Ý KIẾN NGƯỜI ĐỌC & GIỚI CẦM BÚT – WebTácgiảTrầnXuânAn

Có nên tôn vinh sự đầu hàng, thỏa hiệp

Đăng bởi txawriter on Tháng Năm 12, 2009

hidden hit counter  

Ý kiến ngắn:

TỪ CHÂN LÍ, SỰ THẬT LỊCH SỬ & TIÊU CHÍ NHẬN ĐỊNH:

CÓ NÊN TÔN VINH NHỮNG NHÂN VẬT LỊCH SỬ ĐẦU HÀNG, THỎA HIỆP

(PHAN THANH GIẢN, VŨ TRỌNG BÌNH, HOÀNG TÁ VIÊM, HÀM NGHI, DUY TÂN)?

  Chân lí là lẽ đúng, điều đúng. Sự thật lịch sử, riêng ở tầm vĩ mô, là những gì đã diễn ra trong quá khứ của một triều đại, một đất nước, một vùng đất và của những con người can dự vào đại cuộc, vào sự kiện có tính lịch sử, đúng như vốn có. Tiêu chí là hệ chuẩn giá trị (bậc thang giá trị), người ta căn cứ vào đó để nhận xét và đánh giá, xếp loại. Ba khái niệm này có mối quan hệ rất hữu cơ.

 Trong thời gian gần đây, có một số nhân vật lịch sử được nêu lên để nghiên cứu, nhận thức, đánh giá lại. Điều đó là một biểu hiện của công cuộc Đổi mới, rất đáng mừng. Tuy nhiên, cũng rất cần bình tâm suy nghĩ.

1) Về Nguyễn Văn Tường (1824-1886): Giới sử học và bản thân tôi đã nghiên cứu, cuối cùng đã đi đến kết luận Nguyễn Văn Tường là một nhân vật chủ chiến, không đầu hàng giặc Pháp và bị chúng lưu đày biệt xứ, rồi chết trên đảo Tahiti cô quạnh. Đây là một nhân vật đáng tôn vinh trên cơ sở sự thật lịch sử và tiêu chí nhận định là không đầu hàng giặc ngoại xâm. Điều đó phù hợp với chân lí đạo đức là nhân cách, chân lí chính trị là yêu nước, chống ngoại xâm.

2) Có một số nhân vật khác: Phan Thanh Giản (1796-1867); Võ Trọng Bình (Vũ Trọng Bình, 1807 [1808] – 1898 [1899]); Hoàng Tá Viêm (Hoàng Kế Viêm, 1820-1909); Hàm Nghi (1871-1944)… Những nhân vật này vẫn còn gây tranh cãi. Trong bốn nhân vật đó, Hoàng Tá Viêm, Võ Trọng Bình, Hàm Nghi vẫn rất đáng tiếc: Sau ngày 05-7-1885, Hoàng Tá Viêm đành phải nhận chức của ngụy triều Đồng Khánh, mặc dù ông cho rằng, cầm quân đánh [nghĩa sĩ Cần vương] để yên dân, không phải đánh lấy thắng (1); còn Hàm Nghi, năm 1904, đã kết hôn với con gái của một quan toà thực dân Pháp tại Alger… Vũ Trọng Bình cũng thuộc phái ủng hộ nhóm chủ chiến triều đình Huế, bản tính vốn rất thanh liêm, cương trực, phụ trách chuyển tiền vàng, tài khí vào Quảng Nam, ra Tân Sở (2), nhưng sau Ngày Kinh đô quật khởi, bị thất thủ (05-7-1885), ông không tham gia phong trào Cần vương cho đến cùng, con trai lại bị quân Cần vương giết (vì theo Phan Đình Bình đi đánh dẹp phong trào Cần vương!), và có lần ông chịu ơn ngụy vương Đồng Khánh đã “cứu trợ” cho ông lúc già nua, đói khổ (3). Phan Thanh Giản rơi vào tình huống bi kịch nhưng dẫu sao ông vẫn chấp nhận cái chết tự sát của một kẻ đầu hàng giặc Pháp (1867).

3) Về Duy Tân (1900-1945): Vị vua yêu nước này vẫn gây tranh cãi về việc chính ông, một hoàng đế bị lưu đày bởi thực dân Pháp, lại thành hôn với phụ nữ Pháp, tín đồ Thiên Chúa giáo, và nhất là về giai đoạn cũng chính ông, một hoàng đế của một đất nước bị Pháp xâm lược, lại xin gia nhập quân đội Pháp, một nước thực dân đang xâm lược Tổ quốc mình, cho dù với mục đích chống phát-xít (có thể có cả mục đích trở về ngai vàng hoàng đế Đại Nam). Ông viết đơn tình nguyện từ 1936, nhưng mãi đến 1940 mới được chấp thuận, và phục vụ trong quân đội Pháp cho đến khi bị tai nạn máy bay, ngày 26-12-1945 (có người cho là do mưu sát), với cấp bậc thiếu tá. Tranh cãi về Duy Tân như thế là hẹp hòi hay chuẩn xác, về “phương tiện” (vào quân đội Pháp) và cứu cánh (về nước chấp chính), nhất là về thể thống, danh dự hoàng đế của một dân tộc đang bị Pháp dày xéo? Phải chăng, vì đang là một tù nhân, Duy Tân không còn con đường nào khác là phải gia nhập quân đội Pháp? Cho dù như vậy, vấn đề thể thống, danh dự hoàng đế vẫn còn đó! Nếu Duy Tân chỉ là một thường dân bị bắt Pháp lính, nhưng vẫn âm thầm nung nấu ý chí cứu nước cứu dân thì vấn đề lại khác.

Thật xót xa khi phải nêu câu hỏi: Có lẽ nào chúng ta lại tôn vinh không phù hợp với chân lí đạo đức, chân lí chính trị và hệ tiêu chí nhận định sử học?

Đối với năm nhân vật Phan Thanh Giản, Vũ Trọng Bình, Hoàng Tá Viêm, Hàm Nghi, và cả Duy Tân nữa, phải chăng chúng ta nên xây dựng các ngôi nhà hồi tưởng lịch sử, các ngôi nhà lưu niệm lịch sử hay những tượng đài sự kiện lịch sử (có thể mang tính bi kịch) hơn là tôn vinh cá nhân năm nhân vật lịch sử ấy (như đặt tên trường học…). Nói như vậy, tôi vẫn khẳng định rằng, Vũ Trọng Bình, Hoàng Tá Viêm, Hàm Nghi vẫn là những nhân vật yêu nước đến tận hơi thở cuối cùng của cuộc đời họ, cho dù chặng cuối hành trạng chính trị của họ, trong bối cảnh lịch sử chung, họ đã có phần thỏa hiệp, buông xuôi, bất lực trước thế cuộc. Còn Phan Thanh Giản, phải chăng là đúng nhưng hơi khắt khe khi chúng ta xem ông như kẻ đã đầu hàng non (1867), trong thời đoạn nghĩa quân Nam Kỳ vẫn còn hoạt động chống Pháp mạnh mẽ, tình hình chưa đến nỗi như sau ngày 5-7-1885? Và Duy Tân, vẫn còn là một vấn đề?

Rất cần phải nhấn mạnh hơn vấn đề này, trong tình hình hiện nay đang có xu hướng đề cao sự đầu hàng, thỏa hiệp và biện minh cho “bọn giặc tả đạo”, gắn liền với thực dân, trong Thiên Chúa giáo, thuộc giai đoạn lịch sử cận – hiện đại ở nước ta. Cũng vì xu hướng sai lệch tôi nhận thấy cần thiết phải phê phán ấy, nên bản thân tôi đã chịu nhiều sự tấn công trên trường văn trận sử. Do đó, đành phải đưa ra ý kiến ngắn, tuy trung thực, công bằng nhưng chắc hẳn hơi thiếu tế nhị kể trên.  

Trần Xuân An

10 – 11:07, 01-5 HB9

___________________________________________________________________

(1) Quốc sử quán triều Nguyễn (QSQTN.), Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), kỉ Đồng Khánh, bản dịch của Viện Sử học, tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 200 – 203, 305. Bổ sung, chiều 05-5 HB9, 16:50: Nguyên văn trong bản dụ của ngụy vương Đồng Khánh: “Hiện nay, chuẩn cho cựu thần Hoàng Tá Viêm khai phục Đông các đại học sĩ, sung làm an phủ kinh lí đại thần hữu trực kì, cũng là muốn cho yên dân, không phải là muốn đánh lấy thắng” (sđd., tr. 203). Có thể hiểu ý tưởng “cũng là muốn cho yên dân, không phải là muốn đánh lấy thắng” là của Hoàng Tá Viêm. Trước bản dụ này, có tập tâu của Hoàng Tá Viêm, gồm 4 khoản, trình bày cách thức đánh dẹp phong trào Cần vương (tr. 200 – 202), với lời lẽ và ý tưởng thiên về phủ dụ. Đây là một văn bản có thể nói là Hoàng Tá Viêm tự kết liễu sự nghiệp chống Pháp của ông, trượt sang phía thỏa hiệp với ngụy triều Đồng Khánh và thực dân Pháp, một cách bi kịch.

(2) ĐNTL.CB., sđd., tập 37, tr. 171 – 172.

(3) ĐNTL.CB., sđd., tr.158, 227, xem thêm: QSQTN., Đại Nam liệt truyện, tập 4, Nxb. Thuận Hóa, 1994, tr.160).

Xem thêm:

1) Về Phan Thanh Giản (1796 – 1867):

http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=747&Itemid=70  (Ban biên tập Trang thông tin điện tử Bến Tre)

http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=251&Itemid=47  (như trên)

http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=2993&Itemid=47  (Thu Thủy, Bảo tàng Bến Tre, 28/02/2008)

2) Về Vũ Trọng Bình (Võ Trọng Bình, 1807 [1808] – 1898 [1899]):

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%B5_Tr%E1%BB%8Dng_B%C3%ACnh   (Wikipedia)

http://www.baobinhduong.org.vn/detail.aspx?Item=64065  (bài của Hoa Cúc Vàng)

3) Về Hoàng Tá Viêm (Hoàng Kế Viêm, 1820-1909):

http://vietnamnet.vn/thuhanoi/2009/04/843837/   (Đặng Thân, bài “Hoàng Kế Viêm và quan hệ với Lưu Vĩnh Phúc” (phần cuối), Vietnam Net, 08:57′ 24/04/2009 [GMT+7])

4) Về Hàm Nghi (1871-1944):

– WebTgTXA. (Trần Xuân An): 14-04 HB8: KIẾN NGHỊ CHỌN TÂN SỞ (QUẢNG TRỊ) LÀM NƠI CẢI TÁNG DI CỐT VUA HÀM NGHI VÀ NHÂN DỊP NÀY ĐẶT TÊN ĐƯỜNG, TÊN TRƯỜNG HỌC BẰNG DANH TÍNH NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824-1886)

Báo Lao Động điện tử và các báo, tạp chí khác như Văn chương Việt cùng nhiều điểm mạng liên thông toàn cầu (website, webblog) trong hai ngày vừa qua đã đưa tin “Di hài vua Hàm Nghi sắp về đến Huế”

Di ảnh vua Hàm Nghi. Ảnh: Nguyễn Đắc Xuân. —— Link h.1 |  Link h.2  | Link h.3 | Link h.4

Theo bản tin của ông Hoàng Văn Minh (Lao Động online), các cơ quan hữu trách và các nhà nghiên cứu sử học ở Huế đã bàn bạc về nơi sẽ cải táng di cốt của vị vua vốn được nhận định là ”linh hồn của Phong trào Cần vương” trong những năm đầu của phong trào này (1885-1888), mặc dù sau đó, 1904, Hàm Nghi đã kết hôn với con gái của một quan toà thực dân Pháp tại Alger. Như vậy, phải chăng sự nghiệp đáng tôn vinh của Hàm Nghi thực sự chấm dứt từ 1888 hoặc 1904? Dẫu sao, theo đó, cần chọn một vị trí thích đáng, và nơi ấy cũng sẽ là nơi cải táng di cốt Tôn Thất Thuyết (hiện còn táng ở Trung Hoa) cũng như nhiều vị khác để trở thành “Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Cần Vương”. Bài báo cũng nhắc lại một vài nét về cuộc kinh đô quật khởi, bị thất thủ (05-7-1885) và ngày tuyên Dụ Cần vương, phát động phong trào (13-7-1885), tại Tân Sở (Quảng Trị). Nhân đây, WebTgTXA. trân trọng kiến nghị: 

a) Nên chọn một phần đất thuộc Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) để cải táng di cốt vua Hàm Nghi, đồng thời làm “Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Cần Vương” như ý kiến đề xuất trong bài báo;

b) Trong những năm qua, đã có các hội thảo, hội nghị sử học, lễ phục hồi trọn vẹn danh tiết, kể cả 2 tháng ở lại Huế, những tháng cuối đời tại Tahiti của Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và lễ dựng bia lịch sử cuộc đời ông, đây cũng là một dịp để chọn một vài con đường hay trường học, tại Huế, tại Quảng Trị và ở các tỉnh, thành khác để đặt tên bằng danh tính của nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường. (WebTgTXA.). 

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/PrintView.aspx?ArticleID=256993&ChannelID=119 (Thái Lộc, “Vua Hàm Nghi: giữ cốt cách Việt nơi lưu đày”, Tuổi Trẻ online, 11/05/2008, 17:52 [GMT+7])

http://baotanglichsu.vn/detailNews.aspx?id=4832&lang=vi  (Nguyễn Khánh – Vân Đình (Huế), bài “Cần một bảo tàng Hàm Nghi tại thành Tân Sở”, thethaovanhoa.vn, 06-3-”09. Đăng lại trên Trang Thông tin điện tử Bảo tàng lịch sử Việt Nam, 10/03/2009)

http://www.toquoc.gov.vn/Print/Article/Hoang-Tu-Li-Tong/pdf  (Tachiana Lvovna Sepkina-Kubernik (Nga), “Hoàng tử Lí Tông”, bản dịch và lời người dịch [trên cơ sở bài viết của Niculin...]: Đào Tuấn Ảnh, giới thiệu: Nguyễn Duy, Báo điện tử Bộ VH.-TT-DL., 15h:31′ – 25/6/2008)

5) Về vua Duy Tân (1900-1945):

http://vi.wikipedia.org/wiki/Duy_T%C3%A2n  (Wikipedia)

http://baodaidoanket.net/ddk/print.ddk?id=6417  (Trà Giang, ““Giải mã” số phận bi thảm của một vị vua chống pháp”, báo điện tử Đại Đoàn Kết,  12:18:00, 05-01-2008) http://baodaidoanket.net/ddk/print.ddk?id=6455 (phần 2, bài đã dẫn)

                        _______________________________

Bài trên WebTgTXA., 01 — 05-5 HB9

Cũng có thể xem ở 2 điểm mạng toàn cầu: Trúc Sơn Trang & Trần Nhương – Com (05 & 06-5 HB9):

http://xuanduc.vn/baiviet.aspx?id=828&nhom=6

http://trannhuong.com/news_detail/1487/CÓ-NÊN-TÔN-VINH-NHỮNG-NHÂN-VẬT-LỊCH-SỬ-ĐẦU-HÀNG-THỎA-HIỆP

Đăng trong Co nen ton vinh cac nhan vat dau hang, thoa hiep | Tagged: | 5 phản hồi »

Thực trạng độc thân của Bác Hồ

Đăng bởi txawriter on Tháng Hai 24, 2009

hidden hit counter

NHẬT KÍ TÌM HIỂU THỰC TRẠNG ĐỘC THÂN

CỦA NHÂN VẬT LỊCH SỬ HỒ CHÍ MINH

 

Trần Xuân An

 

— Đánh giá một con người, căn cứ vào mức độ cống hiến của người ấy cho dân tộc và nhân loại, chứ không phải căn cứ vào sự bình thường hay không bình thường của bộ phận nào đó trong cơ thể. Người xưa thường nói “nhân bất thập toàn”. Nhưng điểm tật về chức năng một bộ phận cơ thể của nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh và anh chị ruột của Người chỉ minh định thể trạng hiền nhân thuần khiết bẩm sinh của họ, như nhân dân Nam Đàn, Nghệ An ca ngợi: “Nam Đàn sinh Thánh”. Hồ Chí Minh là thánh nhân cần thiết phải xuất hiện trong tình hình đấu tranh cận - hiện đại, đặc biệt là đấu tranh về tôn giáo, ý thức hệ, trước các thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ ngày càng tinh vi, thâm độc.

 

Bài viết này góp phần vào việc phê bình trong tinh thần dân chủ đối với cuốn “Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh” và phê phán tiểu thuyết “Đỉnh cao chói lọi” của nhà văn sa-đích Dương Thu Hương.

 

— Trong bài viết, khi phân tích tư liệu sấm kí “Nam Đàn sinh Thánh”, tôi có đề cập đến giai đoạn lịch sử từ khoảng cuối thế kỉ mười bảy (XVII) đến khoảng cuối thế kỉ mười chín (XIX). Trong quãng thời gian lịch sử này, công lao của các chúa Nguyễn và những thành tựu nội trị, phương cách đối phó trước thách đố do tình thế chung của vương triều Nguyễn vẫn được khẳng định, đề cao, mặc dù tôi không viết thành câu chữ (bởi đã viết nhiều lần ở những bài khác, sách khác). Nhưng cũng không phải công lao, thành tựu và phương cách đối phó cùng tư thế đứng trước thách đố của thời thế ấy không ở trong bối cảnh “Đàng Trong – Đàng Ngoài” tại nước ta, và càng không phải ở ngoài toàn cảnh thế giới trước hiểm họa “truyền đạo” đi đôi với “tìm đất” của thực dân Phương Tây, Âu Mỹ…

 

 

1.

 

Nhật kí ngày 12-01 HB9 (2009)

 

Cuộc sống độc thân trọn đời của nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh, từ mấy mươi năm trước, không một ai trên đất nước Việt Nam không biết. Cũng như vậy, nhiều người trên thế giới đã biết đến, như lâu nay chúng ta từng tiếp xúc với nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn. Và lòng ngưỡng mộ trong nước, ngoài nước về Hồ Chí Minh không vì thế mà suy giảm hay tăng lên. Nhưng trong thời gian gần đây, nhất là khi cuốn “Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh” tung ra trên mạng toàn cầu, kế đến là xuất hiện tiểu thuyết “Đỉnh cao chói lọi” của Dương Thu Hương với bản điện tử và bản in giấy, vấn đề trở nên ồn ào đáng lưu ý.

 

Tôi không muốn viết một điều gì về sử học, về người thật, việc thật, nếu không có đầy đủ tư liệu gốc, tư liệu khả tín trong tay. Những trang viết suy diễn, dựa vào những gì “nghe nói”, nghe kể”, chỉ tổ làm mất uy tín của người cầm bút mà thôi.

 

Trước đây, tôi đã từng đọc và suy ngẫm nhiều về một khổ thơ của Nguyễn Đình Thi, vốn được ông viết từ 1950, trước chiến thắng Điện Biên Phủ, và đã tái bản nhiều lần:

 

“Nơi đây sống một người tóc bạc

Người không con mà có triệu con

Nhân dân ta gọi Người là Bác

Cả đời Người là của nước non”

 

(Quê hương Việt Bắc1950)

 

Gần đây, tôi cũng tìm được trên một trang thông tin điện tử văn bản lá thư Hồ Chí Minh gửi bác sĩ Vũ Đình Tng, bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh (từ 1947 đến 1959). Xin lưu ý rằng, đây là lá thư gửi cho một bác sĩ y khoa, tín đồ Thiên Chúa giáo, nguyên giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ trước 1945 (lưu dung). Văn bản này chắc vẫn còn đươc lưu trữ;hiện nay, hẳn rất thuận lợi để giám định khoa học thực nghiệm lá thư ấy (bản thủ bút). là một văn bản thuộc loại tư liệu gốc, có giá trị khả tín cao nhất, chỉ sau những hồ sơ theo dõi sức khỏe của Hồ Chí Minh. Nhưng rất đáng tiếc là tôi chỉ được biết qua bản sao nguyên văn (1) hoặc lời dẫn như sau:

 

“Cuộc đời Bác còn có gì đặc biệt? Trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tng, Bác đã tự nhận là người không có gia đình và không có con nhưng “gia đình tôi là Việt Nam, con cái tôi là các thanh niên Việt Nam” (1).

 

Những thông tin đó không có gì mới. Như đã nói, toàn dân và thế giới đều biết. Vấn đề là từ chỗ chúng ta hoàn toàn tin tưởng, nay bỗng thấy nên kiểm tra lại sự tin tưởng của chúng ta, trước những cuốn sách chứa đựng những điều trái ngược, mặc dù chúng cũng cũ mèm nhưng gây nhiều chấn động bởi phương tiện truyền thông hiện đại.

 

Tôi lại tiếp tục tìm kiếm, và tìm thấy những bài sấm kí quá quen thuộc, đã khắc vào trí nhớ tôi từ gần 30 năm trước, hồi tôi còn dạy học ở một vùng rừng khai hoang. Chúng thuộc loại tư liệu dân gian, sấm kí (không thuộc loại sử liệu có giá trị khả tín cao) rất phổ biến ở Nghệ An và trên toàn quốc:

 

“Đụn Sơn phân giái (:giới)

Bò Đái thất thanh

Thủy đáo Lam Thành

Nam Đàn sinh (:sanh) Thánh”

 

(dịch nghĩa:

 

Núi Đụn nứt hai [: chia ranh giới]

Bò Đái mất tiếng

Nước lụt đến Lam Thành

Nam Đàn sinh ra thánh nhân).

 

Thử tìm hiểu lại bài sấm kí này, trước hết, về hiện tượng thiên nhiên được miêu tả.

 

Theo báo điện tử Vĩnh Phúc (bài của Mai Hiên): “Núi Đụn chính là núi Hùng Sơn ở phía tây huyện Nam Đàn. Năm 722, Mai Thúc Loan (tức là vua Mai Hắc Đế) xây dựng kho quân lương ở trên núi để chống giặc Đường nên gọi là Núi Đụn. Khe Bò Đái (tên gọi trong dân gian) chảy từ vách đá dựng đứng ở Rú Kia (còn gọi là Cơ Sơn), nước chảy ồ ồ và tung bọt trắng xóa. Trong một trận động đất, núi Đụn bị phân đôi, khe Bò Đái cũng bị rạn nứt, nước chảy nhưng bị thẩm thấu lan toả nhiều vào lòng đất đá nên không phát ra tiếng ồ ồ như trước” (2).

 

 

                                    

Xem bản đồ và thông tin ở cuối bài

 

 

Bây giờ, chúng ta thử ngẫm nghĩ các từ ngữ, hình ảnh.

 

Phân giái” còn có dị âmphân giới và ở một dị bảnphân giải. Chữ giới có âm khác là giái, giái hợp vần với chữ đái ở câu dưới hơn. Cònphân giải”, nghĩa đen là tách ra, tan rã, nhưng trong Hán văn cũng như trong tiếng Việt đều dùng với nghĩa là phân trần, giải thích, hòa giải; riêng trong ngành hóa học, dùng với nghĩa phân tích, hóa phân (3). “Thất thanh” (trong tiếng Việt) còn có nghĩa là tiếng kêu thảng thốt, kinh ngạc, đến mức kêu không thành tiếng, như trước một trận động đất dữ dội chẳng hạn.

 

Lam Thành là tên khác của núi Hùng Sơn. Nhiều dị bản không có câu thứ 3 này, nhưng theo tôi, câu thứ 3 này vừa hợp với thể thơ (4 câu), vừa miêu tả thêm về lưu lượng và dung lượng của nguồn nước lũ lụt phi thường.

 

Hình ảnh thơ nổi bật và tạo ngay ấn tượng cho người đọc là các biểu tượng âm dương (sông núi); dùng hình tượng núi non, suối khe để miêu tả sinh thực khí (linh vật linga, yoni; nõn [nõ], nường) của trời đất.

 

Địa danh “Bò Đái” (chữ Nôm) lại là cách so sánh ngầm (ẩn dụ) có tính cụ tượng, trực quan sinh động. Trong ngữ cảnh này, người đọc nhận ra hình tượng Bò thần Nandin [Nandi], biểu tượng của thần Hủy diệt và Sáng tạo Shiva (Isana): quyền lực và sinh nở, trong tôn giáo Bà La Môn (tiền thân của tôn giáo Hindu [Ấn Độ giáo]).

 

Cả cụm hình tượng ở 3 câu 1, 2 và 3 vừa thể hiện sự thiêng liêng (thánh hóa) vừa cho người đọc cảm nhận trần tục (thậm chí vật hóa), để đi đến câu kết (câu 4), thể hiện hiện tượng siêu phàm: “Nam Đàn sinh Thánh” — thánh nhân thường được hiểu là thuần khiết tuyệt đối (không vợ không chồng). Đây là một cách tôn vinh theo phong cách sấm kí, ngôn ngữ dân dã.

 

Nếu không chấp nhận cách giải mã nghệ thuật này, sẽ không hiểu vì sao lại sử dụng địa danh “Bò Đái” trong khi nó có tên khác trang nhã hơn: Vũ Nguyên; và cả câu 2 có thể là: “Nguồn Vũ” thất thanh hay Vũ bộc thất thanh.

 

Thử đọc cả câu 1, câu 2 theo cách đó:

 

“Hùng Sơn [Hùng Lĩnh?] phân cốc,

Vũ bộc thất thanh”

 

(Núi Hùng chia hang,

Thác Vũ mất tiếng).

 

“Bò Đái” rõ ràng có chức năng nghê thuật là một nhãn từ (nhãn tự: chữ mắt)! Xin nhớ là “Đại Nam nhất thống chí” đã ghi rõ là suối Vũ Nguyên còn có tên thường gọi là khe Bò Đái, nguyên văn trong sách: “Ngạn ngữ có câu: “Bò Đái thất thanh’” (4). Đó là một câu không phải thuộc loại đã bị thay đổi, sửa chữa.

 

Ngoài ra, việc không dùng địa danh Hùng Sơn (hay Hùng Lĩnh?) mà dùng địa danh núi Đụn (đụn thóc, gạo…: quân lương thời Mai Hắc Đế [gốc Chăm?]), trong ngữ cảnh nhất định này, còn gợi cho người đọc ý niệm ước muốn phồn thực, với nghĩa cụ thể là thực phẩm dồi dào (không chỉ sinh con đẻ cháu đông đúc mà còn no ấm).

 

Thánh nhân (thuần khiết) ra đời từ ước vọng ấm no, hạnh phúc, sum vầy. Phải là bậc thánh nhân (thuần khiết) như thế mới cứu được đất nước, lo được cho nhân dân như ước vọng ấy. Phải chăng đó là ý tưởng xuyên suốt và bao trùm bài tứ tuyệt tứ ngôn sm kí dân dã trên (vốn xuất hiện vài ba trăm năm trước đây)?

 

Là con người, cho dù là Phật, Chúa, Tiên, Thánh, tất cả đều được sinh ra từ sinh thực khí (linga [nõn / nõ] – yoni [nường], riêng yoni [nường] bao gồm cả hai bầu sữa của người mẹ). Vì vậy, khi thánh thiêng hóa, vật thiêng hóa sinh thực khí, đồng nhất hóa sinh thực khí với núi non, sông suối quê hương, là đã tôn vinh, tôn vinh trong niềm ước vọng, về một Thánh nhân sẽ ra đời, cứu dân, cứu nước hay tế độ chúng sinh.

 

Điểm cuối, xin minh định rằng, nguyên văn bài sấm kí dân dã trên đúng y như thế. Chính vì sững sờ bởi địa danh “Bò Đái”, được dùng như nhãn từ, nên tôi thử đưa ra một cách giải mã dựa trên tín ngưỡng tôn thờ sinh thực khí thánh thiêng hóa của người Chăm (theo đạo Bà La Môn [Hindu, Ấn Độ]) và ở nhiều vùng khác tại Bắc Bộ, Trung Bộ nước ta (hiện vẫn còn tín ngưỡng nõn nường thánh thiêng hóa hoặc đang ảnh hưởng như một nếp văn hóa vô thức). Đây chỉ là một cách giải mã thử nghiệm, nếu có gì sơ suất, xin niệm tình lượng thứ.

 

Tôi thấy mình nên ngừng lại, nhưng rồi không thể không tìm hiểu thêm.

 

Cũng từ báo điện tử Vĩnh Phúc: “Theo thuyết phong thuỷ trong dân gian ở vùng Nam Đàn vẫn truyền tụng câu: “Bạch tượng uyển hồ, Hồ trung nhất huyệt, nhất đại đế vương” (nghĩa là ở trên con voi trắng trong xứ Ao Hồ có một huyệt đạo, phát làm vua một đời)” (2).

 

Liệu tác giả Mai Hiên viết và chép đã đúng chưa? Tôi giở sách để tra cứu.

 

Theo “Đại Nam nhất thống chí” (tập 2, sđd.), ở Nghệ An có một gò đất gọi là Gò Hồ. Phải chăng Uyển Hồ chính là Gò Hồ này? Uyển, theo chữ Hán, là khu vườn hoặc là nơi có cây cối xanh tốt; Uyển Hồ là địa danh theo kết cấu tiếng Việt, như Thành Vinh, Thành Hà Nội, Thành Huế? Vì không có bản chữ Hán trên tay để mở từ điển tra lại mặt chữ, tôi nghĩ, chắc hẳn không phải “uyn”, mà là “uyên”: vực sâu; Uyên Hồ (kết cấu theo Hán ngữ): xứ Hồ có vực sâu (vì bài báo vừa dẫn đã đưa ra câu dịch nghĩa, trong đó có địa danh là Ao Hồ)? Nhưng chắc chắn hơn, “bạch tượng uyển hồ” (con voi trắng – hồ nước ở khu đất tươi tốt) chỉ là tên gọi một dạng thế đất tốt để làm huyệt mộ, theo thuật địa lí – phong thủy?  

 

Nhưng điều cần chú ý hơn là câu cuối: “Nhất đại đế vương”. Theo ngữ nghĩa, câu nói theo thuyết phong thủy này không nhằm nói đến chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ không theo lệ phong kiến cha truyền, con nối. Chắc hẳn câu sấm chỉ nói đến vị thánh thuần khiết (không vợ con) của Nam Đàn: Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Quay lại với bài sấm, như bài báo “Lời sấm đất Nam Đàn” trên Trang thông tin huyện Nam Đàn, Nghệ An (5), câu thứ 4 của bài sấm vừa được đề cập ở phần trên “Song Ngư thủy biển (:thiển)”, về sau được các nhà nho cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX sửa lại là “Nam Đàn sinh Thánh”.

 

Theo đó, chúng ta có thể thấy rằng, cả bài sấm đã được phân tích ở trên và câu nói theo thuyết phong thủy vừa bàn đến, đều nhắm đến Nguyễn Ái Quốc (chủ tịch Hồ Chí Minh về sau). Ngay Phan Bội Châu cũng nghĩ như vậy.

 

Thực ra, tôi không bao giờ mê tín vào loại sấm kí, phong thủy ở góc độ huyền bí. Nếu thuật phong thủy vẫn còn có giá trị là ở phương diện thẩm mĩ, nó có thể giúp ta chọn được cuộc đất đẹp, thì sấm kí còn có giá trị chăng là ở chỗ phán đoán được xu thế thời đại, gồm xu thế chính trị, kinh tế, quân sự, mà thường một người ưu thời mẫn thế có thể tổng hợp thông tin, đưa ra lời ước đoán khá chính xác (tuyệt nhiên không có chút nào huyền bí trong đó). Trong trường hợp bài sấm cũng như câu nói theo thuyết phong thủy trên, chúng ta còn rút ra được một lượng thông tin là sự ghi nhận thực tại nhãn tiền chứa đựng trong chúng nữa. Nói giản đơn hơn, người ta thấy Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thuần khiết (không vợ không con) nên người ta sửa chữa sấm kí, câu nói theo thuyết phong thủy lại cho phù hợp. Thế thôi. Ngoài ra, cũng có người dựa vào sự đồng âm Hán – Việt, cho rằng sau khi ông Nguyễn Sinh Khiêm cải táng di cốt mẹ là bà Hoàng Thị Loan ở xứ Gò Hồ này, nên Nguyễn Ái Quốc (già Thu) lấy họ Hồ; còn tên ghép Chí Minh là để nhớ ơn Hầu Chí Minh, khi bị giam tù tại Trung Quốc (1942-1943); nhưng có thể đây chỉ là sự suy diễn hoặc ngẫu nhiên, tuy hợp lí hơn giả thuyết nguyên gốc họ Hồ làng Quỳnh Đôi trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng.

 

Ở đề mục này, tôi muốn khai thác bài sấm kí và câu nói theo thuyết phong thủy trên về phương diện ghi nhận sự thật về Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh theo cách sửa chữa câu chữ cho phù hợp như vừa trình bày.

 

Rốt lại, với tư liệu thuộc loại cần tra cứu kĩ, vốn có trong trí nhớ và trên mạng toàn cầu, đáng tin cậy nhất vẫn là hai tư liệu dưới đây:

 

1) Tư liệu gốc: Thư Hồ Chí Minh gửi bác sĩ Vũ Đình Tng (1). Cần tìm ra bản gốc ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và tiến hành giám định thực nghiệm văn bản này.

 

2) Tư liệu thứ cấp: Khổ thơ Nguyễn Đình Thi, viết năm 1950, đã xuất bản và tái bản nhiều lần.

 

Tìm hiểu (không thể nói là nghiên cứu) với những tư liệu như vậy, thật không yên tâm chút nào. Thế mà có người dám viết bừa đến mấy trăm trang sách, không viện dẫn được một nguồn tư liệu nào! Thật đáng sợ.

 

 

2.

 

Nhật kí ngày 10-02 HB9 (2009):

 

Sau Tết Nguyên đán vừa rồi, nhân đọc một mẩu tin về Lễ hội Vua đen Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan), tôi lại giở sách để suy ngẫm thêm và suy ngẫm trên cơ sở tư liệu chứ không phải suy diễn kiểu bá vơ như Dương Thu Hương hay ghi chép sơ khởi những “nghe nói”, “nghe kể” của GS. Nguyễn Đăng Mạnh.

 

“Đại Việt sử kí toàn thư” ghi:

 

“Nhâm tuất, [722], (Đường, Huyền Tông, Long Cơ, Khai Nguyên năm thứ 10). [...] Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc đế, bên ngoài liên kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn” (6).

 

“Đại Nam nhất thống chí” do Quốc sử quán triều Nguyễn ghi nhận:

 

“Đền Mai Hắc đế: ở địa phận xã Hương Lãm, huyện Nam Đường. Thần họ Mai, tên Thúc Loan, mặt sắt, mình đen, hình dáng hùng vĩ, nhiều người tin tưởng vui theo. Bấy giờ nước ta thuộc nhà Đường, khoảng niên hiệu Khai Nguyên, Quang Sở Khách làm đô hộ An Nam, chính lệnh tham bạo, dân không chịu nổi, nhiều người phải trốn vào rừng làm việc trộm cướp. Thúc Loan bèn dấy quân ở Hoan Châu, những người trộm cướp ở các quận đều hàng phục, bèn liên kết với các nước Lâm Ấp và Chân Lạp, số quân có đến 30 vạn, chiếm cứ Giao Châu mà xưng đế, đóng ở thành Vạn Yên (Sa Nam). Nhà Đường sai nội thị là Dương Tư Húc đem quân sang đánh, vua bèn rút quân đến đóng ở núi Hùng Sơn. Khi mất, táng ở phía nam núi đất, người địa phương lập đền thờ” (7).

 

Một lần nữa, tôi thử tìm kiếm trên mạng toàn cầu qua Google:

 

Đây rồi, báo điện tử Sài Gòn Giải Phóng: Người đọc Lương Thị Thu Cúc (Bình Định) đặt câu hỏi (trích): Tại sao có các địa danh nôm na như: khe Bò Đái?”.

 

Nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa trả lời: Một trong những đặc điểm của các địa danh do người bình dân đặt là tính nguyên sơ, dân dã.

 

[…]

 

Còn Bò Đái là tên khe núi tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, được ghi nhận trong Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002). Bò Đái là một địa danh thuần Việt nhưng gốc Tày, Nùng, nguyên dạng là Bó Đảy. Bó: nguồn nước, Đảy: nứa tép. Bó Đảy là nguồn nước có nhiều cây nứa tép (Hoàng Văn Ma, Địa danh vùng Tày Nùng trong Những vấn đề ngôn ngữ học, Viện Ngôn ngữ học xuất bản, 2002, tr.202-213).

 

Như vậy, vì Bó Đảy gần âm với Bò Đái, người Kinh đã dùng từ tổ có sẵn trong tiếng Việt đ phiên âm(8).

 

Tôi không đồng ý với nội dung trả lời này.

 

Địa danh phần lớn đều có dấu vết văn hóa, gồm cả văn hóa vô thức. Cũng cần lưu ý là nhiều nền văn hóa, nguồn văn hóa đan xen, chồng lớp lên nhau (Việt cổ – Tày Nùng – Chăm – Kh’Mer…). Cơ sở cổ sử thời Vua đen Mai Hắc Đế cho thấy là vùng đất Nam Đàn (Nghệ An) có sự giao lưu văn hóa giữa Việt cổ và Lâm Ấp (Chăm-pa), Chân Lạp (Kh’Mer).

 

Dẫu sao, sự ổn định lâu đời của địa danh Bò Đái, không những trên cửa miệng người dân mà cả trong sử sách, cũng là sự lựa chọn của người Việt địa phương.

 

Phải chăng sự lựa chọn này cũng do văn hóa vô thức (nõn nường, linga – yoni, Shiva – Bò thần Nandin) chi phối? Hoặc giả, nguyên do trực tiếp chỉ là ấn tượng trực quan sinh động của khe nước chảy mạnh từ vách núi, trông như con bò đang đứng đái mà thôi, chứ chẳng phải có nguồn gốc địa danh Tày Nùng gì cả.

 

Vấn đề là ngữ nghĩa của địa danh thuần Việt Bò Đái và hình tượng so sánh con bò đang đứng đái, trong một bài sấm kí nghiêm túc, nói về sự đản sanh của một vị thánh. Thật sự không ai dám đùa bỡn với sự đản sanh đó. Đành rằng có một số địa danh có thể được đặt ra với sự tinh nghịch dân dã, nhưng khi đưa vào bài sấm kí nghiêm túc mà không dùng tên chữ “Vũ Nguyên” (Nguồn Vũ), lại dùng “Bò Đái”, hẳn có một dụng ý nhất định.

 

Nội dung cả bài sấm kí 4 câu là nói đến sự rung chuyển long trời lở đất của thế cuộc, là cơn trở dạ dữ dội của non sông đất nước Nam Đàn và của nguyên khí âm – dương vũ trụ khi sinh nở ra vị thánh nhân. Toàn cảnh gợi đến Shiva (hiện thân là Bò thần Nandin), vị thần Hủy Diệt và Sáng Tạo.

 

Nhưng hiện tượng long trời lở đất, cơn trở dạ của non sông đất nước Nam Đàn và của nguyên khí âm – dương vũ trụ ấy đã diễn ra từ vài ba trăm năm trước ngày Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh) được sinh ra đời vào năm 1890. Cuốn “Nghệ An ký” của Hoàng giáp Bùi Dương Lịch, người Hà Tĩnh, viết vào cuối thế kỷ 18 (5), sách “Đại Nam nhất thống chí” (4) và bài báo “Lời sấm đất Nam Đàn” trên Trang thông tin huyện Nam Đàn, Nghệ An (5) cho chúng ta biết điều đó. Nguyên văn từ bài báo: Cách ngày nay khoảng trên dưới 300 năm, núi bỗng nhiên nứt ra làm đôi, vết nứt dài đến mấy trăm mét và sâu đến dăm, bảy chục métkhe Bò Đái mất tiếng đã từ lâu, cách ngày nay ít nhất cũng trên 200 năm. Bài báo “Lời sấm đất Nam Đàn” cho biết thêm: “Còn 2 câu sau “Thủy đáo Lam Thành, Song Ngư thủy thiển” thì cũng đã rõ. Vào thời Tự Đức, nước lũ sông Lam đã cuốn mất làng Triều Khẩu thuộc huyện Hưng Nguyên và nước sông Lam đã chảy đến chân núi Lam Thành (rú Thành), còn 2 đảo Ngư là hòn Son và hòn Mực ở Cửa Hội thì nước ở đây ngày một cạn dần, bãi bồi nổi lên trước ngày một lớn và rộng ra” (9).

 

Theo đó, người đọc chúng ta nhận thấy từ thời điểm hiện tượng long trời lở đất, cơn trở dạ của non sông đất nước và của nguyên khí âm – dương vũ trụ ấy đã diễn ra cho đến khi Nguyễn Sinh Cung chào đời cũng khoảng 200 năm (lúc núi Đụn nứt đôi), khoảng 100 năm (lúc khe Bò Đái tắt tiếng), khoảng 50 năm (trận bão lụt khủng khiếp). Đây là thời gian sấm kí, huyền thoại nhưng cũng là thời gian lịch sử. Nếu lấy 1890 trừ đi 200 hoặc 100 hoặc 50, chúng ta sẽ áng chừng được thời điểm diễn ra hiện tượng long trời lở đất của thế cuộc, cơn trở dạ của non sông đất nước, nguyên khí vũ trụ khởi đầu từ cuối thế kỉ mười bảy (XVII), cuối thế kỉ mười tám (XVIII) và giữa thế kỉ mười chín (XIX)…

 

Đó là các thời đoạn nào trong lịch sử nước ta và thế giới? Ở nước ta, ấy là thời đoạn diễn ra Trịnh – Nguyễn phân tranh và phong trào Tây Sơn, đồng thời cũng là quãng lịch sử Thiên Chúa giáo và thực dân Pháp thực sự can dự vào diễn biến cùng những biến cố trên đất nước, đặc biệt là sự phân liệt “lương – giáo”, mầm mống của vết thương Bến Hải chia cắt Tổ quốc về sau… Trên thế giới, phải chăng đó là thời đoạn chủ nghĩa thực dân Phương Tây đã và đang tiến hành “truyền đạo” kết hợp với “tìm đất” như nhận định của Trần Trọng Kim, tác giả “Việt Nam sử lược”.

 

Thời gian cưu mang, trở dạ rồi sinh nở ra một thánh nhân, theo sấm kí – huyền thoại – lịch sử là thế đó.

 

Bây giờ, chúng ta quay lại với hình tượng Shiva (hiện thân là Bò thần Nandin), vị thần Hủy Diệt và Sáng Tạo.

 

Vấn đề khốc liệt từ cách giải mã này là đưa đến sự mâu thuẫn văn hóa trong tiếp nhận của người đọc. Có biết bao nhiêu phong tục, tập quán, nếu người thuộc nền văn hóa X, không thể hiểu nổi văn hóa Z; và ngược lại. Nhưng nếu chúng ta thấy được linga – yoni, nõn – nường vốn là biểu tượng nguyên sơ, hồn nhiên tối cổ đã được biểu trưng hóa thành âm – dương (Kinh Dịch) rồi trừu tượng hóa thành quy luật mâu thuẫn – thống nhất (biện chứng pháp), sẽ hóa giải được sự xung khắc khốc liệt vừa nói, và tìm ra mẫu số chung của nhân loại. Mẫu số chung của nhân loại còn thể hiện ở tín ngưỡng vật tổ (totem): Bò thần (Ấn), Chó ngao (Anh), Gà trống (Pháp), Chim Lạc, Rồng – Tiên (Việt – Kinh)…

 

Nếu với nhãn quan văn hóa khác, chúng ta còn thấy trong thiền học cũng có những công án có cách diễn đạt phá chấp khốc liệt như vậy, chẳng hạn, khi được hỏi “Phật tính” là gì, câu trả lời là “càn thỉ quyết” (que cứt khô) (10).

 

Tuy vậy, tôi vẫn trích dẫn câu trả lời của nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa trên báo điện tử SGGP. (30/08/2006) để tham khảo thêm, dè chừng sự giải mã khiên cưỡng bài sấm kí có địa danh ấy.

 

Nhân đây, cũng xin nói thêm ít dòng về “Nam Đàn sinh (sanh) Thánh”. Dẫu sao, bài sấm kí này cũng mang phong cách dân gian, xuất hiện và định hình trong bối cảnh tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng chiếm ưu thế.

 

Hồ Chí Minh (Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc) lại là một lãnh tụ cộng sản, cho dù là một lãnh tụ cộng sản Việt Nam, Châu Á, vốn xuất thân từ một gia đình Nho học (”kính quỷ thần nhi viễn chi”: tôn kính quỷ thần nhưng nên xa lánh quỷ thần). Là người cộng sản, Hồ Chí Minh dĩ nhiên phê phán “chủ nghĩa khổ hạnh kiểu thầy tu” (cụm từ như một thuật ngữ), mà đề cao lối sống bình thường, có vợ có chồng nhưng mẫu mực. Là người xuất thân từ gia đình nhà nho, chắc hẳn đối với Hồ Chí Minh việc có con nối dõi tông đường là không thể xem nhẹ (“bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”: tội bất hiếu có ba loại, mà không có con nối dõi là tội lớn nhất) (11). Truyền thống lịch sử Việt Nam cũng không có minh chủ, lãnh tụ nào không vợ con (ngoại trừ Phạm Sư Ôn, một tu sĩ Phật giáo thời cuối Trần, đầu Hồ). Nhiều lãnh tụ cộng sản khác cũng vào sinh ra tử nhưng đều lập gia đình riêng, mặc dù có thể thời gian sống với vợ con không nhiều. Chính Hồ Chí Minh cũng tự nhận khuyết điểm của mình là không lấy vợ (và khuyết điểm thứ hai là nghiện thuốc lá), có nghĩa là Hồ Chí Minh không bao giờ đề cao lối sống trọn đời độc thân. Khi xem việc không lấy vợ là khuyết điểm thứ nhất của đời mình, Hồ Chí Minh tự biết bản thân Người, riêng về khía cạnh này, không phải là điển hình lí tưởng (hình tượng chuẩn mẫu) theo nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa và Nho giáo.

 

Từ những chứng cứ đó, chúng ta nên hiểu thánh nhân ở bài sấm kí trên là thánh nhân bẩm sinh.

 

Cuối cùng, tôi tự tạm thời kết luận với một sự yên tâm đáng kể:

 

ANH HÙNG DÂN TỘC HỒ CHÍ MINH CÓ MỘT ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ GIẢN DỊ VỚI THỂ TRẠNG HIỀN NHÂN THUẦN KHIẾT BẨM SINH, KHÔNG THỂ NGHI NGỜ.

 

Đó là điều tôi muốn thể hiện ở những trang nhật kí này. Dẫu sao, đây chưa phải là một bài nghiên cứu như những bài thuộc thể loại này, tôi từng viết.

 

 

 Trần Xuân An

15: — 16:31, 10-02 HB9

 

(Có sửa chữa một ít chữ, bổ sung vài dòng và viết thêm đoạn cuối, : 8:20 — 9:19& 15:40, 11-02 HB9; 8:10, 12-02 HB9; 8:46, 13-02 HB9 )

Viết nhân ngày Lễ hội Vua đen Mai Hắc Đế tại Nam Đàn, Nghệ An năm nay, Rằm tháng Giêng, Kỉ sửu HB9.

 

 

SÁU (06) CỨ LIỆU CHÍNH CỦA BÀI VIẾT NÀY:

         1. “Tôi không có gia đình, cũng không có con cái”

         2. Người không con mà có triệu con”

         3. “Nam Đàn sinh Thánh”

         4. “Nhất đại đế vương”

         5. Hồ Chí Minh thừa nhận việc không có vợ con là khuyết điểm thứ nhất của cuộc đời Người. Nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa và Nho giáo không đề cao “chủ nghĩa độc thân”, “chủ nghĩa khổ hạnh kiểu thầy tu”.

         6. Anh chị ruột của Bác Hồ (bà Nguyễn Thị Thanh, ông Nguyễn Sinh Khiêm) cũng không có chồng, có vợ và con cháu ruột. Đó là sự thật tuyệt đối đến mức 100%.

TRONG ĐÓ, BỐN (04) CỨ LIỆU 1, 2, 5 & 6 LÀ CĂN BẢN

  

 

_________________________

 

(1) Nguyên văn lá thư được viết với ngôn từ ngoại giao, tôn giáo vận (gọi bác sĩ Vũ Đình Tụng bằng “ngài”…). Tôi nhấn mạnh câu cần lưu ý:

 

Gửi bác sĩ Vũ Ðình Tụng,

 

Thưa ngài,

 

Tôi được báo cáo rằng: Con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ Quốc.

 

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

 

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ Quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

 

Họ là con thảo của Ðức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ Quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Ðồng bào và Tổ Quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

 

Ngài đã đem món của quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ Quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

 

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn ngài, và gửi ngài lời chào thân ái và quyết thắng.

 

Tháng 1 năm 1947

Hồ Chí Minh

 

Nguồn: http : // hodovietnam . vn / index. php? option= com_ content & task= view&id= 474& Ite mid= 30 & các nguồn khác: Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Lãnh đạo – net, Tuổi Trẻ online…

http: // fpe. hnue .edu. vn / index. php? Showpost = 1190

http : // lanhdao. net / vn/ hautruong / chinhkhachvn / 120707 / index. aspx

 

(2) Nguồn: tác giả Mai Hiên, bài “Lịch sử và huyền thoại mộ bà Hoàng Thị Loan”, báo Vĩnh Phúc, 07:41:13, 15/05/2008.

http : // baovinhphuc . com . vn / front-end / index. Php ?type= ARTICLE & fuseaction = DISPLAY_ SINGLE_ ARTICLE & article_ id= 6790& website_id =1&channe l_id= 401 & parent_ channel _id= 412 & hide_ channel =0

Đại Nam nhất thống chí, bản dịch, tập 2, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 156 và 158 xác định: núi Hùng Lĩnh chính là nơi có vệ Vạn An, còn dấu vết lũy cũ của Mai Hắc Đế và miếu thờ ông, và rào Gang (Găng?) được ghi là sông Cương; nên chắc chắn Hùng Lĩnh chính là núi Đụn. Cũng sách này, ghi rõ núi Hùng Sơn chính là núi Lam Thành hay còn có tên khác là núi Đồng Trụ, núi Tuyên Nghĩa, núi Nghĩa Liệt.

 

Đại Nam nhất thống chí, bản dịch, tập 2, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr.157:

 

Núi Đại Huệ: ở cách huyện Nam Đường [Nam Đàn – TXA. chua thêm] 54 dặm về phía đông, hình núi như quả chuông úp, trên đỉnh có động Thăng Thiên, trong động có chùa Đại Tuệ, bên tả có suối, bên hữu có giếng, sườn núi cây chè xanh tốt, hồ Nộn và sông Lam bao quanh, thuyền ghe xuôi ngược trong khoảng sáng sớm mù chiều, thật là một danh thắng trong tỉnh Nghệ An”.

 

Đại Nam nhất thống chí, bản dịch, tập 2, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr.165-166:

 

 “Gò Hồ: ở cách huyện Nam Đường [Nam Đàn – TXA. chua thêm] 56 dặm về phía đông, phía tây liền với các núi Kim Bồn và Xuân Lâm, phía nam liền với các núi Hùng Lĩnh [núi Đụn – TXA. chua thêm] và Vân Đồn, ngoài núi thì sông Lam làm hào tự nhiên; phía bắc liền với các núi Thanh Thủy, ngoài núi khe suối quanh co. Tấn quốc nhà Lê là Nguyễn Cảnh Hoan đóng quân ở đây để chống cự với tướng Mạc là Nguyễn Quyện, dấu vết lũy cũ vẫn còn.

 

Lưu ý 2 câu in đậm: “Núi Đại Huệ: ở cách huyện Nam Đường [Nam Đàn – TXA. chua thêm] 54 dặm về phía đông…” Gò Hồ: ở cách huyện Nam Đường [Nam Đàn – TXA. chua thêm] 56 dặm về phía đông…”. Như vậy, Núi Đại Huệ và Gò Hồ rất gần nhau (cách nhau 02 dặm ta, tức là 425 m x 02 = 850 m, chưa tới một cây số ngàn [01 km]) hoặc cùng thuộc một vùng. Liệu núi Đại Huệ và Gò Hồ đều thuộc xứ Ao Hồ chăng?

 

(3) Đào Duy Anh, “Từ điển Hán – Việt”, Nxb. KHXH. tái bản, 2001, tr. 105.

 

(4) Quốc sử quán triều Nguyễn, ĐNNTC., tập 2, bản dịch Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 171: Suối Vũ Nguyên: tuc gọi là khe Bò Đái, đổ xuống từ ngọn Cơ Sơn trong dãy núi Thiên Nhận [Nhẫn – TXA. chua thêm] thuộc huyện Thanh Chương, ở đây vách đá cheo leo hàng vài ba mươi trượng, rồi chảy vào sông Lam; dưới suối có vực; tiếng nước xối xuống nghe như tiếng sấm; ít lâu nay đất cát bồi lấp, vực thành bãi phẳng, không nghe tiếng suối nữa. Ngạn ngữ có câu:’Bò Đái thất thanh’ là thế”.

 

(5) Không thấy đề tên tác giả bài báo (Google search):

 

http : // www. Namdan .gov. vn / Chiti%E1 %BA %Bfttint %E1 %BB%A9 c/tabid /10852 /ArticleId/ 406 /tid/10841 /Default .aspx

 

(6) Trích nguyên văn từ “Đại Việt sử kí toàn thư”, bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003., tr. 269 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển] V, [tờ] 4b.

 

(7) Trích nguyên văn: Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 2, bản dịch của Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 188 – 189.

 

(8) Nguồn: Sài Gòn Giải Phóng: Cập nhật ngày 30/08/2006 lúc 11:20′ (GMT+7).

 

http : // www. sggp. org. vn / bandocdatcauhoi / 2006 / 8 / 59058 /

 

(9) Về câu sấm thứ 3, tham khảo thêm vào triều Thiệu Trị (chứ không phải triều Tự Đức): “Đại Nam thực lục”, kỉ III (Thiệu Trị), ghi nhận vào năm 1842: “Nghệ An có bão lớn (bão nổi từ canh 2 đêm, đến sáng rõ mới dứt). Nước biển dâng lên quá mức thường 13 – 14 thước [ta]. Có 40.753 hộ nhà cửa bị đổ nát, 696 chiếc thuyền buôn và thuyền đánh cá bị chìm đắm, 5.240 người dân bị chết bẹp hoặc chết đuối. Đặc biệt những dân ven biển ở các hạt Đông Thành, An Thành và Chân Lộc càng bị hại nhiều hơn (hạt An Thành có thôn hơn 300 người, chỉ còn sống hơn 10 người) (ĐNTL., kỉ III, tập sáu, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Giáo Dục tái bản, 2007, tr. 397). Năm 1842 cũng là thời điểm thực dân Pháp bắt đầu gây hấn để thực hiện ý định xâm lược nước ta, mặc dù đến 1847 chúng mới nổ súng gây hấn, rồi 1858 mới thực sự đổ quân viễn chinh, tiến hành xâm lược.   

 

(10) Vô vị chân nhân: càn thỉ quyết = Chân-nhân-không-ngôi-thứ (bổn lai diện mục, Phật tính) que hay cọc còn dính phân khô. Đây là lời của thiền sư Lâm Tế, một trong các vị tổ của Thiền tông. Xem: Daisetz Teitaro Suzuki, “Thiền luận”, Trúc Thiên dịch, 3 quyền, quyển thượng, Nxb. TP.HCM., 1992, tr. 24.

 

Đây chỉ là một cách nói trong các công án thiền, lúc thiền sư gợi ý, truy vấn cho các thiền sinh giác ngộ, theo tôn chỉ “trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật”. Nếu ở bên ngoài văn cảnh và khung cảnh ấy, chắc hẳn là cách nói loạn ngôn, báng bổ. Nói chung, mỗi hình tượng, ngôn từ đều phải được hiểu trong một không-thời-gian và ngữ cảnh thuộc một văn bản cụ thể.

 

Trong tập thơ “Nhật ký trong tù”, Hồ Chí Minh cũng đã có lần gây “sốc” cho người đọc bằng thủ pháp nghệ thuật dung tục hóa: dung tục hóa khát vọng tự do, một giá trị thiêng liêng, cao quý nhất, để làm nổi rõ một mặt khác của tự do, ấy là tính cụ thể, bình thường, thậm chí là tầm thường, dơ bẩn nhưng vô cùng cần thiết: “đi đồng” (đi tiêu). Qua đó, Hồ Chí Minh cũng không tự thần thánh hóa mình:

 

Một hữu tự do, chân thống khổ

Xuất cung dã bị nhân chế tài

Khai lung chi thời đỗ bất thống

Đỗ thống chi thời lung bất khai

(Hạn chế)

 

Đau khổ chi bằng mất tự do

Đến buồn đi ỉa cũng không cho

Cửa tù khi mở không đau bụng

Đau bụng lại không mở cửa tù.

(Bị hạn chế –  Nam Trân dịch

 

 

(11) Anh chị ruột của Bác Hồ (bà Nguyễn Thị Thanh, ông Nguyễn Sinh Khiêm) cũng không có chồng, có vợ và con cháu ruột. Đó là sự thật tuyệt đối đến mức 100%. Theo suy luận của tôi, chắc hẳn hai người này cũng là thánh nhân thuần khiết bẩm sinh. Đây là một chứng cứ bổ trợ để chứng minh cho thể trạng thánh nhân thuần khiết bẩm sinh của Bác Hồ. Ở đây, tôi cũng chỉ nhấn mạnh đến yếu tố gien thể chất, không đề cập đến tác nhân môi trường xã hội trong việc hình thành tính cách, tư tưởng.

 

TXA.

_____________________

 

Phụ đính

MỘT ÍT THÔNG TIN ĐỂ XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ ĐỊA LÍ CỦA NÚI ĐỤN, KHE BÒ ĐÁI

& NÚI LAM THÀNH

(ĐỐI CHIẾU VỚI 3 BẢN ĐỒ)

 

“… Núi Đụn nằm trong phạm vi 2 xã Đông Liệt (nay là xã Nam Thái) và Khả Lãm (nay là xã Nam Thượng), ở phía tây – bắc huyện, cạnh đường quốc lộ 46 Vinh – Đô lương, cách huyện lỵ Nam Đàn khoảng 3 km. Núi cao khoảng 300m, sườn núi dốc thoai thoải, cây cối xưa kia nhiều, nay không còn mấy. Núi có rào Gang vòng ở phía Bắc và sông Lam vòng ở phía Nam…”.

“… Khe Bò Đái, còn gọi là khe Ồ Ồ, hay suối Võ Nguyên chảy từ vách đá dựng đứng ở rú Kia (Cơ Sơn) ở làng Chi Cơ (kẻ Kia) thuộc xã Võ Nguyên xuống trên một chiều dài vài chục trượng, rộng trên vài chục thước ta, nước chảy từ trên núi dốc xuống đất, tung tóe trắng xóa, trông giống con bò cái đang đái, tiếng khe chảy ồ ồ, ngoài mươi dặm còn nghe thấy. Ngày nay khe Bò Đái vẫn còn chảy, nhưng tiếng không còn vang vọng ra xa nữa; tiếng vang vọng mất đi từ khi núi Đụn nứt đôi, hình thành một cái vực thẳm ở giữa…”.

(“Lời sấm đất Nam Đàn”, Trang thông tin huyện Nam Đàn, Nghệ An)

 

 

Bản đồ huyện Nam Đàn, Nghệ An

 Bấm vào đây: Núi Đụn & Khe Bò Đái (xã Nam Thái và xã Nam Thượng)  

 Xứ Ao Hồ: Động Tranh thấp, thuộc núi Đại Huệ (xã Nam Giang)

Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ trực tuyến

 

“… Trở về với Nam Đàn yêu thương, theo núi Đụn, dòng Lam, ta sẽ về với Nam Thượng, đây là một xã còn nhiều khó khăn vất vả của huyện Nam Đàn. Trước kia xã chia làm hai thôn, đó là thôn Chi Cơ có tên Nôm là Kẻ Kia thuộc xã Võ Nguyên (nay là HTX. Đại Đồng) với 340 hộ, 1800 khẩu và thôn Khả Lãm thuộc xã Hương Lãm, tổng Xuân Liễu (nay là HTX. Hùng Sơn) với số hộ là 145, 750 khẩu. Hai thôn ở ven bờ sông Lam, đối diện qua suối Vũ Nguyên, tục gọi là khe Bò Đái. Tuy đất không rộng, người không đông (cả xã có 535 hộ, 2600 nhân khẩu), mặc dù còn nhiều khó khăn song Nam Thượng luôn tự hào với truyền thống hiếu học, giàu nghĩa khí, trọng nghĩa nhân…”.

“… do dòng sông ngăn cách nên trường phải học ở hai phân hiệu Đại Đồng và Hùng Sơn…”.

(Đinh Xuân Khang

http : // giaoan. violet. vn / uploads / resources / 508 / 108448 / preview. swf

Trích báo cáo truyền thống “Kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Trường PTCS. Nam Thượng [9-1947 – 9-2007] và khánh thành trường cao tầng”)

 

 

Bản đồ huyện Hưng Nguyên, Nghệ An

 

Bấm vào đây: Núi Lam Thành (rú Thành) thuộc xã Hưng Lam và xã Hưng Phú

 

Nguồn ảnh: Du lịch đất Nghệ trực tuyến

 

Núi Lam Thành (còn gọi là núi Hùng Sơn, núi Nghĩa Liệt, Đồng Trụ Sơn) thuộc địa phận hai xã Hưng Phú và Hưng Lam (Hưng Nguyên, Nghệ An), nhân dân địa phương thường gọi rú Thành – là ngọn núi cao nằm sát bên bờ sông Lam. Trước đây trên núi có nhiều cây xanh, động thực vật sinh sống. Dưới chân núi là xóm làng trù phú, đồng ruộng màu mỡ. Tất cả hoà quyện vào nhau như một bức tranh thuỷ mặc.  

(Linh Nga, “Di tích núi Lam Thành…”, Trang thông tin điện tử TP.Vinh, 22/11/2008 

http : // www. vinhcity. gov. vn / news / ?url = detail &id = 11267 & language = 1 )

 

THAM KHẢO THÊM: XỨ AO HỒ [GÒ HỒ (?)]

 “… Có một điều ngẫu nhiên đã diễn ra trong lịch sử là tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1942) khi hài cốt bà Hoàng Thị Loan được đưa lên cát táng trên núi Động Tranh thấp thuộc dãy núi Đại Huệ ở xã Hữu Biệt (nay là Nam Giang) huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, thì tháng 8 năm 1942, ông già Thu ở căn cứ cách mạng, tỉnh Cao Bằng lần đầu tiên lấy tên là Hồ Chí Minh rồi đi sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam và lực lượng của đồng minh. Và từ đó Hồ Chí Minh là biểu tượng vô cùng cao đẹp, là lãnh tụ tối cao và anh linh của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất tổ quốc, xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, văn minh, cường thịnh…”.

(Trần Minh Siêu, “Huyền thoại huyệt đạo bà Hoàng Thị Loan trên núi Động Tranh”, (Chương II), Nhà xuất bản Nghệ An, 2003). Google search.

 “… Tháng 8/1941, Nguyễn Sinh Khiêm thoát khỏi nhà tù đế quốc đã đi khắp các dãy núi thuộc hai huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên tìm nơi cát táng mẹ. Cuối cùng ông quyết định chọn mỏm núi Động Tranh thấp là nơi hội tụ đủ các tiêu chí về linh địa làm huyệt đạo. Tháng 3/1942, ông dẫn hai người cháu thân tín lên sườn núi Động Tranh thấp đào 9 cái huyệt ở những nơi ông đã đánh dấu. Ông dặn là khi đào xuống gặp phải hòn đá lớn thì dừng lại. Một đêm khuya ông bí mật mang hài cốt mẹ từ vườn nhà làng Sen đến Động Tranh thấp thắp hương khấn vái xin phép thổ thần xứ Ao Hồ rồi đặt hài cốt mẹ vào một cái huyệt và lấp lại. Sau đó ông tiếp tục lấp bằng phẳng số huyệt đã đào. Vì vậy mọi người, kể cả hai người cháu thân tín cũng không biết ông táng mẹ ở đâu…”.

(Mai Hiên, bài đã dẫn, báo điện tử Vĩnh Phúc)

 

  

Vị trí huyện Nam Đàn: số 6, huyện Hưng Nguyên: số 7

Nguồn ảnh: Web Yeu-xu-nghe — Google search

 

Lưu ý: Về địa danh và địa giới, qua nhiều thời kì, có ít nhiều thay đổi và không cố định. Dẫu sao những tư liệu về địa lí trên đây (chuẩn xác và chưa được chuẩn xác) cũng cho chúng ta một ý niệm tương đối để hình dung. BÀI VIẾT NÀY KHÔNG ĐI SÂU VÀO LĨNH VỰC ĐỊA LÍ.

 

TP.HCM., ngày 18 — 22 — 25-02 HB9 ( 2009 ) — Trần Xuân An.

 

24 — 25-02 HB9 ( 2009 )

 

Cũng có thể bấm vào dòng LINK-HÓA này để xem

 

 

Đăng trong Thuc trang doc than cua Bac Ho | Tagged: | 12 phản hồi »

Phe phan nha bao Nguyen Hoan

Đăng bởi txawriter on Tháng Một 17, 2009

hidden hit counter

PHÊ PHÁN NHÀ BÁO NGUYỄN HOÀN (Báo Quảng Trị) (1)

Tôi vừa nhận được một thông báo từ bạn bè: nhà báo Nguyễn Hoàn (Báo Quảng Trị), lần thứ 2, viết báo một cách thiếu công tâm (liên quan đến đề tài chính mà tôi nghiên cứu). Bài báo mới đây nhất của Nguyễn Hoàn, viết về sự kiện giải oan cho nhân vật Nguyễn Văn Tường (1824-1886), đăng trên tạp chí điện tử Văn Chương Việt (hình như do một nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo chủ trương, thực hiện), ngày 14-01- ”08.

Nội dung bài báo, theo bạn bè mách bảo, tôi đã tìm đọc, đúng là Nguyễn Hoàn cướp đoạt công sức và trí tuệ của tôi và nhiều nhà sử học khác để đề cao những kẻ có thế lực và tiền bạc.

Đây là một việc làm có hệ thống mà nhà báo Nguyễn Hoàn chỉ là tay sai cho thế lực chính trị nào đó trong nước hoặc bị mua chuộc bởi tiền bạc của những người ở nước ngoài. Đó cũng là âm mưu quấy rối, làm phân trí bản thân tôi.

Xin hãy xem những tập kỉ yếu hội nghị, hội thảo khoa học về Nguyễn Văn Tường thì rõ:

1) Kỉ yếu hội nghị về đề tài “Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường (1824-1886)”, ĐHSP. TP.HCM., 1996

2) Kỉ yếu hội thảo khoa học về đề tài “Nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1884-1886)”, Hội KHLS. TT-Huế, 2002 (đã xuất bản dưới dạng sách in: PGS.TS. Đỗ Bang chủ biên, “Nguyễn Văn Tường (1824-1886), cuộc đời và lời giải”, Nxb. VHTT., 2006)

Đọc kĩ những bài tham luận trong 2 kỉ yếu đó, sẽ thấy ai là người giải quyết rốt ráo nhất về Nguyễn Văn Tường (1824-1886).

Tôi khẳng định là tôi không cần đến tư liệu chưa được chứng thực ở Pháp mà Từ Vân và bà Oanh tìm kiếm, đem về nước vào năm 2003, 2004 (sau khi tôi đã hoàn tất cả bốn đầu sách), mặc dù cuốn sách nào của tôi, tôi cũng liệt kê thêm cho đầy đủ sự đóng góp tìm kiếm tư liệu này (và tên tuổi các nhà sử học có tham luận). Số tư liệu ấy chỉ có giá trị bổ trợ, nếu chúng đã được chứng thực, giám định khoa học thực nghiệm. Cường điệu, quan trọng hóa quá đáng về số tư liệu này là có dụng ý không trong sáng, là rơi vào bẫy chịu lệ thuộc cựu thù thực dân.

Ngoài ra, tôi là người duy nhất đã nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và viết về đề tài Nguyễn Văn Tường (1824-1886) đến bốn đầu sách (cả 04 đầu sách đều đã xuất bản chính thức bằng sách in giấy(2)).

Tôi đã biết, đây là âm mưu li gián, âm mưu cướp công của thế lực chính trị nào đó, của những người có tiền bạc mà nhà báo Nguyễn Hoàn là kẻ thiếu công tâm. Chưa nói đến tình bạn bè, sự quen biết giữa tôi và Nguyễn Hoàn là khá đủ để Nguyễn Hoàn biết đến quá trình nghiên cứu, viết sách, xuất bản sách của tôi (2). Vì thế, không thể không phê phán công khai Nguyễn Hoàn về sự thiếu công tâm ấy. Đây là lần thứ 2 Nguyễn Hoàn thể hiện tâm địa của anh ta (lần thứ nhất, tháng 6-2007).

Trần Xuân An

17-01 HB9 ( 2009 )

(1) Bài viết này được viết sau thư điện tử gửi Nguyễn Hoàn và nhóm bạn bè của tôi, hôm qua 16-01-”09.

(2) Xem trên WebTgTXA. : http://tranxuanan.writer.googlepages.com

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/danh_mtpham-tranxuanan

Đăng trong Phe phan nha bao Nguyen Hoan | 15 phản hồi »

Ve “Hoi ky Nguyen Dang Manh”

Đăng bởi txawriter on Tháng Mười Hai 4, 2008

hidden hit counter

02-12 HB8:
Về “Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh”

 

 

GS. Nguyễn Đăng Mạnh — Nguồn ảnh: BBCVietnamese

1

Cuối tháng 9 vừa qua, khi từ Đà Lạt về lại TP.HCM., WebTgTXA. nhận được một thông tin qua một người bạn trẻ: “Hồi kí Nguyễn Đăng Mạnh” đã được ai đó công bố trên mạng vi tính toàn cầu. Bận nhiều việc, WebTgTXA. chưa kịp đọc để giới thiệu cùng quý người đọc (bấy giờ cũng thoáng nghĩ là không “có vấn đề” gì). Cách đó chỉ khoảng hơn hai mươi ngày sau (25-10 “08), lại thấy trên tạp chí điện tử BBC Tiếng Việt có bài viết về cuốn sách ấy, cùng lời phát biểu về nó của 3 vị khoa bảng từ Việt Nam: PGS.TS. Trần Ngọc Vương, GS.TS. Trần Đình Sử, GS.TS. Mai Quốc Liên. Qua đó, mới giật mình: vậy là hồi kí của GS. Nguyễn Đăng Mạnh “có vấn đề”, chứ chẳng đùa. Thế rồi, trong những ngày gần đây, trên báo chí in giấy, báo chí điện tử thuộc loại chính thống như Tạp chí Nhà văn số tháng 11 “08 (nhà thơ Đỗ Hoàng), tuần báo Văn nghệ Trẻ, 2 số — số 47 (629), 23-11 “08 và số 48 (630), 30-11 “08 — (nhà thơ Đặng Huy Giang & PV.; Ô. Nguyễn Hữu Thăng), tạp chí điện tử Hội Nhà văn Việt Nam (cập nhật 09-11 “08 — nhà văn Văn Chinh), Tạp chí điện tử Sông Cửu Long (cập nhật 02-11 “08 — nhà văn Vũ Tú Nam), vân vân, còn thấy có những bài phê phán. Như vậy, dẫu thận trọng đến mấy cũng phải tin đó là cuốn hồi kí có thật, cho dù chỉ mới ở dạng PDF (hình như một số điểm mạng [website, weblog] khác đã bẻ khóa, đăng luôn ở dạng doc./word/ html).

 

Và tuy chưa thật tin lắm vào vào từng chữ, từng trang ở loại sách trên mạng vi tính toàn cầu, vì nó có thể bị sửa chữa, thêm bớt, nhưng không thể không tin là cuốn sách ấy có thật. WebTgTXA. biết rằng một khi đã được báo chí chính thống ở Việt Nam xới lên như thế, chắc “vấn đề” phải được giải quyết rốt ráo, nhất là những gì liên quan đến đời tư nhà thơ Hồ Chí Minh, nhà thơ Tố Hữu và nhiều nhà thơ, nhà văn, họa sĩ thuộc loại chức quyền hoặc tên tuổi khác: Xuân Diệu, Hoàng Cầm, Hoài Thanh, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Thanh Tịnh, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến, Dương Thu Hương, Lưu Công Nhân, Hữu Thỉnh, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Đăng Khoa …

 

Phải chăng đó là một tín hiệu để giới sử học, văn học, lịch sử hội họa đi đến tận cùng sự thật nhằm làm sáng tỏ “vấn đề”? Oan, phải chính thức minh oan. Đúng lỗi, phải được chính thức ghi lỗi; đúng khuyết, nhược điểm (gồm cả khuyết tật bẩm sinh [*]), phải chính thức ghi khuyết, nhược điểm (và tật nguyền bẩm sinh). Tai nạn danh dự, phải chính thức ghi là tai nạn danh dự. Sống làm con người, ai cũng có lỗi hay có khuyết điểm, nhược điểm, tật điểm, ai cũng bị tai nạn danh dự, vấn đề là nặng hay nhẹ mà thôi.  

 

2

Từ nhiều năm qua, WebTgTXA. được biết GS. Nguyễn Đăng Mạnh vốn là một giảng viên đại học khả kính, một nhà nghiên cứu, phê bình văn học vượt trội trong làng văn Việt Nam, đặc biệt là mảng văn chương Miền Bắc. Điều đáng quý ở GS. là ông giảng bài, viết phê bình, nghiên cứu có văn và văn ông mang một vẻ đẹp có chiều sâu trí tuệ, nhưng đáng quý nhất là ông đã rất nhiều lần nhấn mạnh, đề cao, kêu gọi các nhà sáng tác văn chương cần phải chú trọng đến phong cách (style) và tư tưởng (ideology) riêng. Phải nói đó là cả một thái độ dũng cảm trong giai đoạn “bao cấp tư tưởng”, thời mà người cầm bút sợ hãi, bấn loạn đến co rúm lại do bị săm soi về tư tưởng, vì chỉ cần có một nét riêng tư tưởng cho dù chỉ trong giới hạn ý hệ đương thời là cũng đủ bị “ngâm tôm”… Nói như thế, có nghĩa là WebTgTXA. không hề có ý vô phép đánh đồng GS. Nguyễn Đăng Mạnh vào loại “phản động về chính trị”. Và nói như thế, cũng không có nghĩa WebTgTXA. dám nhận định chung về toàn bộ trước tác của GS. Nguyễn Đăng Mạnh, gồm cả cuốn hồi kí của ông mới “bị” ai đó công bố trên mạng vi tính toàn cầu, theo ông, là ngoài ý muốn của ông.

 

Theo ý kiến sơ khởi của WebTgTXA., “Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh” đã được tung lên trên mạng vi tính toàn cầu như một “quả bóng thăm dò dư luận”, trước khi ông hoàn chỉnh bản thảo. Dẫu sao, đó mới chỉ là bản sơ thảo. Chúng ta hãy đợi nhiều ý kiến phản hồi rộng rãi, trước hết là từ những nhà văn chương, nhà hội họa, đặc biệt là những nhà chính trị, được đề cập hoặc nhiều, hoặc ít, trong hồi kí sơ thảo của ông (vì họ có quyền tự bảo vệ, tự thanh minh), và thêm vào đó, rất quan trọng, là những ý kiến khác của nhiều người thân, người quen biết với họ (nhất là đối với các nhân vật đã quá cố) và nhiều người đọc từ nhiều giới cấp, nhiều nơi chốn. Chúng ta cũng mong rằng, việc thu thập ý kiến phản hồi công khai, dân chủ ấy không chỉ do GS. Nguyễn Đăng Mạnh, mà do nhiều người đọc, nhiều kẻ sĩ, nhiều tòa soạn trong và ngoài nước khác nữa. Và không ai có quyền ngăn chận những ý kiến phản hồi ấy. Cuối cùng, GS. Nguyễn Đăng Mạnh có thể chỉnh sửa và hoàn tất hồi kí của ông, hoàn toàn theo ý ông một cách độc lập. WebTgTXA. hi vọng, tin tưởng GS. Nguyễn Đăng Mạnh không mị dân chủ, không uốn con ngòi bút. Có điều, những ý kiến phản hồi cũng được in chung như là phụ lục của hồi kí, cho dù trái ngược với những gì ông viết. Có lẽ như thế là công bằng, dân chủ, công khai, lại điều hòa được quyền tự do, độc lập trước tác của người viết hồi kí và quyền tự thanh minh, tự nhận thức, tự phản tỉnh, tự định giá của người được đề cập đến trong hồi kí (có thể cả người không được đề cập đến một cách thiếu công bằng hoặc do ông không có điều kiện gặp gỡ, tiếp xúc).

 

WebTgTXA. phỏng đoán và kính đề xuất như thế.

 

——– WebTgTXA. ———

Viết tại TP.HCM., 02 & 03-12 HB8 —— Cập nhật: 10 : 41′, 04-12-HB8.

[*] Xem: Trần Xuân An — “Mùa hè bên sông”, chương 14 (>>>>> find on this page: Bác Hồ)

Đăng trong Ve Hoi ky Nguyen Dang Manh | Tagged: | 28 phản hồi »

Ý nghĩ về dự kiến sửa đổi sách giáo khoa văn & sử

Đăng bởi txawriter on Tháng Mười Hai 2, 2008

hidden hit counter

ĐỂ HÒA HỢP, HÒA GIẢI, HÀN GẮN VẾT THƯƠNG CHIẾN TRANH – HẬU CHIẾN, VỚI NIỀM CẢM THÔNG THỰC SỰ, KHÔNG ĐẦU MÔI CHÓT LƯỠI, VÀ ĐỂ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC Ở CHIỀU SÂU, TRÊN CƠ SỞ SỰ THẬT LỊCH SỬ KHÁCH QUAN, XÁC THỰC (SỰ THẬT LỊCH SỬ KHÔNG BỊ VO TRÒN, BÓP MÉO), WEBTGTXA. ĐĂNG LẠI BÀI NÀY Ở ĐÂY:

Ý NGHĨ VỀ DỰ KIẾN

SỬA ĐỔI SÁCH GIÁO KHOA VĂN HỌC & SỬ HỌC

Trần Xuân An

Không phải đến những ngày tháng gần đây, vấn đề khác biệt về nhận thức và bình giá văn học cũng như sử học trong nhà trường và trên sách báo mới được đặt ra. Như ở một số bài viết tôi đã có dịp bàn đến sự thể này, đó là một bức xúc có thật, thật đến mức hiển nhiên, ai cũng thấy, cũng biết, chứ không chỉ là nhà giáo, không chỉ là học trò từ cấp I phổ thông (tiểu học) đến đại học. Bức xúc ấy có tính chất toàn xã hội, trên cả nước, nhất là ở Miền Nam, diễn ra từ sau Ngày Thống nhất 30-4-1975, khi chiếc cầu Hiền Lương (1954-1972) và cầu Thạch Hãn (1972-1975) không còn là vết thương chia cắt đất nước.

 

.

Cầu Hiền Lương (ảnh trái, 1) & sông Thạch Hãn (ảnh phải, 2)

Nguồn ảnh: 1. Web Tuổi Trẻ (search) 2. Tập sách “Quảng Trị, tiềm năng & triển vọng đầu tư”, Sở KH.&ĐT.QT., 1996, tr.50

Trước hết, đó là sự khác biệt giữa hai hệ tư tưởng: Marx-Lénine và dân chủ tư hữu. Hệ tư tưởng thống trị, bao trùm của mỗi Miền là nền tảng của mọi nhận định, bình giá văn học, sử học.

Kế đến, đó là hậu quả tàn dư do sự chia cắt trước đó, thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, mà vết thương hơn 200 năm (1558-1786) là sông Gianh. Sử học đã ghi nhận về sự phân biệt, kì thị giữa hai Đàng, Đàng Trong và Đàng Ngoài, từ sau khi Quang Trung, Gia Long thống nhất đất nước, quy hai Đàng về một mối. Dẫu muốn dẫu không, sự thật ấy đã diễn ra từ đó cho đến tận cuối triều Tự Đức và cho đến mãi về sau này. Thực trạng chính trị, xã hội ấy tạo nên tâm thế của người cầm bút, ở cả nhà viết sử lẫn nhà làm thơ. Tàn dư Trịnh – Nguyễn phân tranh lại có dịp thể hiện rõ trong giai đoạn 1954-1975.

Có thể khẳng định hai nguyên nhân, ngoại sinh (hệ tư tưởng ngoại nhập) và nội sinh (tâm thế kì thị Đàng, Miền), một cách cụ thể hơn, qua vài nét khái lược về văn học và sử học Miền Bắc. Tôi cũng chỉ giới hạn ở bài viết này trong phạm vi 117 năm cận – hiện đại (1858-1975), chưa tính đến giai đoạn kế tiếp, với sự chỉnh đổi sách giáo khoa sau khi cuộc chiến tranh biên giới Tây – Nam, biên giới phía Bắc bộ nổ ra, thực chất chính là chiến tranh Việt – Trung (1975-1989).

Hoàn toàn không phải là vu khoát, cường điệu, khi nói thật rằng, văn học và sử học Miền Bắc chính là sự kéo dài văn học và sử học Đàng Ngoài. Sách giáo khoa các bậc từ phổ thông 3 cấp cho đến đại học Miền Bắc lên án đến mức nguyền rủa hết lời nhà Nguyễn, từ các chúa Nguyễn cho đến các vua Nguyễn, nặng nhất là các vua Nguyễn (từ 1802), ngay cả trong giai đoạn triều Nguyễn nhất thống còn độc lập (1802 – 1885), kể từ Tự Đức trở về trước, và ngay cả triều đình dưới thời Hàm Nghi; đồng thời, lại đề cao những cuộc phản loạn do Phan Bá Vành hay Cao Bá Quát khởi xướng. Song song với sử học, nhận định sách giáo khoa văn học về thời kì này, lại đề cao đến mức tột đỉnh các thiên tài văn chương từ Nguyễn Du cho đến Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, nhất là ca ngợi tư tưởng chống đối, bất mãn nhà Nguyễn của họ. Thực sự, đó cũng là những thiên tài văn chương trác tuyệt của văn học sử nước ta, phần lớn do bi kịch lịch sử sản sinh, nhưng thực chất là phản động về chính trị, “hoài Lê, kháng Nguyễn”, những thiên tài thuộc loại Lamartine, “kẻ phản động có lời thơ tao nhã” (lời nhận định của Karl Marx).

Chỉ có giai đoạn chính triều nhà Nguyễn đã trở thành nguỵ triều đích thực, từ Đồng Khánh cho đến Bảo Đại (ngoại trừ cá nhân hai vị vua yêu nước là Thành Thái, Duy Tân), và cả xã hội nước ta, từ Nam chí Bắc, đã nằm dưới gót giày thực dân, tả đạo, thời kì này (1885-1945), là sự lên án đạt được tính hợp lí, nếu gạt đi một số nét hạn chế do nhận thức sai lệch về giai đoạn lịch sử trước 1885 trong tâm thức nhà sử, nhà thơ Đàng Ngoài thuở bấy giờ, mà Phan Bội Châu là tiêu biểu (riêng ông còn có những sai lầm nghiêm trọng), mặc dù giai đoạn này còn có những thiên tài kiệt xuất thuộc dạng khác, như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương. Tôi chưa nói đến giai đoạn nhỏ trong thời kì ấy, đó là thời thịnh hành, nở rộ nhất loại văn chương quốc ngữ ABC, thường được các nhà văn học sử xác định là từ 1930 đến 1945, với sự phân chia 3 dòng chủ lưu văn học: hiện thực phê phán, lãng mạn và cách mạng.

Sở dĩ có một sự hợp lí trong chừng mức nhất định như vậy trong nhận định văn học, sử học về giai đoạn 1885-1945 (kể cả bộ phận văn học thời Cần vương, 1885-1896), là bởi, ưu thế chính trị của sĩ dân Đàng Trong hoàn toàn suy sụp một khi triều Nguyễn đã là bù nhìn, tay sai, sau cuộc Kinh đô quật khởi và bị thất thủ (1885). Từ 1885, Đàng Trong cũng thảm hại như Đàng Ngoài.

Một điểm khác, đó là sự đề cao thái quá văn học cách mạng, đặc biệt từ 1930, về phương diện tư tưởng cho đến giá trị nghệ thuật. Nếu có sự bình tâm và không cần thiết phải phục vụ cho nhiệm vụ tuyên truyền chính trị trong văn học, có lẽ phải thấy rằng, văn học lãng mạn, hiện thực phê phán có giá trị nghệ thuật cao vượt hẳn dòng văn học cách mạng, mặc dù về tư tưởng, nói chung là còn quá nhiều hạn chế; trong khi đó, dòng văn học cách mạng có giá trị về mặt tư tưởng vì bản thân dòng văn học này là chống thực dân, phong kiến bù nhìn và có cái nhìn thiện cảm, quý trọng nông dân, công nhân, những người cùng khổ, nhưng lại non yếu về giá trị nghệ thuật (chỉ nổi bật toàn diện là thơ Tố Hữu).

Cũng trong giai đoạn 1930-1945, về sử học, nếu lúc này đụng chạm đến, vẫn còn là một vấn đề “nhạy cảm” chết người! Nhưng nếu phải nói thật, chắc hẳn ai cũng nhận thấy thái độ phân biệt địch – ta quá cứng nhắc, phần nào đó, không phải là nhỏ, có thể nói là sai với sự thật lịch sử. Nếu nhiều người thuộc thời kì trước, căm ghét và lo sợ câu nói cực đoan của Jésus, “ai không tin ta thì đó là kẻ thù của ta” (*), thì ở giai đoạn này, lại sợ hãi tính cực đoan thể hiện ở chỗ ai không theo Đảng Cộng sản, ai còn sống và làm việc ở vùng thực dân, phong kiến tay sai thống trị, là đều đáng ngờ, là kẻ thù, thậm chí các đảng phái chống Pháp, chống phong kiến nhưng không cộng sản thì dứt khoát là nguy hiểm bội phần. Nhưng điều đáng phải ghi vào sử học chân chính là từ 1930 (có thể kể thêm dăm bảy năm trước đó): Có sự phân hoá rõ rệt giữa các bộ phận yêu nước, chống Pháp, chống phong kiến hay thoả hiệp cầm chừng với nguỵ phong kiến; nguyên nhân chủ yếu do Đảng Cộng sản Việt Nam (kể cả Việt Minh) là một tổ chức chính trị mang hệ tư tưởng và ngọn cờ ngoại nhập. Tôi đã viết, đại để, trong lịch sử 4.000 năm của dân tộc, chưa từng có một anh hùng dân tộc nào lại là cán bộ của một tổ chức quốc tế, đứng đầu và chỉ huy là những người ngoại quốc. Hồ Chí Minh là một anh hùng dân tộc kiểu ấy, thì rất khó để không xảy ra sự phân hoá dân tộc. Bảo Đại là tay sai, nhưng y vẫn là người Việt, con cháu nhà Nguyễn, vốn đã có hàng trăm năm chính danh trong lịch sử. Tai hại thay, nhưng cũng đáng suy nghĩ thay: không phải ít, quả thực cả một bộ phận lớn sĩ dân Việt Nam lại ngả vào phía y. Chưa biết ngôi nhà mới và chủ ngôi nhà ấy cùng “quan thầy Nga Sô, Trung cộng” ra sao, ai dám bỏ ngôi nhà cũ kĩ, mục nát với tên chủ nhà tuy bù nhìn nhưng còn chút hào quang chính danh do tổ tiên y để lại. Một lẽ khác, các đảng cộng sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, lại chủ xướng hệ tư tưởng vô thần, không thờ cúng tổ tiên nữa! Cho nên, sự phân hoá xã hội là tất nhiên. Và không phải những ai ở vùng tề, nguỵ, thậm chí làm quan cho nguỵ triều Bảo Đại, làm lính cho thực dân Pháp với ngọn cờ “bảo hộ” cũng đều là bán nước, cầu vinh. Bộ phận này chống cộng với hi vọng có ngày sẽ chống được Pháp và cả triều Nguyễn tay sai. Nói cách khác, họ tâm nguyện chân thành, là dựa vào giặc Pháp, vào nguỵ triều để chống “giặc Cộng” (sic), trong khi chờ thời cơ mới, để có thể quay lại chống Pháp và nguỵ triều ấy. Dẫu sao, sử học cũng phải ghi rõ điều đó: có sự phân hoá xã hội vì chưa có một lực lượng cách mạng nào là hoàn toàn có sức mạnh từ nội lực dân tộc, mà đều dựa vào ngoại bang, giương cao ngọn cờ ngoại bang, thậm chí có lực lượng mang hệ tư tưởng vô thần, xa lạ với truyền thống dân tộc.

Một điểm khác, đó là nhận định về lịch sử Thiên Chúa giáo ở nước ta trong quá trình truyền đạo gắn liền với sự câu kết cùng quá trình bành trướng của chủ nghĩa thực dân Phương Tây. Về điểm này, chỉ có loại sách chuyên sâu và “lưu hành nội bộ” mới đi sâu vào, viết đúng thực chất. Nhưng trong sách giáo khoa phổ thông, đại học, lại lướt nhẹ (mặc dù những nét lướt nhẹ ấy cũng thành vấn đề với bộ phận linh mục, giáo dân cuồng tín, với bộ phận lãnh đạo giáo hội, toà thánh). Chắc hẳn cần phải sửa sách giáo khoa cho sát đúng với sự thật lịch sử: Thiên Chúa giáo là lực lượng phản quốc, “nội xâm” từ 1858 đến 1975, mà giai đoạn từ 1885 đến 1954, Pháp còn muốn sử dụng bù nhìn nhà Nguyễn, mặc dù thực chất vẫn trọng dụng người của Thiên Chúa giáo, như Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khả, Ngô Đình Diệm, đặc biệt từ 1954 đến 1975, ở Miền Nam, thực chất là “đỉnh cao” của quá trình Thiên Chúa giáo câu kết với chủ nghĩa thực dân, đế quốc, từ đệ nhất cộng hoà với Ngô Đình Diệm đến đệ nhị cộng hoà với Nguyễn Văn Thiệu. Sự tự do, tự chủ của nhân dân dưới ách tả đạo là do quá trình đấu tranh của nhân dân Miền Nam, trong đó lực lượng Phật giáo là rất quan trọng. Sử học cần ghi nhận tinh thần quật cường, bền bỉ của nhân dân Miền Nam, Phật giáo Miền Nam chống Thiên Chúa giáo và đế quốc Mỹ, mặc dù vẫn chống cộng như một lực lượng ngoại xâm của Nga Sô, Trung Cộng (mà Trung Cộng cũng thoát thai từ Nga Sô).

Điểm cuối, sử học phải ghi nhận như lâu nay đã ghi nhận: Công lao đánh đuổi thực dân Pháp, đánh đổ nguỵ triều Bảo Đại, góp phần đánh đuổi phát xít Nhật, bền bỉ đánh đuổi đế quốc Mỹ và đánh đổ nguỵ quyền Sài Gòn của Đảng do Hồ Chí Minh – Lê Duẩn lãnh đạo thật sự là vĩ đại. Tuy nhiên, công lao ấy mặc dù vĩ đại nhất lịch sử 4.000 năm của dân tộc, nhưng cũng không thể so sánh với công lao thuần tuý dân tộc, thuần tuý nội lực của các anh hùng dân tộc trước đó, như Ngô Quyền, Lê Lợi…

Không phải là sửa đổi sách giáo khoa vì cần phải thích nghi với thời “hội nhập”, “thoái trào cách mạng”, hay vì con cháu vua quan nhà Nguyễn, lính nguỵ Miền Nam (kể cả bộ phận đồng bào Bắc Việt, giáo dân Thiên Chúa giáo di cư) không chịu học, chán học (**), mà cần thiết phải sửa đổi sách giáo khoa vì tính khoa học cần phải có của văn học, sử học: Nhận định văn học, sử học phải xác thực, đúng với thực trạng văn học và sự thật lịch sử.

Tôi tự ý thức những ý nghĩ trên một khi được nêu ra một cách công khai một lần nữa, hẳn sẽ còn có những phản ứng gay gắt, thậm chí tôi sẽ bị quy chụp là “phản động”, “phản quốc”. Nhưng thực trạng văn học sử, sự thật lịch sử (1858-1975) là như thế. Chỉ có thể thống nhất đất nước về chiều sâu, thực sự hoà giải, hoà hợp dân tộc trên nền tảng sử học và văn học, khoa học – lịch sử, khoa học – nghệ thuật của sự thật và về sự thật, trong đó, sử học là quyết định.

Bài viết tạm kết thúc ở đây, mặc dù vẫn còn một vài thiếu sót – những thiếu sót tôi đã viết đầy đủ ở những bài viết, trong những cuốn sách đã xuất bản, in giấy hay đang ở dạng văn bản kí tự điện tử.

Bài viết sẽ còn được sửa chữa và có thể sẽ bổ sung thêm, chẳng hạn về văn học hai Miền từ 1954 đến 1975.

Làm thế nào có thể viết thật bình tâm trước những vấn đề to lớn và đầy kích ứng đến thế!

TP.HCM., khoảng 8 : 30 đến 11 : 26’, thứ sáu (thứ bảy cũ), ngày 14-7 HB7

& lúc 15 giờ cùng ngày

Trần Xuân An

____________________________

(*) “Kinh Thánh”, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam ấn hành, 1986: Nguyên văn trọn câu ở bản dịch này: “Ai không ở với ta, thì nghịch cùng ta; ai không thâu-hiệp với ta, thì tan ra” (Ma-thi-ơ : 12 : 30; sđd., Tân ước, tr. 15). Một đoạn khác, Jésus cũng nói đến niềm tin vào Đức Thánh Linh là điều kiện tối thượng và tiên quyết, nhưng còn ngụ thêm ý: phải truyền đạo, làm lợi cho tôn giáo của Jésus đến mức tối đa, vì Jésus tự ví mình cũng như một lãnh chúa, “là người nghiêm ngặt, hay lấy [tiền của - chua thêm] trong nơi không để [tiền của - ct.], gặt trong chỗ không gieo” (Lu-ca : 19 : 22; sđd., Tân ước, tr. 96), một lãnh chúa từng răn bảo đầy tớ không làm lợi cho y: “Ta nói cùng các ngươi, ai có, thì sẽ cho thêm; song ai không có, thì sẽ cất luôn của họ đã có nữa. Còn như những kẻ nghịch cùng ta, không muốn ta cai-trị họ, hãy kéo họ đến đây, và chém đi trước mặt ta” (Lu-ca : 19 : 26-27; sđd., Tân ước, tr. 96). Jésus (theo loại “Kinh Thánh” đã bị sửa chữa bởi Vatican qua nhiều đợt chỉnh lí có tổ chức) là một giáo chủ độc tài, chuyên chế, bành trướng. Đối chiếu với hiện thực lịch sử 2000 năm của châu Âu và vài ba trăm năm của châu Mỹ (Tân Thế giới), cho thấy, không một tôn giáo nào không tin “Kinh Thánh” Thiên Chúa giáo có thể truyền đạo, phát triển được trên 2 châu lục ấy, dưới ách chuyên chế độc tài của Thiên Chúa giáo. Chính Thống, Tin Lành, Anh giáo chỉ là các chi phái tôn giáo li khai khỏi Thiên Chúa giáo. Quá trình li khai cũng đẫm máu. Riêng Do Thái giáo xuất hiện trước cả Thiên Chúa giáo, cố nhiên tin vào Cựu ước (thuộc “Kinh Thánh”), cũng chịu đẫm máu bởi những cuộc “thập tự chinh”.

(**) Đây là một luận điệu bị phóng đại để tuyển sinh đại học chủ yếu là học sinh Miền Bắc và đưa cán bộ, giáo viên Miền Bắc cùng gia đinh họ vào Miền Nam.

Xem trên WebTgTXA. (bấm vào đây)
Bài cũng đã được cậy đăng trên Web Ngô Hữu Đoàn:
LINK (bấm vào đây)

Đăng trong Sua doi sach giao khoa van su | Tagged: | 25 phản hồi »

Tac quyen: Tran Van Chanh, Nguyen Manh Hung

Đăng bởi txawriter on Tháng Mười Một 17, 2008

hidden hit counter

TÁC QUYỀN: NHÀ HÁN NGỮ TRẦN VĂN CHÁNH & TIẾN SĨ NGUYỄN MẠNH HÙNG

.

 

Hơn mười năm trước đây, báo chí nước ta đã “quét đèn pha” để làm sáng tỏ vụ Hương Trà “thuổng” thơ từ sách báo cũ Sài Gòn trước 1975, kế đến là vụ PTS. Đỗ Lai Thúy đạo chích văn cũng từ nguồn sách báo ấy… Và bây giờ, thuộc lĩnh vực nghiên cứu sử học, giữa hai ông Nguyễn Mạnh Hùng & Trần Văn Chánh, hiện cùng đang sống và làm việc tại TP.HCM. … Nói chung, WebTgTXA. hoan nghênh việc vạch trần, phê phán thói đạo chích văn chương, nghiên cứu, làm sáng tỏ sự thật (sự thật cũng có thể oan trái? …?), để bảo vệ công lí về quyền sở hữu trí tuệ của người cầm bút. Góp phần truyền tải thông tin này, WebTgTXA. cũng xin thưa trước, cuốn kỉ yếu Hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn (10-2008) và 2 bài viết được đề cập dưới đây trong bài báo của Lam Điền, người phụ trách WebTgTXA. cũng chưa kịp mua để đọc. Một điều khác, WebTgTXA. cũng không thể đọc hết tất cả mọi sách báo, website, webblog, kể cả một số cuốn sách, trang web được giới thiệu, dẫn link trên WebTgTXA. bé mọn này, nên rất mong được được quý người đọc và giới cầm bút liên lạc, mách bảo thêm bằng điện thoại, thư tín, kể cả điện thư. Thành thật cảm ơn.

.

Thứ hai, 17/11/2008, 06:25 (GMT+7)
Sự giống nhau kỳ lạ của hai bài nghiên cứu

.

TT – Ðó là tham luận “Khảo sát văn bản sắc phong thuộc triều đại nhà Nguyễn” của tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng – hiệu trưởng Trường đại học Hồng Bàng tại TP.HCM trong hội thảo “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI-XIX”, tổ chức tại Thanh Hóa hồi tháng mười vừa qua. Tham luận trên của ông Nguyễn Mạnh Hùng in trong tập kỷ yếu hội thảo, do NXB Thế Giới cấp phép xuất bản vào ngày 9-10-2008 (từ trang 567-569).

.

 Bấm vào link 
.
Một phần nội dung bài tham luận của TS Nguyễn Mạnh Hùng in trong kỷ yếu hội thảo (trái) và một phần nội dung bài viết của tác giả Trần Văn Chánh in trong tạp chí Nghiên Cứu và Phát Triển – Ảnh: Lam Điền
.

Trước đó, vào tháng 3-2008, trên tạp chí Nghiên Cứu Và Phát Triển (Sở Khoa học – công Nghệ Thừa Thiên – Huế), số 1 [66] năm 2008, có đăng bài “Bước đầu khảo sát văn bản các sắc thần ở Việt Nam” của tác giả Trần Văn Chánh (trang 54-58). Ông Trần Văn Chánh là chuyên gia Hán ngữ tại TP.HCM, tác giả các bộ sách: Từ điển Hán Việt – Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Ngữ pháp Hán ngữ cổ và hiện đại, Toàn thư tự học chữ Hán… So sánh tham luận của ông Hùng và bài báo của ông Chánh, có thể thấy hai văn bản giống nhau đến lạ kỳ. Thậm chí có nhiều đoạn giống đến từng câu từng chữ, như một sự cắt dán. Ở tham luận của ông Hùng, có thêm bốn dòng đầu giới thiệu “qua bộ sưu tập gồm 642 sắc phong của các triều đại nhà Nguyễn – kéo dài từ các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức và đặc biệt là Thành Thái, chúng tôi đã phân loại về mặt văn bản và biên dịch để có thể chú giải về mặt lịch sử văn hóa VN trong giai đoạn cận hiện đại”; phần tiếp theo giống y như bài báo của ông Chánh, kể cả tên các tiểu đề mục, cách phân đoạn bố cục và những đoạn định nghĩa, bình luận… (ảnh). Bài tham luận của ông Hùng chỉ khác bài viết của ông Chánh ở chỗ: không có các chữ Hán nguyên văn để chú thích, và không có một đoạn phân tích các cụm từ chuyên môn trong bản sắc phong. Và nữa, trong bài viết của ông Trần Văn Chánh có dẫn chứng một bản sắc phong niên hiệu Thành Thái nguyên niên ban cho xã Lỗ Hà, huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nội, thì trong tham luận của ông Nguyễn Mạnh Hùng cũng dẫn và biên dịch đúng bản sắc phong này. Ðằng sau sự giống nhau kỳ lạ của hai bài nghiên cứu này là chuyện gì? Chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ và thông tin đến bạn đọc trong số báo sau.

LAM ĐIỀN

Nguồn: Tuổi Trẻ trực tuyến (online), 17/11/2008, 06:25 (GMT+7)
________________________

WebTgTXA. trân trọng mời xem lại:
NỖI LO ÂU THỜI @ VÀ “LIỀU MẠNG” LIÊN THÔNG TOÀN CẦU:
http://tranxuanan.writer.2.googlepages.com/…
Trả lời người đọc về vấn đề bản quyền nói chung (WebTgTXA.):
http://txawriter.wordpress.com/category/…ban-quyen/ (lưu ý các lời bàn luận [comments])
Trại sáng tác, trại nghiên cứu (Thanh Niên trực tuyến):
http://txawriter.wordpress.com/category/…trai-sang-tac… (lưu ý các lời bàn luận [comments])
Khẳng định quyền sở hữu trí tuệ và quyền xuất bản tác phẩm:
http://tranxuanan.writer.googlepages.com/banquyen

Đăng trong Tac quyen: NHh.Tran Van Chanh, TS.Nguyen Manh Hung | Tagged: | 14 phản hồi »

Lê Minh & Vũ Hoàng: Tác quyền

Đăng bởi txawriter on Tháng Mười Một 6, 2008

hidden hit counter

Nhân vụ việc này, chợt nhớ đến QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ,

những vấn đề cần suy nghĩ, thảo luận:

Giá trị của bản thảo viết tay?

Thời điểm công bố tác phẩm qua báo chí, nhà xuất bản hợp pháp, “xuất bản miệng”, bản sao chụp (photocopy), mạng vi tính toàn cầu (weblog, website / internet)?

Trại sáng tác, trại nghiên cứu: Kiểm tra kĩ năng sáng tác, nghiên cứu, tri thức, tài liệu, vốn sống, đề tài quan tâm? Phong cách riêng của mỗi tác giả? Thực chất của mỗi bộ não với những ưu điểm, nhược điểm? Quá trình lao động sáng tác, viết nghiên cứu? v.v…

Nói chung, không riêng trường hợp cụ thể nào: Rất nên đưa ra tòa án công khai, với nghiệp vụ điều tra chuyên nghiệp từ nhiều cơ quan hữu trách (có thể kết hợp cùng nhiều nước), một vài vụ ăn cắp tác phẩm, thậm chí từng ý tưởng, câu chữ!

_________________________

 

Lùm xùm tác quyền ca khúc Về đất Lam Sơn 

 

Hà Đình Nguyên

Nguồn: Thanh Niên trực tuyến (online), 

04/11/2008 23:13

 

Vụ lùm xùm về quyền tác giả chung quanh ca khúc Về đất Lam Sơn giữa hai nhạc sĩ Lê Minh và Vũ Hoàng đang là đề tài “nóng” không chỉ trong giới văn nghệ mà còn là điều quan tâm của công chúng…

 

Nhạc sĩ Lê Minh từng sinh hoạt trong CLB Sáng tác Thành Đoàn TP.HCM, cho biết anh sáng tác ca khúc Về đất Lam Sơn vào năm 1993. Cũng trong năm đó, ca khúc này được Trung tâm Băng nhạc Quê Hương (Q.3, TP.HCM) thu băng cassette với tiếng hát ca sĩ Tô Thanh Phương và phát hành rộng rãi.

 

Giữa tháng 9.2008 anh vào nhà sách Nguyễn Văn Cừ (TP.HCM) và phát hiện trong Tuyển tập 80 ca khúc sử ca Việt Nam có in ca khúc Về đất Lam Sơn của tác giả Vũ Hoàng. Thoạt đầu, nhạc sĩ Vũ Minh cũng nghĩ đó là một ca khúc trùng tựa với bài hát của mình, nhưng khi đối chiếu thì cả phần lời lẫn nhạc đều giống nhau hoàn toàn.

 

Tuyển tập 80 ca khúc sử ca Việt Nam được ra đời từ Cuộc vận động sưu tầm và sáng tác sử ca Việt Nam do NVH Thanh niên tổ chức, nên nhạc sĩ Lê Minh đã gọi điện thoại cho nhạc sĩ Phạm Đăng Khương (Trưởng ban Tổ chức cuộc vận động). Nhạc sĩ Phạm Đăng Khương xác nhận nhạc sĩ Vũ Hoàng có gửi đến cuộc vận động 4 ca khúc ghi rõ tên tác giả là Vũ Hoàng – trong đó có ca khúc Về đất Lam Sơn.

 

Sau đó, nhạc sĩ Lê Minh cũng đã có gặp riêng nhạc sĩ Vũ Hoàng để trao đổi nhưng Vũ Hoàng bảo: “Bậy mày! Bài này tao viết. Tao có bản chép tay!”. Khi Lê Minh trưng băng cassette ra, nhạc sĩ Vũ Hoàng bối rối: “Sao kỳ vậy ta! Chắc có sự nhầm lẫn nào đây?!”.

 

Theo nhạc sĩ Lê Minh thì đạo diễn Phương Sóc lý giải sự nhầm lẫn này như sau: “Dạo đó có nhiều nhạc sĩ đưa sáng tác của mình nhờ nhạc sĩ Hữu Thạnh hòa âm, phối khí nhưng có những bản chép tay Hữu Thạnh đọc không được phải nhờ nhạc sĩ Vũ Hoàng chép lại giùm (trong đó có ca khúc Về đất Lam Sơn), chép xong, lại quên ghi tên tác giả. Lâu ngày không nhớ, khi đọc lại văn bản thấy nét chữ của mình thế là cho đó là tác phẩm của mình”.

 

Ngày 15.10.2008, theo yêu cầu của Ban tổ chức cuộc vận động, nhạc sĩ Vũ Hoàng đã làm bản tường trình. Theo đó, nhạc sĩ Vũ Hoàng xin rút ca khúc Về đất Lam Sơn ra khỏi hồ sơ tham gia cuộc thi, trả lại tiền tác quyền và xin lỗi Ban tổ chức vì có sự nhầm lẫn.

 

Nhạc sĩ Lê Minh đã không đồng ý, bởi như thế thì người khác sẽ hiểu lầm là nhạc sĩ Vũ Hoàng chỉ không đưa bài Về đất Lam Sơn tham dự cuộc vận động còn tác giả ca khúc này thì vẫn là Vũ Hoàng. Lê Minh đã gửi đơn khiếu nại đến Sở Văn hóa – Thông tin và Du lịch TP.HCM, Hội Âm nhạc TP.HCM và Trung tâm Bảo hộ tác quyền nhạc sĩ (chi nhánh phía Nam) với yêu cầu thu hồi tuyển tập nhạc nói trên đồng thời chỉnh sửa lại tên tác giả của ca khúc Về đất Lam Sơn.

 

Nhạc sĩ Phạm Đăng Khương cho rằng: “Đây là một sự cố đáng tiếc nằm ngoài tầm kiểm soát của Ban tổ chức. Chúng tôi đã liên hệ với NXB Thanh niên và Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa (đơn vị in ấn và phát hành tập nhạc) và đã thống nhất đối với những tập nhạc còn lại trong hệ thống nhà sách Nguyễn Văn Cừ (đã in khoảng 2.000 tập) thì sẽ dán tên tác giả Lê Minh đè lên chữ Vũ Hoàng, còn nếu có tái bản hoặc nối bản thì sẽ ghi tác giả là Lê Minh. Sáng nay (5.11), Ban Chấp hành Hội Âm nhạc TP.HCM sẽ họp để giải quyết vụ việc”.

 

Trao đổi với chúng tôi, nhạc sĩ Vũ Hoàng nói rất ngắn gọn: “Đây là một tai nạn nghề nghiệp thật đáng tiếc đã xảy ra cho bản thân tôi. Cái tâm của tôi không phải như vậy. Tôi hoàn toàn chẳng có ý đồ gì cả!”.

 

Hà Đình Nguyên

———————–

Nhạc sĩ Vũ Hoàng đạo sử ca

 

Lam Điền

Nguồn: Tuổi Trẻ trực tuyến (online)

Thứ Ba, 04/11/2008, 02:31 (GMT+7)

 

TT – Nhạc sĩ Vũ Hoàng đã sử dụng ca khúc (cả nhạc và lời) có tên Về đất Lam Sơn của tác giả Lê Minh để gửi tham gia cuộc vận động sáng tác và sưu tầm sử ca do Nhà văn hóa Thanh niên – Thành đoàn TP.HCM và Trung tâm Văn hóa TP.HCM phối hợp tổ chức hồi tháng sáu vừa qua.

 

Theo tác giả Lê Minh, ông sáng tác ca khúc Về đất Lam Sơn năm 1993 và phổ biến trong băng cassette Sử ca Việt Nam do Trung tâm băng nhạc Quê Hương – quận 3, TP.HCM – phát hành cùng năm, ca khúc này do ca sĩ Tô Thanh Phương trình bày.

 

Tuy nhiên, khi phát hiện tác phẩm của mình xuất hiện trong tập nhạc gồm các tác phẩm tham gia cuộc vận động sáng tác và sưu tầm sử ca mới đây, ông liên lạc với Vũ Hoàng và ông nhạc sĩ “đạo” này đã “khăng khăng cho rằng chính mình là tác giả ca khúc Về đất Lam Sơn, với chứng cứ là một bản nhạc chép tay của Vũ Hoàng”. Sau đó, ông Lê Minh và một người bạn đã đưa ra chứng cứ là băng cassette Sử ca Việt Nam nói trên, ông Vũ Hoàng mới thừa nhận (bằng bản tường trình viết tay) mình đã sử dụng ca khúc của tác giả Lê Minh để gửi tham dự cuộc Vận động sáng tác sử ca.

 

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Minh cho biết hiện chỉ yêu cầu ban tổ chức và đơn vị phát hành sách đính chính tên ông trên ca khúc Về đất Lam Sơn trong các bản sách còn trên kệ trong các nhà sách, “và trong lần tái bản cần in lại cho đúng”, ông Minh nhấn mạnh.

 

Nhạc sĩ Phạm Ðăng Khương – thành viên ban tổ chức cuộc vận động sưu tầm và sáng tác sử ca – cho biết ban tổ chức sẽ trao đổi với doanh nghiệp Thành Nghĩa khắc phục sự cố này bằng cách dán tên tác giả Lê Minh lên tên nhạc sĩ Vũ Hoàng trong các sách đã in, và sẽ in đúng tên tác giả trong lần tái bản.

 

LAM ĐIỀN

 

__________________________

 

WebTgTXA. trân trọng mời xem lại:

Trả lời người đọc về vấn đề bản quyền nói chung (WebTgTXA.):

http://txawriter.wordpress.com/category/tra-loi-nguoi-doc-3-ban-quyen/

Trại sáng tác, trại nghiên cứu (Thanh Niên trực tuyến):

http://txawriter.wordpress.com/category/van-de-trai-sang-tac-tren-web-thanh-nien-online/

Khẳng định quyền sở hữu trí tuệ và quyền xuất bản tác phẩm:

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/banquyen

 

 

Đăng trong Le Minh & Vu Hoang: Tac quyen | Tagged: | 14 phản hồi »

KHÔNG NÊN VÔ TÌNH TẠO SỰ CỐ, RƠI VÀO KẾ LI GIÁN…

Đăng bởi txawriter on Tháng Bảy 19, 2008

 hidden hit counter

“CÂY MUỐN LẶNG, GIÓ CHẲNG NGỪNG” !

KHÔNG NÊN VÔ TÌNH TẠO SỰ CỐ, RƠI VÀO KẾ LI GIÁN, HẠ UY TÍN LẪN NHAU, DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG “NGỘ NHẬN”, THẬM CHÍ ĐÁNH TRÁO TÁC GIẢ – TÁC QUYỀN VỀ SAU

1a.

Gửi anh Nguyễn Hoà & bạn Trần Hữu Dũng

13-7 HB8

Trần Hữu Dũng quý mến,

Suốt tuần lễ vừa rồi, đường dây cáp ADSL của mình bị ai đó ngắt đứt, nên không thể đọc và gửi e-mail, cũng không thể đưa lên web cái gì được! Chiều nay, 13-7 HB8, lúc 15 giờ, công ti FPT Telecom mới cho nhân viên xuống nối lại.

Mình vừa đọc xong bài viết giới thiệu của Trần Hữu Dũng về cuốn sách của mình: “Thơ Nguyễn Văn Tường (1824-1886) – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng” (Nxb. Thanh Niên, quý II, 2008).

Trước hết, xin cảm ơn nhã ý của Trần Hữu Dũng.

Tuy nhiên, bài giới thiệu có thể khiến người đọc hiểu lầm là mình chỉ làm công việc góp nhặt bài vở của người khác để làm thành cuốn sách!

Thực tế không phải như vậy. Mình phải chú giải thơ, chuyển lại ngôn ngữ thơ (chiếm hơn nửa số trang sách), ngoài phần thưa ngỏ, khảo luận của mình (trên 60 trang)… Có thể nói không ngoa là hầu như mình làm tất (trừ các bàn phiên âm, dịch nghĩa, khảo luận của các ông Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển, Đoàn Quang Hưng, Võ Xuân Đàn; một số bản phiên âm, dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan; những điểm hiệu đính của Ngô Thời Đôn). Những phần trong cuốn sách không kí tên tác giả bên dưới đều là của mình. Do đó mình mới đặt tên mình lên bìa sách (*). Ấy là theo nguyên tắc chung về việc biên soạn sách: Những phần không kí tên bên dưới trong cuốn sách là của người chủ biên.

Mình cần phải khẳng định công sức lao động đồng thời cũng là bản quyền của mình.

Năm 2006, anh Cao Quảng Văn trên “Kiến thức Ngày nay” cũng đã một lần vô tình lấy kiến thức, công sức lao động của mình “trao” cho người khác. Mình không chịu.

Mong Trần Hữu Dũng thông cảm.

Thành thật cảm ơn.

Trần Xuân An.

 ________________

(*) Bổ sung ngày 17-6 HB8: Xin nói rõ hơn: Từ năm 2000, chính nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh và nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc đã đề xuất trước tiên ý kiến là tôi nên đưa tên của chính tôi (Trần Xuân An) ra bìa 1 của cuốn sách, sau khi hai ông nhận thấy công sức lao động của tôi thể hiện ở bản thảo cuốn sách ấy.

1b.

XIN SỬA BÀI GIỚI THIỆU LẠI NHƯ SAU:

Đọc sách: Thơ Nguyễn Văn Tường (1824 -1886) – Nghĩa khí của một nhà nho yêu nước. 

Cuốn Thơ Nguyễn Văn Tường (1824-1886) – Vài nét  về con người, tâm hồn và tư tưởng do Trần Xuân An biên soạn và khảo cứu là một tư liệu quý dành cho bạn đọc muốn tìm hiểu về nhân vật chính trong phái chủ chiến triều đình Huế, vừa được NXB Thanh Niên ấn hành vào quí 2 năm 2008. Sách dày 462 trang, chủ yếu là thơ Nguyễn Văn Tường (*) với phần chú giải của Trần Xuân An. Ngoài ra, còn có các bài viết, khảo luận, của các nhà nghiên cứu như Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển, Đoàn Quang Hưng, Võ Xuân Đàn và của chính Trần Xuân An.

   Di cảo Thơ Nguyễn Văn Tường gồm 66 bài thơ chữ Hán viết từ năm 1869 đến năm 1878, thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân của một trí thức đang phải gánh vác trọng trách nặng nề trước hoàn cảnh đất nước gieo neo.

   Đọc tác phẩm này càng thấy ông Nguyễn Văn Tường là nhà nho hành động bộc lộ rõ nét qua các bài thơ tràn đầy nghĩa khí. Cuộc binh biến năm 1885 nổ ra tại kinh đô Huế. Vua Hàm Nghi được Tôn Thất  Thuyết phò ra Tân Sở. Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, quan thượng thư Bộ Hộ Phạm Thuận Duật và ông Tôn Thất Đính, cha của Tôn Thất Thuyết, bị đày ra Côn Đảo, rồi lại bị đày qua đảo Tahiti. Sau đó ông Nguyễn Văn Tường mất, thân xác được đưa về an táng tại quê nhà. Ông đúng là cây tùng, cây bách trong triều đình Huế lúc bấy giờ, dù khiêm tốn tự nhận mình là  một cây xà nhỏ : Khẳng tác nhân gia tiểu giác lương (Xà nhỏ trong nhà cũng một cây). Ngoài ra người biên soạn Trần Xuân An còn đưa vào sách những sáng tác ngoài thi tập như Tự trào, Điếu Bùi Viện (câu đối)… cùng nguyên tác thơ chữ Hán của ông Nguyễn Văn Tường để bạn đọc dễ dàng tham khảo, đối chiếu.

TRẦN HỮU DŨNG

_________________

(*) Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ; Nguyễn Tôn Nhan phiên âm, dịch nghĩa bổ sung; Trần Xuân An chuyển lại ngôn ngữ thơ; Ts. Ngô Thời Đôn hiệu đính các bản dịch.

 

2a.

16-7 HB8

NHƯNG BÀI VIẾT CÓ CHI TIẾT SAI LẠC ẤY, GOOGLE ĐÃ “CACHE” !!!

LINK / GOOGLE SEARCH (bấm vào đây)

http://209.85.175.104/search?q=cache:NhBZE5iz59MJ:vannghesongcuulong.org/ vietnamese/vanhoc_tacpham.asp%3FTPID%3D8350%26LOAIID%3D21%26TGID%3D608 +%22Th%C6%A1+Nguy%E1%BB%85n+V%C4%83n+T%C6%B0%E1%BB%9Dng%22+ %22Tr%E1%BA%A7n+Xu%C3%A2n+An%22+%22NXB+Thanh+Ni%C3% AAn%22&hl=vi&ct=clnk&cd=50&gl=vn

 

Đây là cache của

http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=8350&LOAIID=21&TGID=608

được lưu ngày 12 Tháng Bảy 2008 22:03:50 GMT. của G o o g l e
Bộ nhớ cache của
G o o g l e là một bản sao của trang web chúng tôi đã lưu lại khi thu lượm trên Web.
Trang này có thể đã thay đổi kể từ khi đó. Hãy bấm vào đây để tới

 trang mới nhất mà không đánh dấu.
Trang được lưu trong bộ nhớ cache này có thể chứa những hình ảnh không tồn tại nữa. Bấm vào đây để xem

phần văn bản được lưu trong bộ nhớ cache.
Để liên kết tới hoặc đánh dấu trang này, hãy sử dụng URL sau:

 http://www.google.com/search?q=cache:NhBZE5iz59MJ:vannghesongcuulong.org/

vietnamese/vanhoc_tacpham.asp%3FTPID%3D8350%26LOAIID%3D21

%26TGID%3D608+%22

Th%C6%A1+Nguy%E1%BB%85n+V%C4%83n+T%C6%B0%E1

%BB%9Dng%22+%22Tr%E1%BA%A7n+Xu%C3%A2n+An%22+

%22NXB+Thanh+Ni%C3%AAn%22&hl=vi&ct=clnk&cd=7&gl=vn

 

 

Google không có một mối liên hệ nào đến các tác giả của các trang web này cũng như không chịu trách nhiệm về nội dung của chúng.

 

Những cụm từ tìm kiếm này đã được tô sáng: thơ nguyễn văn tường trần xuân an nxb thanh nien

 

 

 

 

Thơ Nguyễn Văn Tường (1824 -1886) – Nghĩa khí của một nhà nho yêu nước.


Trần Hữu Dũng

 

 

 

Cuốn Thơ Nguyễn Văn Tường (1824-1886) – Vài nét  về con người, tâm hồn và tư tưởng do Trần Xuân An biên soạn là một tư liệu quí dành cho bạn đọc muốn tìm hiểu về nhân vật chính trong phái chủ chiến triều đình Huế, vừa được NXB Thanh Niên ấn hành vào quí 2 năm 2008. Sách dày 462 trang gồm nhiều khảo luận của các nhà nghiên cứu như Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển, Đoàn Quang Hưng, Võ Xuân Đàn, Nguyễn Tôn Nhan

Di cảo Thơ Nguyễn Văn Tường gồm 66 bài thơ chữ Hán viết từ năm 1869 đến năm 1876, thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân của một trí thức đang phải gánh vác trọng trách nặng nề trước hoàn cảnh đất nước gieo neo.

Đọc tác phẩm này càng thấy ông Nguyễn Văn Tường là nhà nho hành động bộc lộ rõ nét qua các bài thơ tràn đầy nghĩa khí. Cuộc binh biến năm 1885 nổ ra tại kinh đô Huế. Vua Hàm Nghi được Tôn Thất  Thuyết phò ra Tân Sở. Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, quan thượng thư Bộ Hộ Phạm Thuận Duật và ông Tôn Thất Đính, cha của Tôn Thất Thuyết, bị đày ra Côn Đảo, sau đó bị đày qua đảo Tahiti. Sau đó ông Nguyễn Văn Tường mất, thân xác được đưa về an táng tại quê nhà. Ông đúng là cây tùng, cây bách trong triều đình Huế lúc bấy giờ, dù khiêm tốn tự nhận mình là  một cây xà nhỏ : Khẳng tác nhân gia tiểu giác lương (Xà nhỏ  trong nhà cũng một cây). Ngoài ra người biên soạn Trần Xuân An còn đưa vào sách những sáng tác ngoài thi tập như Tự trào (câu đối), Điếu Bùi Viện…cùng nguyên tác thơ chữ Hán của ông Nguyễn Văn Tường để bạn đọc dễ dàng tham khảo.

TRẦN HỮU DŨNG

Ngày đăng: 12.7.2008 – Số lượt xem : 24

 

2b.

Anh Nguyễn Hoà & bạn Trần Hữu Dũng quý mến,

Bài giới thiệu do bạn Trần Hữu Dũng viết về cuốn sách mới của tôi, GOOGLE (và cả Yahoo) đã “cache”, lưu vào bộ nhớ!

Bài ấy, chúng ta nhất trí với nhau là xoá đi và đã xóa rồi. Nói rõ ra là do tôi không đồng ý, hai anh đành phải xoá. Nhưng dẫu sao Google (và cả Yahoo) cũng đã lưu, nên thật là tai hại!

Tôi nói thật là tai hại, vì trong bài viết của bạn Trần Hữu Dũng có một vài thông tin sai lạc, nhất là câu “Sách dày 462 trang gồm nhiều khảo luận của các nhà nghiên cứu như Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển, Đoàn Quang Hưng, Võ Xuân Đàn, Nguyễn Tôn Nhan…”.

Như tôi đã nói lại với anh Nguyễn Hoà và bạn Trần Hữu Dũng, anh Nguyễn Tôn Nhan không viết một câu nào trong cuốn sách ấy. Anh Nhan chỉ phiên âm (45 bài ông Trần Đại Vinh và ông Vũ Đức Sao Biển đã phiên âm, anh Nhan chỉ dò lại) và dịch nghĩa (chứ không dịch thơ) khoảng 20 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Văn Tường mà thôi. Nói cho ngay, phần dịch nghĩa của anh Nguyễn Tôn Nhan, tôi cũng đã biên soạn lại, cho phù hợp với cách dịch nghĩa khoa học (không xem nặng phần xuôi tai, dễ đọc). Tôi đã ghi rõ ở TRANG 3 và ở phần LỜI THƯA ĐẦU SÁCH.

Nếu đọc bài của bạn Trần Hữu Dũng, người ta sẽ không hiểu tại sao bạn Trần Hữu Dũng không nhắc đến bài khảo luận sử học của tôi (Trần Xuân An); thậm chí có người hiểu là trong cuốn sách ấy còn có bài khảo luận của anh Nguyễn Tôn Nhan !!!???

Phải chăng “ai đó” cố tình “chơi khăm”. Khi người ta “chơi khăm”, cố tình tạo ra sự cố, mình cãi, tức là mình mắc mưu người ta rồi!

Và chúng ta rất cần bình tĩnh kẻo sa vào kế li gián!

Đề nghị anh Nguyễn Hoà và bạn Trần Hữu Dũng giải quyết vấn đề này (*).

Trân trọng,

Quý mến,

Trần Xuân An.

_________________

(*) Có thể đề nghị GOOGLE (và YAHOO) xoá trang CACHE này khỏi bộ nhớ GOOGLE (và bộ nhớ YAHOO).

 

_________________________

 

Xem thêm:

http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/anpham_chitiet.asp?APSID=342

VĂN CHƯƠNG VIỆT

Tư liệu văn hoá nghệ thuật

 

THơ NGUYễN VăN TườNG (1824-1886) – VÀI NÉT Về CON NGườI, TÂM HồN VÀ Tư TưởNG, NXB. THANH NIÊN, QUÝ 2 2008 – TRẦN XUÂN AN BIÊN SOạN, KHảO CứU

 

 

 

Nnc. TRẦN VIẾT NGẠC sưu tầm, khảo luận sử học (thay lời giới thiệu) -Nnc. TRẦN ĐẠI VINH, Nnc. VŨ ĐỨC SAO BIỂN phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, khảo luận sử học & giới thiệu thi tập – Gs. ĐOÀN QUANG HƯNG, PGs.Ts. VÕ XUÂN ĐÀN khảo luận sử học – Nnc. NGUYỄN TÔN NHAN phiên âm, dịch nghĩa – Ts. NGÔ THỜI ĐÔN hiệu đính các bản dịch – TRẦN XUÂN AN biên soạn, khảo cứu (tổ chức nội dung, khảo luận sử học, sưu tầm thơ ngoài tập, thơ phụ lục, chú thích và bị chú phản biện các bài khảo luận của các tác giả, chú giải thơ, chuyển ra ngôn ngữ thơ trên cơ sở các bản phiên dịch Thi tập, thơ ngoài tập, thơ phụ lục chữ Hán…).

NHỮNG THÔNG TIN Ở TRANG NÀY   http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/anpham_chitiet.asp?APSID=342  LÀ HOÀN TOÀN CHÍNH XÁC.

________________________________________

Quay lại trang 16 “Bài mới – sách mới – tin tức mới” (WebTgTXA.):

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/baimoi-sachmoi-tinmoi-16

Trang này được đưa lên mạng liên thông toàn cầu (internet) vào chiều ngày 16-7 HB8 (2008); bổ sung vào sáng 17-7 HB8

 

Đăng trong Khong nen vo tinh tao su co | Tagged: | 11 phản hồi »

Ban them ve Thong bao Can vuong, Du Can vuong, Chieu Can vuong

Đăng bởi txawriter on Tháng Sáu 25, 2008

hidden hit counter 

Bàn thêm về Thông báo Cần vương (Cáo dụ Cần vương), Dụ Cần vương, Chiếu Cần vương:

http://tranxuanan.writer.3.googlepages.com/txa_banthem_thbao-du-chieucanvuong.pdf

http://tranxuanan.writer.3.googlepages.com/chieucanvuong-7al-1885-leninh.htm

BÀN THÊM VỀ

THÔNG BÁO CHO THIÊN HẠ CẦN VƯƠNG (CÁO DỤ CẦN VƯƠNG),

LỆNH DỤ THIÊN HẠ CẦN VƯƠNG

& CỤM TỪ “TỜ CHIẾU CẦN VƯƠNG CỦA VUA HÀM NGHI”

 

Trần Xuân An

 

 

Vài lời của người viết (TXA.) – 22-6 HB8: Trước khi viết và ngay sau khi viết xong từng phần, đưa lên WebTgTXA., tôi liền gửi đến những nhà nghiên cứu sử học và một số bạn bè trong giới cầm phấn và cầm bút. Trong các điện thư với những dòng chữ phúc đáp ngắn gọn, có điện thư của TS. Phan Văn Hoàng (TP.HCM.). Xin trân trọng chép lại điện thư khích lệ, động viên rất chân tình ấy (gửi qua Gmail, 19-6-‘’08):

“Cảm ơn anh Trần Xuân An đã gửi cho những bài viết đầy tâm huyết và có giá trị về mặt sử liệu.

Tôi đã chuyển tiếp (forward) cho nhiều nhà nghiên cứu để họ có được cái hân hạnh như tôi.

Kính chúc anh sức khoẻ và có thêm những công trình nghiên cứu có giá trị.

Thân ái,

Phan Văn Hoàng”.

 

 

 

Phần I   

 

Vấn đề “Thông báo cho thiên hạ cần vương” (Cáo dụ Cần vương), “Lệnh dụ Thiên hạ cần vương” và cụm từ “Tờ chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” thật ra đã rạch ròi, rốt ráo và đạt được sự nhất trí cao, nhưng để tránh trước những vướng mắc còn lại, có thể “tái phát” như trên báo chí trong hơn một tháng gần đây, tưởng cũng cần bàn thêm cho thật rõ ràng, kĩ lưỡng một lần cuối.

 

Trước hết, để giải toả vướng mắc về vấn đề trên, xin liệt kê những văn bản có nội dung Cần vương mà Hàm Nghi – Tôn Thất Thuyết đã phát đi như sau:

 

1. “Thông báo cho thiên hạ cần vương” (Cáo dụ Cần vương): “Đại Nam thực lục chính biên” (ĐNTL.CB.), kỉ Kiến Phúc – Hàm Nghi, ghi chép: “Giờ ngọ [:11 – 13 giờ trưa, ngày 23-5 Ất dậu, tức 05-7-1885, xa giá], mới đến xã Văn Xá, nghỉ một chút, [Tôn Thất] Thuyết tức thì kèm vâng mệnh vua, đêm qua tình hình vua phải ra đi thông báo cho thiên hạ cần vương, lần lượt tư cho Nam – Bắc tuân làm” (1). Căn cứ vào nội dung tóm lược ấy, chúng ta có thể định danh thể văn được sử dụng là cáo hay chiếu (thông báo rộng khắp), và cũng có thể tạm gọi “Cáo dụ Thiên hạ Cần vương”, “Bá cáo Thiên hạ Cần vương” hoặc “Chiếu Cần vương”. Nhưng có lẽ dùng từ chiếu là không thích đáng, vì đây chỉ là một thông báo sơ khởi, kịp thời, chứ chưa là văn bản chính thức.

 

2. “Lệnh dụ Thiên hạ cần vương” (Dụ Cần vương): ĐNTL.CB., sđd., cũng ghi nhận: “Tôn Thất Thuyết còn giữ giá vua còn đóng ở [Sơn] phòng Quảng Trị, đã kèm vua ra Lệnh dụ Thiên hạ cần vương, lại sẽ dụ bảo Nguyễn Văn Tường và yên ủi những người họ mạc ở trong kinh, [mỗi thứ] đều một đạo [đạo: bản văn], do đường dịch lộ chuyển về kinh [đô]. (Khi ấy tự [Sơn] phòng đến kinh [đô] ống trạm còn chuyển đệ được). Đó là việc từ mồng 7 tháng này [tháng 6 Ất dậu] trở về trước” (2). Đây là Dụ Cần vương chính thức (và duy nhất, với nội dung cần vương), ngày tháng viết dụ và ban dụ được ghi trên văn bản mà giới nghiên cứu từ lâu sưu tầm được là 02-6 Ất dậu (13-7-1885).  

 

Ngoài ra, còn thấy ở vài đoạn ĐNTL.CB. khác, có nhắc đến “Lệnh dụ Thiên hạ cần vương”  với tên gọi rút gọn là “Dụ Cần vương”:

 

2a. “Tháng trước thân hào tỉnh ấy [Bình Định] cũng nghe ở hành tại [:nơi vua đóng] có Dụ Cần vương, mưu dấy quân, bèn họp đem những lính kinh [đô] tan về và lính dõng ở dân, đốt phá nhà đạo [:giáo đường Thiên Chúa giáo], dìm chết giáo dân, rồi đem binh dân ước hơn vạn người, quanh tới tỉnh thành, yêu cầu cấp cho khí giới…” (3).

 

2b. “… nghe có Dụ Cần vương ở hành tại, phần nhiều [quan dân nước ta] bảo quan Pháp bội với lời minh [ước], hòng toan gây việc như ở Quảng Ngãi, Bình Định ấy. Bọn côn đồ nhân đó gá mượn theo bóng thừa cơ cướp của giết người, lương – giáo phục thù, nhờ đó càng thêm ngông ngược…” (4).

 

3. “Sắc [dụ] cho tỉnh Hà Tĩnh” (về việc vận tải, rước vua): Chép lại theo ĐNTL.CB., sđd.: “ Xe vua đến Hàm Thao ([Tôn Thất] Thuyết gần kèm xe vua đến sách [:buôn làng] Bờ Cạn, vào ngày 20 tháng này [:tháng 7 Ất dậu / 1885] thì nghỉ chân ở xứ này, gần phía bắc sông Khung Giang [:Mê Kông], [từ nơi đó] đến Sơn phòng Hà Tĩnh chừng 7 ngày), sắc cho tỉnh Hà Tĩnh vận lương, mở đường, rước xe vua đến sơn phòng tỉnh ấy(5). Cũng có thể xem đây là một văn bản có nội dung cần vương (“hết lòng, hết sức với việc của nhà vua” (6)), nhưng bản sắc dụ này không có tính chất quan trọng như bản Dụ Cần vương ở Tân Sở, Quảng Trị, mà chỉ là một thông lệnh với vụ việc vận tải, đón rước bình thường thời kháng chiến như đoạn trích trên đã ghi.

 

4. “Tờ chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” : Cụm từ này thấy xuất hiện trong ĐNTL.CB., kỉ Đồng Khánh:

 

 

 

 

“Lê Ninh ở Hà Tĩnh (người La Sơn, là con bố chính Lê Kiện) họp quân bức giữ tỉnh thành, bố chính sứ là Lê Đại bị hại [(đây là câu đề của tiểu mục)]:

 

[(Phần thuyết của đề mục:)] Bấy giờ thân hào hạt ấy nhận được tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, nhiều nơi tụ họp dân chúng để [hưởng] ứng mệnh [lệnh]. Tỉnh thần [Lê Đại, Trịnh Văn Bưu] lúc đầu cũng nghe theo, về sau việc làm trái hẳn với nhau [:với thân hào] (mật sức [:bí mật điều động] các nhà đạo [Thiên Chúa] ngầm dồn giáo dân lại, ở tỉnh nếu có triệu đi thì tới ngay để [dự] phòng [cho việc] sai phái; lại uỷ cho quan án [sát] cùng phái viên ở kinh [đô] đi đến thượng du đón chặn xe xuất đế) nên bị mọi người ghét. [Lê] Ninh bèn tự đem quân bản đạo (7), thẳng bức tỉnh thành; quân đóng ở trong thành, thấy quân ngoài đến, mở cửa dẫn vào; [Lê] Ninh vào thẳng trong thành, bắt [Lê] Đại giam chặt, thu lấy tiền lương, súng ống, khí giới, rồi đem Đại thắt cổ giết chết…

 

Án sát Trịnh Văn Bưu, tháng trước đến thượng du đón xe xuất đế [Hàm Nghi] không được; đến nay trở về cũng bị quân đạo [:đội quân] khác bắt được, rồi nhân bệnh chết. Tỉnh thành đã không giữ được; phủ, huyện đều bỏ thành trốn tránh, toàn hạt đâu cũng khởi binh, ứng tiếp cùng nhau. Dân bên [Thiên Chúa] giáo sợ chúng ức bách, nên chỗ này chỗ khác nổi lên trước, cùng binh dân như là thù hằn; tai ách binh lửa, so với các hạt là hơn cả” (8 ).

 

“Tờ chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi”  này là cụm từ duy nhất trong “Đại Nam thực lục” (các kỉ liên quan) có 3 chữ “CHIẾU CẦN VƯƠNG”, lại được xác định bằng một định ngữ “của vua Hàm Nghi”. Xin xác định trước, đây không phải là một văn bản khác, mà chính là một trong 2 văn bản ghi trên, hoặc “Thông báo cho thiên hạ cần vương” (Cáo dụ Cần vương) hoặc “Lệnh dụ Thiên hạ cần vương” mà thôi. Người viết bài này (Trần Xuân An) xin phân tích cặn kẽ ở phần sau.

 

5. Lời kêu gọi sĩ dân Bắc Kỳ hưởng ứng Dụ Cần vương: Trước hết, đề nghị lưu ý về cụm từ “mượn tiếng danh nghĩa, cổ động, mê hoặc sĩ dân”: Vẫn chép lại ĐNTL.CB.: “[Đồng Khánh] lại cho là giặc [Tôn Thất / Lê] Thuyết hiện nay về đến Sơn phòng Hà Tĩnh, mượn tiếng danh nghĩa, cổ động, mê hoặc sĩ dân, mới biết rõ giặc [Tôn Thất / Lê] Thuyết là người như thế nào. [Đồng Khánh] tiếp tục dụ sĩ dân Bắc Kỳ rằng: [... TXA. lược bớt ...] …” (9). Từ “mê hoặc” ở câu tóm lược của Quốc sử quán về văn bản mà Tôn Thất Thuyết đã kèm vua Hàm Nghi để ban bố tại Hà Tĩnh (tháng 9 Ất dậu 1885) đã được chính bản dụ của Đồng Khánh làm rõ: “… Ngày tháng 5 [23-5 Ất dậu], đô thống đại thần Đại Pháp [De Courcy] mời đến bàn bạc, [Tôn Thất Thuyết] tự đem lòng nghi sợ, mưu cho thân mình, nguy đến tôn xã, bắt hiếp vua phải đi, mà hiệu lệnh đều do tay hắn. Nay lại nói là khôi phục, để mê hoặc sĩ dân, tuy người có kiến thức cố nhiên không bị hắn mê hoặc được, nhưng chỉ sợ bên ngoài nghe thấy chưa được giống nhau, thì hoặc nói thác là cần vương, hoặc xướng là khởi nghĩa, trong Nam ngoài Bắc ồn ào lên, hại đến dân các địa phương…” (9). Đoạn trích này cũng có thể tiêu biểu cho nội dung của cả bản dụ, chung quy chỉ gồm 2 ý lớn: một là vạch trần bản chất, âm mưu cướp ngôi của Tôn Thất Thuyết; hai là kêu gọi sĩ dân Bắc Kỳ đừng ủng hộ Tôn Thất Thuyết. Tất nhiên khỏi phải nói đến bản chất hèn hạ, trái tình nghịch lí của tên vua bù nhìn Đồng Khánh (mà thực chất là do Nguyễn Hữu Độ và các tên tay sai khác viết), thể hiện ở bản dụ này. Tuy nhiên, xét về mặt văn bản, thì đây chính là văn bản phản hồi, luận chiến với văn bản của Tôn Thất Thuyết – Hàm Nghi ban bố tại Hà Tĩnh. Có một điều cần ghi nhận là bản dụ của Đồng Khánh không có chi tiết luận chiến, phản hồi nào đề cập đến Nguyễn Văn Tường như nhiều người cứ ngỡ. Với các chi tiết phản hồi, luận chiến trên cộng với câu tóm lược của Quốc sử quán về nội dung văn bản, người nghiên cứu có thể xác định tuyệt đối về nội dung Tôn Thất Thuyết – Hàm Nghi đã ban bố qua văn bản này. Nói gọn lại, nội dung văn bản này chính là lời kêu gọi sĩ dân Bắc Kỳ hưởng ứng Dụ Cần vương, vốn đã ban bố tại Tân Sở, Quảng Trị, của Tôn Thất Thuyết – Hàm Nghi, và chỉ như thế mà thôi. Văn bản này cùng được ban hành vào một thời điểm, tại một địa điểm cũng như “Chiếu chỉ triệu thân hào hạt Hà Tĩnh, chia đặt quan lại [...], đóng chặn chỗ xung yếu [...], làm kế đóng trường kì” dưới đây.

 

6. “Chiếu chỉ triệu thân hào hạt Hà Tĩnh, chia đặt quan lại [...], đóng chặn chỗ xung yếu [...], làm kế đóng trường kì” (10): Đây mới đích thực là văn bản được gọi chính xác là “chiếu” (“chiếu chỉ”, trong chiếu có chỉ dụ; hoặc vừa ban chiếu bao quát vừa ban các chỉ dụ cụ thể). Bản chiếu này có nội dung mang tính chất long trọng như chiếu dời đô, ở đây là vừa dời đô vừa thành lập một triều đình mới – triều đình kháng chiến – tại một địa điểm mới, đúng như tên gọi thể văn. Chiếu: văn bản có nội dung long trọng, quan trọng, tầm bao quát rộng lớn, do vua ban bố cho thần dân, quan lại trong toàn vương quốc được rõ việc trọng đại nhà vua sẽ hay đang làm, chứ không phải là một sắc lệnh, lệnh dụ có tính chất vừa bắt buộc vừa khích lệ thần dân, quan lại thực hiện với trong sự tuân thủ, chấp hành, có thưởng phạt nghiêm minh. Xin chép nguyên văn bản tóm lược của Quốc sử quán: “Tháng trước [tức tháng 9 Ất dậu 1885], [Tôn Thất] Thuyết đem Hàm Nghi đế đến Nha Sơn phòng, dùng chiếu chỉ triệu thân hào hạt Hà Tĩnh, chia đặt quan lại (cho: viên ngoại Phan Quang Cư làm bố chính sứ Hà Tĩnh; nguyên tri phủ Phan Khắc Hoà làm án sát; nguyên án sát Lạng Sơn Hoàng Xuân Phong làm sơn phòng sứ; Phan Đình Phùng làm tán lí; Phan Trọng Mưu làm tham biện sơn phòng; còn các người khác, đều lượng trao cho quan chức, sai chia đi triệu mộ quân, nhưng đóng lản tản, tiếp ứng cùng nhau), đóng chặn chỗ xung yếu (đường thuỷ, ở phận xã Trúc Lâm, vào quãng ngã ba sông đi đến sơn phòng; đường bộ, xứ Trung Bát núi Hiệu Sơn, tiếp giáp phận núi về huyện Thạch Hà, Hương Khê, đều phái quân cùng quân mới ứng mộ chia giữ các nơi ấy), làm kế đóng trường kì(10). Văn bản này, ngay trong mục tháng 9 Ất dậu của biên niên sử ĐNTL.CB., kỉ Đồng Khánh, đã bị Đồng Khánh dùng một bản dụ để luận chiến, đập lại.

 

Ở phần này của bài viết, tôi đã thống kê thành 6 tiểu mục, nhưng thực sự chỉ có 5 văn bản do Tôn Thất Thuyết – Hàm Nghi ban bố liên quan đến việc cần vương mà thôi. Như đã viết, tiểu mục 4  thực chất chỉ là một cụm từ khác (“Tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi”) để gọi một trong hai văn bản ở 2 tiểu mục 1 và 2, hoặc “Thông báo cho thiên hạ cần vương” (Cáo dụ Cần vương) hoặc “Lệnh dụ Thiên hạ cần vương” (Dụ Cần vương).

 

Để rõ ràng hơn, xin liệt kê các nhan đề như sau:

 

1. Văn bản thứ nhất (tiểu mục 1.): “Thông báo cho thiên hạ cần vương” (Cáo dụ Cần vương), 23-5 Ất dậu (05-7-1885), tại Văn Xá, Thừa Thiên.

 

2. Văn bản thứ hai (tiểu mục 2.): “Lệnh dụ Thiên hạ cần vương” (Dụ Cần vương), 02-6 Ất dậu (13-7-1885), tại Tân Sở, Cam Lộ, Quảng Trị.

 

3. Văn bản thứ ba (tiểu mục 3.): “Sắc [dụ] cho tỉnh Hà Tĩnh” (về việc vận lương, mở đường, rước vua), 20-7 Ất dậu (29-8-1885), tại Hàm Thao, Quảng Bình.

 

4. Văn bản thứ tư (tiểu mục 5.): Lời kêu gọi sĩ dân Bắc Kỳ hưởng ứng Dụ Cần vương (có thể là Dụ hoặc Hịch sĩ dân Bắc Kỳ), không xác định được ngày, vào tháng 9 Ất dậu (08-10 – 06-11-1885), tại Sơn phòng Hà Tĩnh.

 

5. Văn bản thứ năm (tiểu mục 6.): “Chiếu chỉ triệu thân hào hạt Hà Tĩnh, chia đặt quan lại, đóng chặn chỗ xung yếu, làm kế đóng trường kì””, không xác định được ngày, vào tháng 9 Ất dậu (08-10 – 06-11-1885), tại Sơn phòng Hà Tĩnh.

 

Trong 5 văn bản trên, cho đến nay, chúng ta chỉ có duy nhất một văn bản tìm được ở bộ “Trung – Pháp – Việt chiến tranh tư liệu”, theo học giả Hoàng Xuân Hãn, hiện còn lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Đài Loan; các nhà nghiên cứu trong Nam ngoài Bắc đều đã biết và đã dịch ra tiếng Việt (bản dịch của Lê Thước, Chu Thiên Hoàng Minh Giám…). Tuy nhiên, qua “Đại Nam thực lục, chính biên”, với những câu tóm lược (theo nguyên tắc và luật pháp bấy giờ, Quốc sử quán không thể xuyên tạc) chúng ta cũng biết được chính xác nội dung của 4 văn bản còn lại.

 

Vấn đề còn lại và cũng là vấn đề chính của bài viết: Tại sao có cụm từ “Tờ chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” trong Đại Nam thực lục, chính biên, kỉ Đồng Khánh?

 

 

 

– Phần II –

 

Trích đoạn từ “Đại Nam thực lục, chính biên”, kỉ Đồng Khánh, ghi chép về việc khởi binh cần vương của Lê Ninh (1857-1887) và cuộc tấn công của quân binh do ông chỉ huy, chiếm dinh thành tỉnh Hà Tĩnh, về mặt hình thức, có thể nói là một tiểu mục trọn vẹn tiêu biểu cho cách viết sử biên niên của Quốc sử quán triều Nguyễn. Qua đó, chúng ta biết chắc chắn, chính xác là sự kiện ấy diễn ra vào tháng 8 Ất dậu (09-9 – 07-10-1885), vì đơn giản là nó được chép lại, đặt vào mục tháng 8 Ất dậu (11) thuộc đệ lục kỉ của bộ sử:

 

“Lê Ninh ở Hà Tĩnh (người La Sơn, là con bố chính Lê Kiện) họp quân bức giữ tỉnh thành, bố chính sứ là Lê Đại bị hại:

 

Bấy giờ thân hào hạt ấy nhận được tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, nhiều nơi tụ họp dân chúng để ứng mệnh. Tỉnh thần lúc đầu cũng nghe theo, về sau việc làm trái hẳn với nhau (mật sức các nhà đạo ngầm dồn giáo dân lại, ở tỉnh nếu có triệu đi thì tới ngay để phòng sai phái; lại uỷ cho quan án cùng phái viên ở kinh đi đến thượng du đón chặn xe xuất đế) nên bị mọi người ghét. Ninh bèn tự đem quân bản đạo, thẳng bức tỉnh thành; quân đóng ở trong thành, thấy quân ngoài đến, mở cửa dẫn vào; Ninh vào thẳng trong thành, bắt Đại giam chặt, thu lấy tiền lương, súng ống, khí giới, rồi đem Đại thắt cổ giết chết…

 

Án sát Trịnh Văn Bưu, tháng trước đến thượng du đón xe xuất đế không được; đến nay trở về cũng bị quân đạo khác bắt được, rồi nhân bệnh chết. Tỉnh thành đã không giữ được; phủ, huyện đều bỏ thành trốn tránh, toàn hạt đâu cũng khởi binh, ứng tiếp cùng nhau. Dân bên giáo sợ chúng ức bách, nên chỗ này chỗ khác nổi lên trước, cùng binh dân như là thù hằn; tai ách binh lửa, so với các hạt là hơn cả” (8 ).

 

Tuy nhiên, “tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” được vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) ban bố vào lúc nào, tại đâu, có nội dung gì, và thân hào cũng như quan chức ở hạt Hà Tĩnh nhận được lúc nào?

 

Người viết cố ý nhấn mạnh, làm đậm nét các từ và các cụm từ để phân tích xoáy sâu vào đó.

 

“Bấy giờ” là một từ được dùng làm trạng ngữ, chỉ một thời đại hay một thời điểm, thậm chí là một khoảnh khắc thuộc thì quá khứ. Chỉ có thể hiểu cụ thể hơn nhờ những câu kế tiếp.

 

Chúng ta biết rằng, để làm rõ nội dung đã được diễn đạt là “về sau việc làm trái hẳn với nhau”, “nên bị mọi người ghét”, Quốc sử quán đã liệt kê 2 việc, đồng thời để trong hai ngoặc đơn: “(mật sức các nhà đạo ngầm dồn giáo dân lại, ở tỉnh nếu có triệu đi thì tới ngay để phòng sai phái; lại uỷ cho quan án cùng phái viên ở kinh đi đến thượng du đón chặn xe xuất đế)”. Chính mệnh đề diễn đạt sự việc “lại uỷ cho quan án cùng phái viên ở kinh đi đến thượng du đón chặn xe xuất đế” này, ở đoạn kế tiếp, được xác định thời điểm diễn ra sự việc ấy. Đó là “tháng trước”: “Án sát Trịnh Văn Bưu, tháng trước đến thượng du đón xe xuất đế không được”. Do đó, không nghi ngờ gì nữa, 2 việc “về sau” ấy, đã bắt đầu diễn ra trong tháng 7 Ất dậu (10-8 – 08-9-1885). Và cũng từ đó, chúng ta suy ra một cách rất toán học, “lúc đầu” phải là thời điểm trước tháng 7 Ất dậu. Và “lúc đầu” ấy chính là thời điểm thân hào hạt Hà Tĩnh và tỉnh thần (các kẻ bầy tôi – quan chức – cấp tỉnh) nhận được “tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi”. Như vậy, đáp số cần tìm là, “tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” phải được viết và ban bố vào thời điểm trước tháng 7 Ất dậu 1885 hoặc vào thượng tuần tháng 7 Ất dậu 1885.

 

Như đã xác định ở phần I của bài viết này, “tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” không thể là “Chiếu Cần vương – Gosselin – 19-9-1885”; nó chỉ có thể là một trong 2 văn bản:

 

1. Văn bản thứ nhất (tiểu mục 1.): “Thông báo cho thiên hạ cần vương” (Cáo dụ Cần vương), 23-5 Ất dậu (05-7-1885), tại Văn Xá, Thừa Thiên.

 

2. Văn bản thứ hai (tiểu mục 2.): “Lệnh dụ Thiên hạ cần vương” (Dụ Cần vương), 02-6 Ất dậu (13-7-1885), tại Tân Sở, Cam Lộ, Quảng Trị.

 

Nhưng “Lệnh dụ Thiên hạ cần vương” (Dụ Cần vương) cũng đã được cố định từ ngữ cũng như thời điểm viết và ban bố. Vậy, chỉ còn là văn bản thứ nhất. Ngẫm nghĩ cho tận lẽ, “thông báo cho thiên hạ” chính là “chiếu” ( ) (12), nếu không dùng hai chữ “cáo dụ” ( ) hoặc “cáo” ( ) để thay thế.

 

Một lẽ khác, đây chỉ là một cụm từ xuất hiện trong tiểu mục khởi binh và chiếm thành Hà Tĩnh của Lê Ninh; ngoài ra, không như quy cách của 5 văn bản mà tôi đã thống kê được, là nó không có các câu chữ tóm lược nội dung văn bản, thời điểm, địa điểm ban bố văn bản. Đây cũng là một lẽ, hay một luận cứ, rất quan trọng, nhằm làm sáng tỏ kết luận vừa viết.

 

Để góp phần vào việc khảo chứng, xin trích một đoạn trong tập tài liệu “Hà Tĩnh Ất dậu kí” của dòng họ Lê ở Trung Lễ, Đức Thọ, Hà Tĩnh, do cụ Trác Viên cung cấp cho GS.TS. Nguyễn Phan Quang, mặc dù chỉ đọc lướt qua cũng đã thấy trong tập kí sự này việc ghi sai tên người, ngày tháng, cũng như các chi tiết quanh sự kiện là khá nhiều:

 

“Ông Tôn Thất Thuyết thấy 4 đạo quân của ông Tán Ninh [Lê Ninh] rất chỉnh tề, tướng tá hùng dũng, bèn tâu vua sắc cho ông Lê Ninh đem quân về lấy thành Hà Tĩnh và bắt bố chánh Lê Đại đem lên nạp tại Sơn phòng. Lúc này, quan bố chánh thủ hiến Hà Tĩnh là ông Lê Đại, án sát là ông Dương Thanh [???], thương biện là ông Lê Kính Hạp… (13).

 

Lúc đó, Tôn Thất Thuyết đang ở Quảng Bình, chưa ra đến Hà Tĩnh.

 

Ông Lê Đại tiếp được tờ mật tri của Bộ [Lễ – TXA. chua thêm] nói về việc cải Hàm Nghi nguyên niên làm Đồng Khánh nguyên niên, bắt đầu từ tháng 6 Ất dậu [1885] [???] và sức cho tỉnh hẹn khi nào giá vua Hàm Nghi ra Hà Tĩnh thì đem quân ra hiếp giá đem về” (13).

 

“Hà Tĩnh Ất dậu kí” còn cho biết, lá cờ của đạo quân Lê Ninh có 4 chữ “Cần vương phụng chỉ” (12).

 

“… Khi đội quân ấy vào trong thành rồi mà quan bố vẫn tưởng là quân mình, cho nên họ đến sát bên cạnh mà ngài không biết, chỉ nghe một tiếng hô như sét, rồi ngài bị trói, tiếp theo là tiếng hô “Hàm Nghi vạn tuế” và “Phụng chỉ Cần vương” dậy một phương trời… [... TXA. lược bớt ...] … bèn cho ông được uống thuốc độc tự tử” (13).

 

Dẫu sao, qua tư liệu tham khảo (và chỉ tham khảo) ghi trên, đặc biệt là qua các cụm từ “bắt đầu từ tháng 6 Ất dậu [1885]”, “Cần vương phụng chỉ”, “Phụng chỉ Cần vương”, chúng ta có thể thấy 2 điều:

 

Một là, “bắt đầu từ tháng 6 Ất dậu [1885]”, “và sức cho tỉnh hẹn khi nào giá vua Hàm Nghi ra Hà Tĩnh thì đem quân ra hiếp giá đem về”, Lê Đại đã theo lệnh De Champeaux, nên từ đó, phối kiểm với trích đoạn trên từ ĐNTL.CB., sđd., chúng ta thấy “tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” mà thân hào và quan tỉnh Hà Tĩnh nhận được chắc chắn phải là “Thông báo cho thiên hạ cần vương” (Cáo dụ Cần vương), 23-5 Ất dậu (05-7-1885), tại Văn Xá, Thừa Thiên (14).

 

Hai là, cờ của đạo quân Lê Ninh chỉ huy “phụng chỉ Cần vương” chứ không phải “phụng chiếu Cần vương”, mặc dù “chỉ” ( ) và “chiếu” ( ) có vài nét nghĩa khác nhau. Có lẽ các từ “chiếu”, “chỉ”, “dụ”, “cáo” thường không được phân biệt cho thật rạch ròi, vì nội hàm của chúng có nhiều nét nghĩa giao thoa với nhau.

 

Tuy vậy, như đã viết ở đoạn trên của phần II này, luận cứ quan trọng nhất chính là xác định đúng thời điểm cuộc khởi binh do Lê Ninh chỉ huy, đánh chiếm thành Hà Tĩnh. ĐNTL.CB. đã ghi chép, đó là vào tháng 8 Ất dậu (09-9 – 08-10-1885), chứ không phải như trong “Hà Tĩnh Ất dậu kí”. Qua công trình liệt kê sự kiện lịch sử cận đại (mặc dù có những sai lệch), nhà nghiên cứu Dương Kinh Quốc đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt trong việc đối chiếu âm lịch với dương lịch; chính ông cũng xác định thời điểm Lê Ninh tiến hành cuộc tấn công tiêu diệt Lê Đại tại thành Hà Tĩnh ấy là “khoảng tháng 9-1885”, tức là tháng 8 Ất dậu (15), và thời điểm Lê Ninh nhận “tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” (ĐNTL.CB. goi là “lúc đầu…”) là tháng 7-1885 (xin lưu ý, cuộc kinh đô quật khởi, bị thất thủ, 05-7-1885, nhằm ngày 23-5 Ất dậu):

 

“Tháng 7-1885

 

Hưởng ứng Chiếu Cần vương của Hàm Nghi, Lê Ninh dấy quân khởi nghĩa chống Pháp ở Hà Tĩnh. Khoảng tháng 9-1885, nghĩa quân Lê Ninh đánh chiếm tỉnh thành Hà Tĩnh, giết bố chính Lê Đại.

 

Lê Ninh (tức Ấm Ninh, hay Bang Ninh), người La Sơn, Hà Tĩnh, con bố chính Lê Kiện. Lê Ninh lập căn cứu chống Phap tại làng Trung Lễ, xã Cổ Ngu. – Sau khi nghĩa quân đánh chiếm tỉnh thành Hà Tĩnh, giặc Pháp liền đem quân đến khu căn cứ nghĩa quân để đàn áp trả thù… – …” (15).

 

Như thế, Dương Kinh Quốc đã góp phần xác định thời điểm trong ĐNTL.CB. chúng ta đang khảo chứng là không sai. Do đó, chúng ta có thể khẳng quyết như đã khẳng quyết: Đáp số cần tìm là, “tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” phải được viết và ban bố vào thời điểm trước tháng 7 Ất dậu 1885 (10-8 – 09-9-1885) hoặc vào thượng tuần tháng 7 Ất dậu 1885 (sớm nhất là từ ngày 23-5 Ât dậu; và thậm chí, muộn nhất cũng vào khoảng thượng tuần tháng 7 Ất dậu).

 

 

 

 

 

Đối chiếu với “Chiếu Cần vương” do Gosselin “công bố”, ta thấy ngày tháng được ghi trong đó là 11-8 Ất dậu (19-9-1885); do đó, “tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” không thể là “Chiếu Cần vương – Gosselin”.

 

Qua đây, cũng xin lưu ý thêm: Cuộc khởi nghĩa của Lê Ninh thuộc vào loại sớm nhất (chỉ sau cuộc khởi binh của Nguyễn Xuân Ôn) và mạnh mẽ nhất, trước cả cuộc khởi nghĩa của Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi. Tuy vậy, phụ chính Nguyễn Văn Tường chỉ xem mỗi một, duy nhất cuộc khởi nghĩa của Lê Trung Đình là thuộc vào loại “nổi loạn” (vì Lê Trung Đình toan tôn phù Tuy Lý vương Miên Trinh) (16). Điều đó có nghĩa là ông hoàn toàn đồng tình với Nguyễn Xuân Ôn và nhất là với Lê Ninh, mặc dù có lẽ ông đã bị giặc Pháp lưu đày (06-9-1885) trước khi Lê Ninh tấn công vào thành Hà Tĩnh (khoảng tháng 9-1885).

 

Tóm lại, cho dẫu gạt đi “Hà Tĩnh Ất dậu kí” ra khỏi bài viết này, vì bản thân tập kí tư liệu ấy không chính xác lắm, chúng ta cũng có thể kết luận như đã kết luận:

 

“Tờ Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi” không thể là “Chiếu Cần vương – Gosselin – 19-9-1885”; nó chỉ có thể là “Thông báo cho thiên hạ cần vương” (Cáo dụ Cần vương), 23-5 Ất dậu (05-7-1885), tại Văn Xá, Thừa Thiên. “Chiếu Cần vương – Gosselin – 19-9-1885” vẫn chỉ là một văn bản giả mạo, và “Chiếu Cần vương – D’Argenlieu – 03-7-1889” lại càng giả mạo hơn.

 

 

– Kết –

 

Một lần cuối, xin khẳng định, “Chiếu Cần vương – Gosselin – 19-9-1885”“Chiếu Cần vương – D’Argenlieu – 03-7-1889” chỉ là 2 văn bản giả mạo, nhằm li gián Nguyễn Văn Tường với phong trào Cần vương, triệt hạ uy tín của ông sau khi đã lưu đày ông, và vì những mục đích xấu xa khác.

 

Có lần tôi đã viết rõ: Trên cơ sở nhận thức rằng, những lãnh tụ, thủ lĩnh phong trào Cần vương không thể dám vi phạm luật pháp ở mức độ nghiêm trọng như giả mạo sắc dụ, chiếu chỉ của vua, tôi nghĩ đến khả năng chính bọn mật thám Pháp, các linh mục đội lốt tôn giáo khác như giám mục Puginier (tôi không vơ đũa cả nắm!), chúng đã bịa tạo ra các bản chiếu Cần vương giả mạo này để li gián “kẻ ở, người đi” (hoạt động hợp pháp, bán hợp pháp và lên rừng kháng chiến), và càng về sau là để nhử các người yêu nước, ủng hộ phong trào Cần vương, phong trào kháng Pháp, để rồi một khi chúng đã nắm được họ, chúng bắt bớ, tù đày họ. Tôi cho rằng, “Chiếu Cần vương – Gosselin – 19-9-1885”“Chiếu Cần vương – D’Argenlieu – 1889” và các chỉ dụ giả mạo khác có thể (95%) đều thuộc loại này; một số khác (5%) còn lại là do những kẻ thảo khấu táo tợn khác (nói chung là bọn phỉ) giả mạo, nhằm mục đích kiếm chác tiền vàng, lương thực.

 

Những tư liệu sau đây mới thực sự là những luận chứng vững chắc để chứng minh kết luận đó:

 

1. Lệnh dụ Thiên hạ Cần vương (Dụ Cần vương), 02-6 Ất dậu (13-7-1885) (17);

 

2. Dụ Nguyễn Văn Tường, 02-6 Ất dậu (13-7-1885) (17);

 

3. Dụ hoàng tộc (Dụ những người trong họ), 07-6 Ất dậu (18-7-1885)  (17);

 

4. Bản kết án Nguyễn Văn Tường do De Champeaux cáo thị, 27-7 Ất dậu (05-9-1885)  (18 );

 

5. Bản kết án chung thẩm 4 người chủ chốt nhóm chủ chiến, trong đó Nguyễn Văn Tường đứng đầu danh sách (khoảng từ 12 đến 14-8 Ất dậu, tức 20 đến 22-9-1885) (19);

 

6. Cáo thị của ngụy triều Đồng Khánh (do hai khâm sai Phan Liêm, Phạm Phú Lâm hợp soạn, Đồng Khánh tự sửa định), niêm yết khắp các tỉnh từ Quảng Nam trở vào, tháng 02 Bính tuất (06-3 – 03-4-1886) (20):

 

“… Nay Lê Thuyết [Tôn Thất Thuyết – TXA. ct.], trốn tránh ở rừng gập ghềnh, một thân tuy nhỏ, mà coi đất trời như còn hẹp; Nguyễn Văn Tường thì đã bị đi đày; tức là trời trừ kẻ tật ác (21); huống chi tai ách 10 đời, [mà Quang Vũ trung hưng – VSH. ct.]; con của Tấn công có 9 người, [mà còn được Trùng Nhĩ – VSH. ct.]; xem ý trời cũng có thể biết. Trẫm cùng bọn ngươi, phải nên hết sức lo toan khôi phục lại, để lại thấy được cảnh tượng thái bình như xưa. Không ngờ bọn ngươi [tức là các sĩ phu, nhân dân – TXA. ct.] theo ý làm liều, hoặc bức đuổi quan tỉnh, hoặc đốt phá phủ, huyện, kháng cự mệnh lệnh Triều đình, cam tâm hết lòng trung với kẻ thù [tức là Hàm Nghi, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, nhưng theo mạch văn, thì chỉ nhắm đến hai phụ chính – TXA. ct.], từ Hải Vân trở vào nam, không chỗ nào là không loạn [khởi nghĩa – TXA. ct.], rất đáng quái lạ; sao không xem châu Hoan, châu Diễn, Quảng Bình, Quảng Trị (*), mượn tiếng là xướng nghĩa, cần vương, đều đem thân bón cho đồng cỏ, mười nhà thì chín nhà hết sạch; còn những kẻ lọt lưới, thì bị mưa độc, khí núi, liền hóa làm giống sâu ở cát, tức như tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn là thủ xướng, phải giải quân trốn xa, thám hoa Nguyễn Đức Đạt phải đến tỉnh đầu thú; đã thấy được đại khái …”.

 

Những dòng trích dẫn này chứng tỏ lòng trung thành của sĩ dân tả kì, hữu kì đối với Nguyễn Văn Tường còn đậm nét, mặc dù ông đã bị giặc Pháp lưu đày vào Gia Định, ra Côn Đảo và sang hòn đảo Tahiti xa xôi, cô quạnh giữa biển lớn, gần Trung – Nam Mỹ, và điều đó cũng đã chứng minh “Chiếu Cần vương – Gosselin – 19-9-1885”, “Chiếu Cần vương – D’Argenlieu – 03-7-1889” chỉ sản phẩm bịa tạo của Pháp, cố đạo thực dân và bọn phỉ.

 

 

Trần Xuân An

Quảng bá trước đề tài & ảnh chụp văn bản tư liệu trên WebTgTXA. & qua Gmail,

vào lúc 06 : 30, ngày 18-6 HB8 (2008 );

Bắt đầu viết từ lúc 13 : 30 đến 17 : 10’, ngày 18-6 HB8 (2008 ): Phần I;

Từ 6 : đến 8 : 46’, ngày 19-6 HB8 (2008 ): Phần II.

Từ 5 : đến 6 : 07’, 20-6 HB8: Bổ sung.

15:, 22-6 HB8: Bổ sung.

7 :, 23-6 HB8: Bổ sung.

 

(1) “Đại Nam thực lục chính biên” (ĐNTL.CB.), tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 221.

 

(2) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 225.

 

(3) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 241.

 

(4) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 244.

 

(5) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 243.

 

(6) ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 67: Chú thích của Viện Sử học.

 

(7) Quân bản đạo: đội quân do chính Lê Ninh chỉ huy; hoặc, dân binh thuộc đạo Hà Tĩnh (Hà Tĩnh là một tỉnh nhỏ, được gọi là đạo Hà Tĩnh).

 

(8 ) ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 41-42.

 

(9) ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 69-72.

 

(10) ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 75-76.

 

(11) Xem chú thích (8  ).

 

(12) Từ điển Hán – Việt trực tuyến: http: // annonymous. online.fr/ HVDic/ onldic.php và các từ điển Hán – Việt in giấy khác (Thiều Chửu, Đào Duy Anh…).

 

(13) Họ Lê (Trung Lễ, Hà Tĩnh), “Hà Tĩnh Ất dậu ký”, tư liệu do cháu chắt của họ Lê, Trung Lễ, Đức Thọ, Hà Tĩnh tự ghi chép bằng chữ quốc ngữ ABC (latin), GS. TS. Nguyễn Phan Quang sưu tầm (do ông Trác Viên cung cấp), in trong cuốn sách: Nhiều tác giả, GS. Đinh Xuân Lâm & PGS. TS. Chương Thâu chủ biên, “Phan Đình Phùng, cuộc đời và sự nghiệp” (PĐP.CĐ. & SN.), Nxb. Nghệ An, 2007, 387-388.

 

(14) Hầu hết các tư liệu tôi đọc được đều ghi nhận Lê Ninh (1857-1887) cùng các nghĩa binh của ông hưởng ứng cần vương sớm nhất tại Hà Tĩnh – Nghệ An, ngay sau khi vua Hàm Nghi ban bố Chiếu Cần vương (23-5-1885, Văn Xá) và Dụ Cần vương (13-7-1885, Tân Sở), chứ không đợi đến khi vua Hàm Nghi đã ra đến Quảng Bình, tháng 7 Ất dậu (10-8 – 09-9-1885), Hà Tĩnh, đầu tháng 9 Ất dậu (08-10 – 06-11-1885). Tuy nhiên, ngày đánh chiếm thành Hà Tĩnh, có một số nhà nghiên cứu có lẽ ảnh hưởng bởi “Hà Tĩnh Ất dậu ký” (chú thích (13)), hoặc nhầm âm lịch với dương lịch, nên ghi muộn mất khoảng một tháng (!). Vui lòng xem 2 trang ĐNTL.CB., tập 37, mục tháng 8 Ất dậu, đã được chụp lại (hình minh hoạ ở phần I) ở dạng phóng lớn, rõ nét chữ, theo đường dẫn nối kết (link) trên trang:

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/baimoi-sachmoi-tinmoi-15

 

(15) Dương Kinh Quốc, Việt Nam, những sự kiện lịch sử (1858-1945)”, tập I (1858-1896), Nxb.KHXH., 1981, tr. 261. Xem ảnh phóng lớn theo đường dẫn nối kết (link) ở chú thích (14).

 

(16) Xem: Trần Xuân An, “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi (05-7-188)”, đã xuất bản, trong sách in giấy, sách điện tử của tác giả, và trong cuốn “Nguyễn Văn Tường (1824-1886), cuộc đời và lời giải”, nhiều tác giả, PGS. TS. Đỗ Bang chủ biên, Nxb. Thuận Hoá, 2007:

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/nguyen_vtnntntxtkhduoc_b1.htm

 

(17) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 225-228.

 

(18 ) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 247.

 

(19) ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 35. Theo sđd., ngày đinh sửu, tháng ất dậu, năm Ất dậu (11-8 Ất dậu, nhằm ngày 19-9-1885), Đồng Khánh ban chiếu lên ngôi; ngày tân tị, tháng ất dậu, năm Ất dậu (15-8 Ất dậu, nhằm ngày 23-9-1885), Đồng Khánh bái yết các miếu của triều Nguyễn; giữa hai ngày đó, bản án chung thẩm về 4 vị chủ chốt thuộc nhóm chủ chiến được xét xử và tuyên án.

 

(20) ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 138 – 139.

 

(21) Vua Hàm Nghi đi theo Thuyết còn phụ chính Tường ở lại, vẫn giữ nguyên chức tước, và sau một thời gian trá hàng, lại tiếp tục có những hành động đối kháng. Chính theo lệnh của y mà khoảng ba chục ngàn (30.000) giáo dân đã bị hại chỉ trong vòng hai tháng và hơn một ngàn (1.000) người [Pháp…] khác cũng chịu chung số phận do các quan lại thi hành mệnh lệnh trên…”  (Dẫn theo tư liệu Hội Truyền giáo Bắc Kỳ (chủ yếu do giám mục Puginier viết, báo cáo mật) trong: Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường, bài “Cuộc kháng chiến chống Pháp tiếp tục của nhà nước phong kiến Việt Nam những năm 80 thế kỉ XIX”, tham luận của GS. Nguyễn Văn Kiệm, Kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996, tr. 11, 14).

 

 

TXA.

16 : 40’ & 19 : 33’, ngày 19-6 HB8 (2008 )

5 : – 6 : 07’, 20-6 HB8.

 

 

  

Đây là bản hoàn tất (19-6 HB8 ) đã được 3 lần bổ sung thêm (20 & 22 & 23-6 HB8 ), mỗi lần bổ sung khoảng dăm bảy dòng chữ, và đều đã được đưa lên WebTgTXA….

Bản 23-6 HB8 này thay thế 3 bản 19-6 HB8 & 20-6 HB8 & 22-8 HB8.

 

BÀI VIẾT NÀY & BÀI “VỀ CÁI ĐƯỢC GỌI LÀ ‘CHIẾU CẦN VƯƠNG – D’ARGENLIEU – 1889’” (15-6 HB8 [2008 ]) ĐÃ ĐƯỢC GỬI ĐẾN TẠP CHÍ XƯA & NAY, 23-6 HB8 (2008 )

ĐỂ ĐƯỢC ĐĂNG TẢI.

 

 

 

Ngày 27-7 Ất dậu (05-9-1885), Nguyễn Văn Tường bị giặc Pháp bắt; bản kết án lưu đày Nguyễn Văn Tường do De Champeaux cáo thị.

 

Ngày đinh sửu, tháng ất dậu, năm Ất dậu (11-8 Ất dậu, nhằm ngày 19-9-1885), Đồng Khánh ban chiếu lên ngôi; ngày tân tị, tháng ất dậu, năm Ất dậu (15-8 Ất dậu, nhằm ngày 23-9-1885), Đồng Khánh bái yết các miếu của triều Nguyễn; giữa hai ngày đó (12-8 Ất dậu [20-9-1885] — 14-8 Ất dậu [23-9-1885], nhằm dịp Rằm Trung Thu), bản án chung thẩm về 4 vị chủ chốt thuộc nhóm chủ chiến được xét xử và tuyên án, trong đó Nguyễn Văn Tường đứng đầu danh sách.

 

Ngày 11-8 Ất dậu, nhằm ngày 19-9-1885 là ngày được ghi trên cái được gọi là “Chiếu Cần vương – Gosselin – 19-9-1885”.

 

Tháng 02 Bính tuất (06-3 – 03-4-1886), Cáo thị của ngụy triều Đồng Khánh (do hai khâm sai Phan Liêm, Phạm Phú Lâm hợp soạn, Đồng Khánh tự sửa định), niêm yết khắp các tỉnh từ Quảng Nam trở vào. Qua đó, thấy được lòng trung thành của sĩ dân tả kì, hữu kì đối với Nguyễn Văn Tường còn đậm nét, mặc dù ông đã bị giặc Pháp lưu đày vào Gia Định, ra Côn Đảo và sang hòn đảo Tahiti. 

 

Ngày 06-6 Kỉ sửu (03-7-1889) là ngày ghi trên cái được gọi là “Chiếu Cần vương – D’Argenlieu – 03-7-1889.

 

Chưa kể các dữ kiện khác đã được nêu ra trong 2 bài viết của Trần Xuân An và các dữ kiện của các nhà nghiên cứu khác trên 2 trang “Thông báo cập nhật” 6 & 7 (WebTgTXA.) , mà chỉ chừng đó, cũng đủ để suy ra:

 

“Chiếu Cần vương – Gosselin – 19-9-1885, “Chiếu Cần vương – D’Argenlieu – 03-7-1889 chỉ sản phẩm bịa tạo của Pháp, cố đạo thực dân và bọn phỉ.

 

 

XIN QUÝ NGƯỜI ĐỌC MẠNG LIÊN THÔNG TOÀN CẦU LƯU Ý GIÚP:

TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG CỦA MÌNH 

 

Đăng trong Ban them ve Cao, Du, Chieu Can vuong | 2 phản hồi »

Nội gián Thiên Chúa giáo & Kinh đô quật khởi, thất thủ

Đăng bởi txawriter on Tháng Sáu 12, 2008

hidden hit counter

Có hay không nội gián Thiên Chúa giáo trong cuộc Kinh đô quật khởi, thất thủ (057-7-1885)?

TRẢ LỜI NHÀ GIÁO NGÔ VƯU

Tu: Tran Xuan An
Gui den: Ngo Vuu, Pham Ba Thinh, Vo Van Tam, Nguyen Vo Nguyen, Ton That Dung, Le Phuoc Sinh, Le Thi Bac Nha, Nguyen Thi Thu Nguyet (Hue), Nguyen Chien

12-06-2008 08:05; qua gmail.com

Phần chính thư của nhà giáo Ngô Vưu gửi Trần Xuân An, 11-06-2008:

Vừa rồi ra làm đề thi ở Hà Nội có quen anh Khổng Thành Ngọc, giáo viên trường Lê Qúi Đôn. Anh ấy có đọc bộ Nguyễn Văn Tường của bạn (sách do chú của An tặng anh Ngọc thì phải). Tổng quan, anh Ngọc khen bạn có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu về một giai đoạn lịch sử, làm sáng tỏ được nhiều vấn đề mà các sử gia đương đại không làm được. Có điều anh chưa tin vào việc làm nội gián của những con chiên xóm đạo…trong biến cố 23/5.

Trần Xuân An trả lời nhà giáo Ngô Vưu, 12-06 HB8, 7 : 03:

Trước hết, xin thành thật cảm ơn hai nhà giáo, Khổng Thành Ngọc (PTTH. Lê Quý Đôn, TP.HCM.) và Ngô Vưu (PTTH. chuyên Quốc Học, Huế), về lời nhận định và khen ngợi, kèm theo một thắc mắc có tính chất “nêu vấn đề”.

Xin thưa, sự thật là không thấy có sử liệu nào ghi nhận vào đêm 22 rạng ngày 23 (từ khoảng gần 01 giờ khuya) đến khoảng 8 giờ sáng sáng 23-5 Ất dậu ấy (04 — 05-7-1885), trong cuộc giao chiến giữa quan quân triều đình Huế và quân Pháp ở Toà Khâm (nay là địa điểm toạ lạc ĐHSP. Huế), Trấn Bình đài (Mang Cá, trong Thành Nội, Huế) và sau đó, cả hoàng thành, là có vai trò nội gián của Thiên Chúa giáo. Nếu kể cả tư liệu đề cập gián tiếp, thì chỉ có một đoạn trong bài viết “Phái bộ đầu tiên đến Huế” của linh mục Delvaux ghi nhận có sự do thám của Pháp trong những ngày trước ngày lịch sử ấy (kết quả do thám chưa hẳn đúng, rất có thể sai, nhưng quả thật chúng có do thám).

Tuy nhiên, chúng ta đều biết giám mục Caspar (Huế), Van Camelbeck (Bình Định), Puginier (Hà Nội) và hầu như toàn thể linh mục, giáo dân (không vơ đũa cả nắm) đều muốn lật đổ triều Nguyễn hoặc chí ít cũng biến triều Nguyễn trở thành bù nhìn, rồi từng bước trở thành triều đại chịu cải đạo sang Thiên Chúa giáo. Nhưng Pháp và Thiên Chúa giáo đã rút kinh nghiệm từ vụ Francis Garnier đánh chiếm Hà Nội từ hồi 1873-1874 (hồi ấy, giáo dân loại tay sai công khai cầm súng cho Pháp, nên sau khi Pháp rút quân, chúng bị lộ mặt gần hết, và bị tiêu diệt cũng gần hết, ngoại trừ một số được đưa vào Nam Kỳ); vì thế, từ 1874 về sau, Thiên Chúa giáo chỉ hoạt động ngầm, ủng hộ ngầm. Còn nội gián, ở triều đình Huế, chắn hẳn là không thể. Các giáo sĩ, thông ngôn (gọi là “hành nhân”) cũng ở bên ngoài Kinh thành. Xin phân biệt “hoạt động ngầm, ủng hộ ngầm” (ở trong làng, trong phố, trong giáo xứ) và “nội gián” (cài người vào quan quân triều Nguyễn).

Gút lại, cụ thể, ở Huế, trong cuộc Kinh đô quật khởi và bị thất thủ, giám mục, linh mục, giáo dân ủng hộ ngầm là khả năng có thật. Và chỉ thế mà thôi.

Mở rộng thêm một chút:

Tại sao có thể khẳng quyết về khả năng hoạt động ngầm, ủng hộ ngầm ấy? Bởi lẽ, sau thời điểm Pháp đã đánh chiếm được kinh thành Huế, trong khoảng một thời gian ngắn kể từ 23/5 Ất dậu (05-7-1885), khi đã nắm chắc “thắng lợi hoàn toàn” (kinh đô đã thất thủ), khắp cả nước, giám mục, linh mục và hầu hết giáo dân Thiên Chúa giáo đều dần dần ra mặt, cướp phá các công sở, thành trại, phá dỡ đình chùa. Vì thế, phong trào “sát tả đạo” bùng lên dữ dội hơn bao giờ hết. Có ít ra là 2 bản dụ của Từ Dũ về vấn đề này (Nguyễn Nhược thị Bích viết thay [*], vượt khỏi sự kiểm soát của De Courcy, De Champeaux, mặc dù De Champeaux vốn đã khá giỏi chữ Hán, lại có sự cộng tác có tính tay sai, về mặt chữ nghĩa này, của Nguyễn Hoằng, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Hữu Cư). Hai bản dụ ấy lên án giáo dân ở Tả kì (từ Quảng Nam trở vào) và khắp cả nước, được ghi lại trong “Đại Nam thực lục”, kỉ V (Kiến Phúc – Hàm Nghi), chứng thực sự thể đó. Có người khẳng định 2 bản dụ vượt khỏi sự kiểm soát của Pháp ấy mới thực sự mang rõ tư tưởng chỉ đạo của Nguyễn Văn Tường; và cũng do 2 bản dụ ấy, Nguyễn Văn Tường bị Puginier, Van Camelbeck lên án gay gắt, cuối cùng De Courcy lưu đày ông.

WebTgTXA.
________________

[*] Trích tiểu sử Nguyễn Nhược thị Bích: “… Năm 36, Dực Tôn Anh hoàng đế lên chầu trời, vâng ý chỉ 2 cung, sắc dụ đều cho tay thị ấy làm. Năm Hàm Nghi thứ nhất, tháng 5, kinh thành có việc, đi theo 2 cung đi Quảng Trị có bài hát quốc âm Xe vua vào đất Thục [Đường Minh Hoàng tránh loạn đi vào Thục – VSH. chú thích]. Ngày 2 xe cùng về, các sắc phụng chiếu thư, cầm bút viết xong ngay, việc gì cũng xứng chỉ. Năm Thành Thái thứ 4, kính vâng từ chỉ, nghĩ công khó nhọc, tấn phong tam giai Lễ tần. Năm Duy Tân thứ 3, tháng 11, thị chết, thọ 80 tuổi” (Đại Nam liệt truyện, tập 3, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tr. 78). TXA.

Và, http://tranxuanan.writer.3.googlepages.com/vecaiduocgoila-chieucanvuong-d-argen.htm:
“Còn ở kinh đô, sau 05-7-1885, tất cả đều do De Champeaux (khá giỏi chữ Hán, lại nắm giữ chức thượng thư Bộ Binh, đại thần thứ nhất Cơ mật viện) và các đệ tử của thực dân như Nguyễn Hoằng, Nguyễn Hữu Cư, Nguyễn Hữu Bài (đều được huấn luyện tại Pénang), rồi Nguyễn Hữu Độ, làm tất. Nguyễn Văn Tường phải đấu tranh rất vất vả với chúng để có thể giành được ít chủ quyền, cụ thể là vài ý tưởng trong các văn bản Từ Dũ ban ra”.

Xem thêm: Bài có đề cập đến vấn đề này:
“NVT. VỚI NHIỆM VỤ LỊCH SỬ SAU 05-7-1885″

Đăng trong Nội gián Thiên Chúa giáo - Kinh đô thất thủ | Tagged: | Leave a Comment »