này được đăng ký khởi tạo trên Internet.

    – Khuyến khích phát triển và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân (blog) giúp cá nhân mở rộng khả năng tương tác trên môi trường Internet để trao đổi, chia sẻ các thông tin phù hợp thuần phong mỹ tục và các quy định của pháp luật, làm phong phú thêm đời sống xã hội và tinh thần gắn kết cộng đồng.

    – Khuyến khích sử dụng tiếng Việt trong sáng, lành mạnh trên các trang blog.

    – Khuyến khích sử dụng blog trên các mạng xã hội trực tuyến đã đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật.

    (Trích Thông tư 07/2008/TT-BTTTT)

    THANH HẢI

    Nguồn:
    http: // phapluattp. vn/237958p0c1021/thong-tu-quan-ly-blog-ca-nhan-nam-dieu-cam-doi-voi-blogger.htm

  3. txawriter said

    CẦN TRAO ĐỔI, THẢO LUẬN

    Bài viết đặt ra nhiều vấn đề rất cần được trao đổi, thảo luận thêm:

    1) Cụm từ “chủ sở hữu” trong bài viết phải được hiểu một cách rạch ròi như thế nào?

    2) Từ “chủ biên” phải hiểu ra sao? Có sửa chữa, cắt bỏ bài vở hay không?

    3) Đã là tạp chí điện tử tự lập, hợp pháp, mặc dù không có giấy phép của Bộ Thông tin & truyền thông như tạp chí điện tử nhà nước, chắc hẳn cũng phải chấp hành luật báo chí hiện hành, kể cả thể lệ chung về đăng bài do các tác giả gửi đến, đăng lại bài ở các tạp chí khác với sự xin phép và được đồng ý? Cũng cần nêu rõ chế độ nhuận bút?

    4) Tâm lí hiện nay của các tác giả là thích đăng báo chí in giấy của Nhà nước. Và tình hình phải chăng là như thế này: Thực chất là những người muốn giữ đặc quyền đặc lợi muốn gạt một số tác giả ra khỏi lãnh địa báo chí in giấy? Mặt khác, có một số lực lượng nào đó muốn li gián càng nhiều tác giả càng tốt để lôi kéo về phía phi nhà nước?

    5) Giả định là các tạp chí điện tử tự lập ngày mỗi phát triển, ngày càng có uy tín, liệu “quốc doanh” (nhà nước) sẽ bị thất thế so với “tư doanh” (tự lập) hay không?

    6) Và còn nhiều khía cạnh khác nữa, rất phiền phức, đầy nguy cơ: Bài viết trên các trang mạng vi tính toàn cầu (web) có thể bị sửa chữa bởi kẻ xấu (hacker), thậm chí bị hạ xuống… Làm sao bảo đảm được mật khẩu không bị lấy trộm? …

    Mong được trao đổi, thảo luận thêm.

    Trân trọng,
    Trần Xuân An
    6:30, 26-5 HB10 (2010)

  4. TXA. said

    Phải chăng, rất giản dị, về mặt LUẬT (bộ luật hoặc nghị định, thông tư hợp hiến) cũng như LỆ (thể lệ), thì tạp chí điện tử tự lập cũng như tạp chí in giấy ở nước ta trước đây và hiện nay. Vậy thôi.

    VẤN ĐỀ LÀ CẦN XÁC ĐỊNH RÕ VỀ TÍNH HỢP PHÁP (như các khung trên) ĐỂ CÁC CHỦ BIÊN (hay nhóm chủ biên) YÊN TÂM THỂ HIỆN TÍNH CHUYÊN NGHIỆP.

    ???

    Hiện nay, trong thực tế là chưa có tạp chí điện tử tự lập nào thực sự đạt được tính chuyên nghiệp, thậm chí chỉ “cho vui”. Nguyên nhân? Một phần là do LUẬT chưa minh bạch…

    ???

    Hãy phóng cái nhìn tới trước, nhưng cũng phải nhìn thẳng vào thực trạng, không nên lạc quan tếu.

    TXA.
    27-5 HB10

  5. TXA. said

    MỘT LÁ ĐIỆN THƯ VỀ TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ TỰ LẬP

    08:12 Ngày 20 tháng 4 năm 2010
    chủ đề: Re: Mời các bạn viết bài cho Tạp chí ĐẤT
    được gửi bởi: gmail.com

    Kính chào tất cả quý anh chị và các bạn,

    Xin thành thật cảm ơn lời mời viết bài cho Tạp chí Đất.

    Tôi thấy anh em cầm bút Miền Nam thiếu “đất” để đăng bài, nên ý tưởng các anh chị làm một tạp chí như vậy là một dự định rất hay. Tuy nhiên, tôi hi vọng đó là một tạp chí bề thế, đứng đắn (theo cách nói hiện nay là phải rất chuyên nghiệp).

    Có một vấn đề tế nhị: Tạp chí ĐẤT phải chính danh là tạp chí văn chương học thuật trong nước, vì một tạp chí ở hải ngoại thì hơi khó lòng cho anh em …

    Một điểm khác, rất quan trọng, xin được góp ý: Mỗi số tạp chí online cũng cần phải in ra thành tạp chí in giấy, tối thiểu là in vi tính khoảng 100 bản, có đóng ấn triện của ban biên tập (*).

    Thân kính chúc anh chị và các bạn thật quyết tâm và bền chí, để Tạp chí ĐẤT không “nghiệp dư” và non yểu.

    Trân trọng,
    thân kính,
    TXA.
    _____________________

    (*) Để lưu chiểu và để làm vật chứng, phòng ngừa mọi hành vi sửa chữa, cắt bài, xóa bài một cách thiếu minh bạch của hacker (tin tặc)…

    • txawriter said

      Vâng, thưa anh HVBT., nguyên văn thư mời như sau:

      ngày 00:02 Ngày 19 tháng 4 năm 2010
      chủ đề: Mời các bạn viết bài cho Tạp chí ĐẤT
      được gửi bởi gmail.com
      xác thực bởi gmail.com

      Anh Phan Xuân Sinh và một số thân hữu văn nghệ ở USA cũng như trong nước đự định mở một tạp chí văn học online lấy tên là Tạp Chí Đất. Mọi chủ đề, thể loại thuộc phạm trù thuần túy văn chương đều được trân trọng. BBT rất mong sự cộng tác của quý bạn và nhờ thông báo cho tất cả bạn bè văn nghệ quen gửi bài biết để số đầu tiên sớm ra mắt. Tạm thời các bạn có thể gửi email cho Tạp chí Đất theo d/c pxsinh@yahoo.com. Thành thật cám ơn quý bạn.

      (Thư này cũng đã được cậy đăng trên Tạp chí điện tử Sông Cửu Long)

  6. TXA. said

    Thưa anh HVBT.,

    Bài viết “Tạp chí điện tử tự lập, có hay chưa?” chỉ có một chủ đích là góp phần nhỏ sự vận dụng sáng tạo của tôi vào việc “cởi trói” cho các tạp chí điện tử tự lập, trong tinh thần “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” ở nước ta. Ngoài ra, không có chủ đích nào khác.

    TXA.
    29-5 HB10

  7. txawriter said

    MỘT SỐ TỪ NGỮ VỀ MẠNG VI TÍNH TOÀN CẦU
    ĐÃ TỰ TẠM DỊCH ĐỂ SỬ DỤNG

    I. Từ ngữ, dịch và phỏng dịch:

    1) Internet: Nguyên nghĩa net, web: mạng lưới đánh cá, mạng nhện… Inter: có tính toàn cầu, quốc tế. Tạm dịch, có bổ sung nghĩa cho đủ nghĩa: Mạng vi tính toàn cầu; mạng thông tin toàn cầu. Viết gọn (cũng 3 âm tiết, như in-ter-net), sau khi đã sử dụng nguyên cụm từ trong bài, là: Mạng toàn cầu.

    2) Weblog (web-log, web-blog, blog): Nguyên nghĩa là nhật kí mạng, nhật trình mạng (vì log có nghĩa là nhật kí đi biển của thủy thủ đoàn). Tạm dịch: Điểm mạng vi tính toàn cầu cá nhân hay dùng riêng cho một nhóm. Viết gọn (cũng 2 âm tiết, như web-blog, web-[b]-log), như cách thức trên, là: Điểm mạng. Đủ nghĩa hơn: Điểm mạng riêng.

    3) Blogger: Người viết (tác giả) điểm mạng riêng, cây bút mạng riêng, tay phím mạng riêng. Viết gọn, như cách thức trên: Bút mạng (tay phím mạng).

    4) Web site, website (web-site): Nguyên nghĩa site là chỗ, nơi, địa điểm, vị trí… Cả từ: Địa điểm mạng (một trong hàng triệu, hàng tỉ điểm trên mạng lưới). Tạm dịch, như cách trên: Điểm mạng vi tính toàn cầu. Viết gọn, như cách thức trên: Điểm mạng.

    5) Host: Nguyên nghĩa: vật chủ. Tạm dịch: cơ sở chủ quản lưu phát thông tin. Gọn hơn, thoát hơn: Phần lưu phát.

    6) …

    II. Từ ngữ, gọi theo chức năng:

    Các từ ngữ bên trên được dịch sát nghĩa và có bổ túc nét nghĩa (phỏng dịch). Tuy nhiên, đó cũng chỉ là các từ ngữ chỉ chung về cơ sở vật chất (phần cứng, phần mềm), chứ chưa phải chỉ cụ thể về chức năng. Có weblog được người sử dụng như một tạp chí điện tử (chuyên đăng bài mới) hay tập thông tin điện tử tổng hợp (chuyên đăng lại bài từ báo chí…) nhưng cũng có website, thậm chí có cả phần lưu phát (host) riêng, tên miền (domain name) riêng hẳn hoi, vẫn chỉ được sử dụng như tập thông tin điện tử cá nhân. Vì thế, ngoài các từ ngữ chỉ về cơ sở vật chất, ta nên gọi từng điểm mạng theo chức năng mà người sử dụng đặt ra cho chúng. Điểm mạng này là tạp chí điện tử, điểm mạng kia là điểm mạng thông tin cá nhân (điểm mạng riêng), điểm mạng nọ là diễn đàn (forum)…

    Ghi chú: Ta quen gọi tờ báo. Tờ là một bản giấy gồm hai trang, trang mặt và trang trái (trang trước và trang sau) hoặc tờ đôi, gồm 4 trang. Tại sao quen gọi là tờ báo? Vì ngày xưa, khởi đầu báo chỉ một tờ, dán lên cột, lên vách cho công chúng xem. Dần dà, báo tăng trang, từ 2 trang đến 4 trang. Như vậy gọi tờ báo vẫn ổn. Nhưng không dừng lại ở mức đó, báo mỗi thời mỗi tăng trang, tăng đến 16 trang và nhiều hơn, thành tệp báo (không đóng gáy). Rồi thành tập, có đóng gáy, có bìa, gọi là tập san, tập tạp chí… Riêng về cụm từ hay từ “tờ báo”, hiện nay là quen gọi theo buổi khởi đầu của lịch sử báo. Còn weblog, website mà gọi là “trang mạng”, “trang thông tin điện tử” thì không chuẩn chăng? Trang mạng là webpage. Weblog / website nên chăng phải gọi là tập thông tin điện tử (riêng / chung, còn tùy). Nhưng tốt nhất là gọi weblog, website bằng điểm mạng (riêng hay chung).

    TXA.
    7:00 & 14:30, 30-5 HB10 (2010)

  8. TXA. said

    Xem thêm:

    https://txawriter.wordpress.com/tu-ngu/

  9. txawriter said

    08-6 HB10 (2010):

    Hôm qua, 07-6-2010, tôi đã kính thông báo thông tin về TÊN MIỀN QUỐC TẾ cho Bộ Thông tin và Truyền thông, theo đề nghị của Công ti Mắt Bão. Luôn thể, tôi cũng kính thông báo cả thông tin về tên miền vốn được đăng kí ở Công ti FPT.

    Như vậy, cả hai tên miền của tôi:
    www. tranxuanan-poet. net
    http://www.tranxuanan-poet.net &
    www. tranxuanan-writer. net
    http://www.tranxuanan-writer.net
    đều đã được thông báo cho bộ phận phụ trách của Bộ Thông tin & Truyền thông. Cả hai tên miền đều được xác nhận hợp lệ và hợp pháp.

    Dưới đây là đường dẫn (link) đến trang chủ của tập thông tin điện tử (web site) “Thông báo tên miền quốc tế”:

    http://thongbaotenmien.vn/jsp/index.jsp

    TXA.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: